III. Tóm kết

20/04/201113:17(Xem: 14563)
III. Tóm kết

Một Sức Sống Chân Thật Giữa Thế Gian
THIỀN TÔNG ĐỐN NGỘ
Thích Thông Phương
Hội Thiền Học Việt Nam PL. 2547 - DL. 2003

Ý CHỈ GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN


TÓM KẾT

Thiền sống hay Phật pháp sống là ở ngay nơi người, trong tự tâm người, luôn luôn sẵn sàng sáng ngời đây, còn phải đợi truyền cái gì nữa? Nói “truyền riêng ngoài giáo” tức ngầm chỉ “Phật pháp chân thật” vốn không nằm nơi những giáo lý bên ngoài. Tất cả những gì vay mượn hãy trả về cho vay mượn, mọi thứ trả về cho mọi thứ, ngay đây thấy biết đúng như thấy biết, nguyên vẹn như nó là nó, không thêm bớt chút gì trong đó xem! Còn ai dối gạt được mình nữa?

Đây nhắc lại đoạn nhân duyên Thiền sư Chân Tịnh ở trong thất hỏi vị tăng:

- Xong hay chưa?

Tăng thưa:

- Chưa xong.

Sư hỏi:

- Ông ăn cháo xong chưa?

Ông thưa:

- Đã ăn xong.

Sư bảo:

- Sao nói chưa xong?

Sư lại hỏi:

- Tiếng gì ở ngoài cửa?

Tăng thưa:

- Tiếng mưa rơi.

Sư bảo:

- Sao nói chưa xong.

Sư hỏi tiếp:

- Trước mặt là cái gì?

Tăng thưa:

- Cái bình phong.

Sư bảo:

- Sao nói chưa xong?

Sư lại hỏi:

- Lãnh hội chăng?

Tăng thưa:

- Chẳng lãnh hội.

Sư bảo hãy nghe bài tụng này.

Theo duyên mọi việc xong

Hằng ngày dùng đâu thiếu

Tất cả chỉ tầm thường

Tự nhiên hết điên đảo.

Tùy duyên ngay chỗ ứng dụng bình thường hằng ngày, thấy nghe vốn đầy đủ tất cả, còn tìm cái gì khác nữa. Cái này đâu thể tìm trong ngữ lục, sách vở, ngữ lục, kinh điển mà có? Hỏi ăn cháo xong chưa? Đáp ăn xong. Hỏi ngoài cửa là tiếng gì? Đáp tiếng mưa rơi. Hỏi trước mặt là gì? Đáp cái bình phong. Mỗi mỗi trả lời rành rõ đó, sao còn chưa tỉnh? Truyền riêng ngoài kinh giáo chính ở đây. Song tối kỵ khởi tâm động niệm. Vừa khởi tâm động niệm liền khuất ngay.

Nói thẳng, thiền là tâm chứng: Phải chứng nghiệm nơi tâm, không thể tìm kiếm từ bên ngoài, không thể chết trên cái khuôn của ngôn ngữ văn tự, không đạp trên dấu vết của người hay theo lối mòn cũ rích, mà phải tự mở một con đường sống. Nghĩa là phải tự sống dậy, vươn lên, tự mở trí vô sư vốn có nơi mình, từ đó ứng dụng ra mới luôn luôn mới mẻ, có sức sống linh diệu, không ở trong một cái khuôn chết nào.

Kính Sơn có 500 chúng mà ít người thưa hỏi. Hoàng Bá sai Nghĩa Huyền đến đó và bảo:

- Ông đến đó sẽ làm thế nào?

Nghĩa Huyền thưa:

- Con đến đó sẽ tự có phương tiện.

Sư đến Kính Sơn tự mang hành lý lên pháp đường gặp Kính Sơn. Kính Sơn vừa ngẩng đầu lên Sư liền hét. Kính Sơn toan mở miệng, Sư phẩy tay áo bỏ đi.

Có vị tăng hỏi Kính Sơn:

- Vị tăng vừa rồi có ý nghĩa gì mà hét Hòa thượng?

