Chú Thích

12/01/201104:53(Xem: 5225)
Chú Thích


CON ĐƯỜNG CĂN BẢN ĐẾN GIÁC NGỘ

Bản Văn Bảy Điểm Tu Tâm của phái Kadam
Nguyên tác: Training the Mind and Cultivating Loving-Kindness by Chošgyam Trungpa
Nhà xuất bản Shambhala, 1993
Việt dịch: Trùng Hưng - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2001
none
none
 
CHÚ THÍCH
LỜI NÓI ĐẦU CỦA NHÀ BIÊN TẬP

1. Dòng Kadam, sáng lập bởi Dromtošnpa, đệ tử chánh của Atisha, đặt sự nhấn mạnh lớn lao vào đời sống tu viện, sự trau dồi Bồ đề tâm và lòng bi, và tu tâm. Sự nhấn mạnh này được đưa vào dòng phái Kagyuš bởi Gampopa, ngài đã học hỏi với những vị thầy Kadam trước khi học với Milarepa.
2. Những bàn luận nhiều hơn về nguồn gốc và lịch sử của những giáo lý này, hãy xem Geshe Kelsang Gyatso, Lòng Bi Khắp Vũ Trụ ; Jamgošn Kongtrušl, Con Đường Vĩ Đại của Thức Tỉnh ; Geshe Rapten và Geshe Ngawang Dhargyey, Lời Khuyên từ một Người Bạn Đạo.
3. Vidyadhara : “người nắm giữ sự quán thấy hay tánh giác”, “người nắm giữ trí huệ-điên”, một danh xưng tôn vinh được dành cho tác giả cuốn sách này, Chošgyam Trungpa.
4. Vajradhatu (Kim Cương giới) là một hiệp hội những trung tâm thiền định Phật giáo do Chošgyam Trungpa sáng lập.

NHẬP ĐỀ
1. Tiểu thừa, đại thừa và kim cương thừa ám chỉ đến ba giai đoạn của thực hành của một cá nhân theo Phật giáo Tây Tạng, không phải ám chỉ đến những học phái khác nhau của thực hành Phật giáo. Xem Thuật Ngữ.

ĐIỂM HAI
1. Từ không có, không phải (not) là một từ có điều kiện, vì nó thường được dùng kèm với một đối tượng – không cái này hay không cái kia. Từ không (no) là không có điều kiện : đơn giản, không !
2. Trong thực hành kim cương thừa, những học trò đồng hóa với những kiểu cách khác nhau của năng lực giác ngộ bằng cách quán tưởng chính họ là những hóa thần bổn tôn. Những quán tưởng này sanh khởi từ và tan biến trở lại vào tánh Không.
3. Dịch trọn vẹn những câu nói này là :
(1) Nguyện những hành vi xấu của họ chín thành quả trong tôi.
Nguyện tất cả mọi công đức của tôi không sót một cái gì chín thành quả trong họ.
(2) Tôi dâng tặng tất cả mọi cái lợi và được của tôi cho chúng sanh, những vị đáng tôn kính ; tôi sẽ nhận lấy nơi mình mọi cái mất mát và thất bại.
(3) Nguyện tất cả mọi hành vi xấu và khổ đau của chúng sanh chín thành quả trong tôi, và tất cả công đức và hạnh phúc của tôi chín thành quả trong chúng sanh.

ĐIỂM BA
1. Theo khuôn khổ truyền thống phạm trù hóa ba thân, là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân – Chošgyam Trungpa.
2. Uttrara là một bản văn quan trọng của đại thừa về Phật tánh được truyền bởi Bồ Tát Maitreya (Di Lặc) qua đại đạo sư Atisha, và là một trong năm kho tàng của ngài.
3. Kinh Kim Cương là một bản văn 300 dòng, trong tiếng Sanskrit là Vajrachedika Prajnapamita Sutra, hay “sự hoàn thiện của trí huệ cắt đứt như kim cương.” Nó là một kinh ngắn và rất nổi tiếng về trí huệ ba la mật trong văn học Phật giáo, những giáo lý đại thừa về tánh Không.
4. Dikpa nghĩa là : “những hành vi xấu”, hay những hành động dẫn người ta xa khỏi giác ngộ. Nó thường được dùng song đôi với dripa, hay “những che chướng”. Dripa được chia thành hai loại, hay màn che : những phiền não xung đột (phiền não chướng) và những niềm tin sơ khai về thực tại (sở tri chướng).
5. Truyền thống Bošn là tôn giáo bản địa, tiền Phật giáo của Tây Tạng.