Kinh Sơn bảo:

- Vị tăng ấy từ trong hội Hoàng Bá đến, ông cần biết chăng? Hãy đi hỏi y!

Sau đó 500 chúng ở Kính Sơn, hơn phân nửa giải tán. Bởi chính Nghĩa Huyền đã có sức sống chân thật rồi nên tự mình có chỗ tin tưởng, đến đó sẽ tùy duyên ứng dụng, không có cái khuôn sắp đặt sẵn. Kính Sơn vừa ngẩng đầu lên, Sư liền hét vì đã thấy trước ngôn ngữ , không đợi nói ra đã sớm biết rồi. Đúng như hai câu kệ của Thiền sư Quảng Nghiêm:

Làm trai có chí xông trời thẳm

Thôi giẫm Như Lai dấu đã đi.

Mình phải có một sức sống vươn lên,vượt khỏi khuôn khổ tầm thường của thế gian, tự mở một lối đi sáng ngời cho mình, không đạp theo dấu vết chết của Như Lai. Cho nên thiền có một sức sống sáng tạo kỳ diệu không thể nghĩ bàn, chỉ người chứng nghiệm mới cảm nhận được rõ. Đó cũng chính là sự thức tỉnh cho người tu Phật chúng ta: Phải có một sức sống chân thật, vượt ra khuôn khổ chết của ngôn ngữ văn tự sắp đặt sẵn.

Bởi Phật giáo Trung Hoa đến thời Tổ Bồ Đề Đạt Ma thì người học Phật phần nhiều đắm mắc trên giáo nghĩa chết, không thấy được Phật pháp sống, nên Tổ đến Trung Hoa nêu cao lá cờ “giáo ngoại” để đánh thức cho người tỉnh dậy, mở một cái nhìn sáng ngời, vượt qua những hình thức giáo nghĩa, thấy lại mặt thật xưa nay của chính mình, thật không thể nghĩ bàn! Bài kệ của Thiền sư Bạch Ẩn tóm tắt ý này:

Trong hang Tất bát la
Chưa kết tập kinh này
Đồng Thọ không lời dịch
A Nan đâu được nghe
Gió bắc qua song cửa
Nhạn nam tuyết rơi đầy
Trăng núi dáng như gầy
Mây lạnh dường mưa rây
Ngàn Phật dù xuất thế
Không thêm bớt một lời.

(Hân Mẫn dịch)

Gió bắc, nhạn nam, trăng núi, mây lạnh, cả một sự lạnh lẽo cô đơn, bặt mọi ý duyên, không có dấu vết cho ngôn ngữ tìm đến. Xin để dành lại nguyên vẹn bộ kinh tinh nguyên này cho người tự mở ra xem vậy!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2014(Xem: 28869)
Bản dịch tiếng Việt Ba Trụ Thiền do chúng tôi thực hiện lần đầu tiên vào năm 1985 tại Sài gòn, Việt nam, và được nhà xuất bản Thanh Văn ấn hành lần đầu tiên vào năm 1991 tại California, Hoa kỳ đã được nhiều độc giả tiếng Việt hâm mộ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả quí độc giả và hành giả tu tập thiền nhiệt tình, và nhà xuất bản Thanh Văn.
03/10/2013(Xem: 14906)
Qua đề tài: “Sự tương quan giữa các pháp môn hành trì Thiền – Tịnh – Luật của người tu tập” mà chiều hôm nay sau hai tiếng đồng hồ với 11 ý kiến phát biểu, chia sẻ và cùng nhau thảo luận, chúng tôi hết sức hoan hỷ và trân trọng tinh thần tham gia đóng góp ý kiến của Đại chúng. Qua đó chúng tôi xin rút gọn lại và có mấy ý kiến đóng góp them để cùng nhau chia sẻ với Đại chúng như sau:
11/05/2013(Xem: 11333)
“Zen” là lối phát âm của Nhật Bản của danh từ Ch’an của Trung Hoa, mà từ này lại là lối phát âm theo từ Dhyana của Phạn ngữ có nghĩa là “thiền.” Điểm đặc biệt của công phu tu tập đạt đến giác ngộ của Đức Phật là quán chiếu nội tậm. Vì lý do nầy mà nhiều người tin rằng rằng họ thiền quán để thành Phật. Vâng, họ đúng. Mục tiêu cuối cùng của bất cứ người con Phật nào cũng là thành Phật; tuy nhiên, thiền tự nó không làm cho bất cứ chúng sanh nào thành Phật.
23/04/2013(Xem: 15857)
Trong thời đại của chúng ta hôm nay, thiền không phải chỉ là pháp môn tu tập để kiến tánh thành Phật, vốn được xem như là sắc thái đặc thù của chốn sơn môn, mà đã và đang trở thành những phương thức trị liệu đầy kiến hiệu trong các ngành tâm lý và xã hội. Ở cả Đông và Tây phương, con người càng ngày càng trực nhận ra được khả tính ưu việt và độc đáo của thiền trong việc giải thoát những khổ luỵ, những ưu phiền của đời sống cá nhân và xã hội.
23/04/2013(Xem: 7854)
Sách này được thực hiện để trước là báo tứ trọng ân, sau là giúp người sơ học. Bên cạnh các sách Thiền bằng Việt ngữ do các thiền phái sọan, dịch và xuất bản ở VN tương đối đã nhiều và đầy đủ, tuyển tập này hy vọng sẽ trình bày thêm một số thông tin khác, được nhìn từ nhiều hứơng khác nhau. Ba truyền thống chính trình bày trong sách này chỉ là vì tiện lợi. Mỗi bài đều tự hòan tất, và độc giả có thể đọc thẳng từ bất kỳ bài nào, không cần thứ tự.
23/04/2013(Xem: 12231)
Người ta không thể diễn tả vẻ tráng lệ của hoàng hôn cho một người mù bẩm sinh. Cũng thế, bậc thánh không thể mô tả trí tuệ thân chứng cho phàm phu tục tử. Nếu Ðạo nằm trong giáo lý, thì bất cứ ai cũng thành thánh được, sau khi đọc Chí Tôn Ca hay Ba Tạng Kinh điển. Nhưng sự thực là, người ta có thể suốt đời nghiên cứu kinh điển mà không minh triết hơn chút nào.
23/04/2013(Xem: 10551)
Ðây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Con đường đạo của Ðức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm.
22/04/2013(Xem: 13513)
Ngày nay việc thực hành Thiền Quán đã được phổ biến rộng rãi khắp thế giới, tuy nhiên, để đạt được sự thành công như hiện nay, pháp hành này đã trải qua nhiều biến đổi tế nhị. Thay vì được giảng dạy như một phần chính yếu của con đường tu tập Phật giáo, bây giờ pháp hành này thường được trình bày như một môn học thế gian mà những kết quả đạt được thuộc về đời sống trong thế giới này hơn là sự giải thoát siêu thế gian.
22/04/2013(Xem: 10226)
Vào mùa Xuân năm 1992, chiếc máy Fax trong văn phòng của giáo sư Richard Davidson ở khoa Tâm lý học thuộc Viện Đại học Wisconsin bất ngờ in ra một bức thư của Tenzin Gyatso, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng. Giáo sư Davidson là một nhà thần kinh học được đào tạo từ Viện Đại học Harvard, ông đã nổi danh nhờ công trình nghiên cứu về các tình cảm tích cực, và tin đồn về những thành tựu khoa học của ông đã lan truyền đến miền Bắc Ấn Độ.
22/04/2013(Xem: 12313)
Tại các quốc gia Âu Mỹ, pháp thiền trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy thường được hiểu như là pháp thiền minh sát, cho đến nổi có nhiều người thực hành trong truyền thống này xem mình như là các thiền giả minh sát. Tuy nhiên, các bản kinh Pali -- tài liệu cổ xưa ghi lại các bài giảng của Đức Phật, không xem thiền minh sát như là một hệ thống tu thiền độc lập nhưng là một thành tố của một cặp kỷ năng hành thiền gọi là Samatha và Vipassanà, An Chỉ và Minh Quán -- hay Chỉ và Quán.