ĐIỂM BỐN
1. Một câu truyền thống diễn tả cái thấy đại thừa rằng tất cả chúng sanh vào lúc nào đó đã là những bà mẹ của chúng ta và như thế phải được đối xử với tình thương và tôn trọng nhất.
2. Sự phụng sự bảy phần là một mô thức truyền thống đại thừa gồm bảy bước: lễ lạy, cúng dường, sám hối, tùy hỷ công đức của những người khác, thỉnh cầu các đạo sư giảng dạy, cầu xin đạo sư ở lại không nhập niết bàn, và hồi hướng công đức của sự thực hành của mình cho lợi lạc của tất cả chúng sanh.


 


 

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/12/2011(Xem: 13491)
Sở dĩ chúng ta mãi trôi lăn trong luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau là vì thân tâm luôn hướng ngoại tìm cầu đối tượng của lòng tham muốn. Được thì vui mừng, thích thú...
22/10/2011(Xem: 4984)
“Phản văn văn tự tánh” là “quay cái nghe nghe tự tánh”. Tự tánh là thực thể đang nghe đang thấy đang biết, đồng thời đang tự biết tự thấy…
22/10/2011(Xem: 5143)
Hành thiền, cốt tuỷ nhất, là tự tri, là quán tâm. Học Thiền, tức học đạo lí giác ngộ, cốt tuỷ nhất là nương ngôn từ để thấy biết trạng thái tâm trí.
20/10/2011(Xem: 5273)
Chúng tôi muốn trình bày vài điều để giớithiệu cách thực hành thiền. Như đa số mọi người, từ người phương Tây đến ngườiÁ châu, đều rất hâm mộ thiền định, bởi vì bị lôi cuốn bởi sự thực hành và đạtđược nhiều lợi lạc từ đó. Tuy nhiên, dù rất nhiều người áp dụng thiền trong đờisống, nhưng chỉ có một số ít là hiểu được sâu xa mục đích của thiền.
17/10/2011(Xem: 7458)
Chúng ta sống, quay cuồng trong cuộc đời, cuối đời còn muốn kéo dài tuổi thọ. Nhưng có khi nào chúng ta dừng lại , suy nghĩ, bình tỉnh lại để tự hỏi mình sống để làm gì ? Ý nghĩa cuộc đời là gì ?
13/10/2011(Xem: 8505)
Nhiều người nói thực hành thiền Chánh Niệm tốt cho não bộ, nhưng ai có thể chứng minh được điều này? Một vị sư Phật giáo, Thiền sư, Triết gia, và trước đây là một khoa học gia, Matthieu Ricard tham dự án nghiên cứu cho thực tập Thiền có ảnh hưởng tích cực cho não bộ. Ông tình nguyện làm một đối tượng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trong những cuộc nghiên cứu quan trọng về Thiền và Não Bộ và ít có người ở trong một vị thế đặc biệt như ông để mô tả cuộc gặp gỡ giữa khoa học và Thiền quán.
02/10/2011(Xem: 17485)
Hôm nay chúng tôi giảng về Sự tương quan giữa Bát-nhã và Thiền tông. Đề tài này hơi cao, quí vị chịu khó lắng nghe kỹ mới thấy giá trị của đạo Phật. CácThiền viện của chúng tôi trước khi sám hối phải tụng một biến Bát-nhã Tâm Kinh. Sau khi xả thiền cũng tụng một biến Bát-nhã Tâm Kinh. Nhiều người hỏi tại sao không tụng kinh khác mà lại tụng Bát-nhã Tâm Kinh. Bởi vì Bát-nhã Tâm Kinh là một bài kinh rất thiết yếu cho người tu Phật, chẳng những tu Thiền mà tu Tịnh, tu Mật đều quí cả.
02/10/2011(Xem: 8784)
Bạn thực hành các tư tưởng tích cực thật nhiều lần, và khi bạn có thể dần dần loại bỏ các tư tưởng tiêu cực thì điều này sẽ tạo ra các thực chứng.
13/09/2011(Xem: 10193)
Thiền - dù trải qua bao thế hệ thời đại theo thời gian và không gian, với quan niệm tu tập trong mọi tôn giáo có khác nhau - cũng chỉ là phương pháp thực hành để đến đích của đạo mình, nên gọi đồng tên thiền kèm theo đạo hoặc môn phái riêng và có nhiều tên đặt không giống nhau, ngay cả trong Phật giáo cũng có nhiều loại thiền. Tổ Sư Thiền có lẽ bắt đầu từ thời Trừng Quán (738-839), Tứ tổ Hoa nghiêm tông của Phật giáo Trung Hoa, sư Khuê Phong Mật Tông (780-842).
25/07/2011(Xem: 4734)
Người học về thiền này không nghỉ, không ngưng lại, luôn luôn quán sát hơi thở ra vào thì hộ trì được ba nghiệp thân, miệng, ý, gọi là giới học và định, tuệ.