Tán Quán Thế Âm Bồ Tát Tụng

8/26/202520:39(View: 2274)
Tán Quán Thế Âm Bồ Tát Tụng

bo tat quan am-2
TÁN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT TỤNG
Hán dịch: Đường Thiên Hậu đại, Sa môn Huệ Trí phụng - chế dịch
Việt dịch: Cư sĩ Nguyện Huy dịch sang Việt ngữ
Chứng Nghĩa: Hòa Thượng Thích Như Điển




_ Bồ Tát hiệu là Quán Thế Âm

Thần thông vô ngại, khó thể lường

Lay núi, cạn biển, chấn đại địa

Thương xót chúng sanh đồng một thể.

_ Ghi nhớ danh hiệu, phúc chẳng hư

Vì thế thường xưng danh hiệu Ngài

Nay con chí thành niệm Đức ấy

Lấy tâm cung kính xin tán thán.

_ Bồ Tát trí huệ sâu như biển

Phương tiện thiện quyền khó đo lường

Nếu có Chư Thiên, A Tu La

Ma Hầu La Già cùng nhân chúng.

_ Đều dùng vi diệu thanh tịnh kệ

Trải kiếp tán thán không mỏi mệt

Nay con tuyên thuyết tụng xưng dương

Thuật công đức nầy cùng ít nhiều

_ Hình sắc tôn nghiêm nơi thế gian

Chư Thiên khó sánh với Phạm Vương

Huống chi Thánh giả bổn sắc thân

Trăm ngàn vạn phần chẳng bằng một.

_ Tôn giả: Đầu nghiêm sức tinh đẹp

Đội mão Mạn Đà cùng Hoa vàng

Cầu vòng sắc nghiêm tịnh tuyệt mỹ

Lại như Bán nguyệt ánh Sơn vương.

_ Lại tựa trăm báu thành Tu Di

Tôn giả thân tướng thật vi diệu

Tựa như mưa nhẹ phủ núi báu

Y Ni Lộc sắc phủ đôi vai.

_ Ánh sáng rực rỡ chiếu mọi nơi

Cao vời thẳng ngay như núi vàng

Như là trăng tròn ở hư không

Lại tựa sắc hoa Chiêm-ba-ca.

_ Vượt hơn thân Ma Hê Thủ La

Chỉ dùng bạch long làm anh lạc

Tay phải giữ lấy hoa sen vàng

Báu Tỳ Lưu Ly làm cuống hoa.

_ Dùng từ nở rộ hương thơm khiết

Khiến cho Trí giả sanh hoan hỷ

Đóa sen tịnh, trong tay Tôn giả

Trang nghiêm thù diệu rất rực rỡ.

_ Như nguyệt quang rọi đỉnh Tu Di

Thánh thân trụ ở đài hoa sen

Nhờ vào phúc đức mà sanh ra

Con đem hết lòng dâng tha thiết.

_ Quy mạng kính lễ Đấng Tứ Nguyện

Chư Thiên cúng dường cùng tán thán

Nay con tâm tịnh quy mạng lễ.

_ Tôn giả: búi tóc màu đen tuyền

Diệu tướng Mâu Ni ngự trong ấy

Ánh sáng chiếu diệu trên đỉnh đầu

Như đốt San hô, lóe ánh điện

_ Lại như ánh vàng chiếu núi đen

Thân Đại Thánh trên dưới trang nghiêm

Mạo muội dùng văn xưng tán Ngài.

_ Bốn phía voi dữ ngà sắc bén

Như muốn hại người nào bị vướng

Người ấy chuyên tâm niệm Bồ Tát

Xa lìa khổ não, không lo sợ.

_ Rồng dữ gầm thét, phun khói độc

Tiếng thét giận dữ, sắc mặt hung

Sắp cắn xé người , rất khủng khiếp

Nhớ nghĩ Quán Âm, được giải thoát.

_ Tiếng sóng biển, gió, phát âm thanh

Ma Kiệt, cá lớn, đều chấn kích

Nếu người thuyền vỡ, rơi xuống nước

Niệm danh Quán Âm, được an ổn.

_ Núi cao, khe sâu, chốn nguy hiểm

Nước xiết, đá lăn, gây nguy nạn

Nếu người rơi xuống không ai cứu

Tâm niệm Quán Âm, được giải thoát.

_ Lửa dữ rừng rực, gió độc trổi

Cháy lan nhà cửa, đốt cả người

Chí tâm niệm Ngài công đức tạng

Trước thời tai họa không làm hại.

_ Nếu người giam cầm, trong tù ngục

Thân bị gông cùm, cùng xiềng xích

Chí tâm xưng niệm danh Quán Âm

Người ấy bỗng chốc được giải thoát.

_ Nếu người rơi vào hố lửa lớn

Một lòng xưng danh Quán Thế Âm

Người nầy trừ nóng, được thanh tịnh

Tựa như sen nở ở trong hồ.

_ Nếu người đi qua rừng rậm rạp

Bỗng gặp gió dữ, sét, gió ,mưa

Sét dữ sắp cháy, kề nguy hiểm

Xưng niệm Quán Âm, vượt hiểm nạn.

_ Nếu người gặp phải sư tử dữ

Nanh vuốt nhọn sắc như gươm dao

Trợn mắt, gầm thét, đến ăn thịt

Xưng niệm Quán Âm, được thoát nạn.

_ Ác tặc đột quyết, Di Lệ Xa

Hung hiểm, chẳng hiền, như La Sát

Lại lấy dây xích, trói buộc người

Xưng danh phát niệm, đều giải thoát.

_ Núi thẳm, đầm lớn, chốn hiểm nạn

Cướp giặc rình người, muốn chiếm đoạt

Xưng danh niệm lực, nguyện cứu hộ

Người nầy an nhiên, chẳng còn khổ.

_ Bị yểm bùa, nói xấu, kiện tụng

Luôn dùng ác tâm cầu phương tiện

Nhờ thường niệm danh hiệu Quán Âm

Người nầy rốt cuộc không tổn hại.

_ Chiến tranh, cờ trống, đối đầu nhau

Mũi gươm bay loạn, giết thê thảm

Lúc ấy, tâm niệm và xưng danh

Bồ Tát ban cho không sợ hãi.

_ Ác quỷ sức lớn thường bắt người

Như Cưu Bàn Trà uống tủy người

Người nào có thể niệm Quán Âm

Ủng hộ người nầy tiêu tai nạn.

_ Quỷ bệnh, nhiệt bệnh, bệnh trướng bụng

Bệnh cam, vàng da, bệnh đau tim

Bệnh hủi, bệnh cùi, bệnh hoắc loạn

Huyết khí suy kiệt, nhiều thứ bệnh

Các ác nghiệp tối quấn chặt thân

Xưng danh, nhớ nghĩ, tiêu trừ cả.

_ Có các ngạ quỷ bụng như núi

Môi miệng khô cháy, luôn đói khát

Bồ Tát thấy vậy, sanh từ bi

Lần lượt khiến họ được no đủ.

_ Ngạ quỷ hoặc gặp lạnh bức bách

Thân thể, da thịt đều nứt hại

Cất hai tay lên, sanh cực khổ

Thần thông phương tiện, khiến dễ chịu.

_ Nếu Kim Sí Điểu dùng mỏ vuốt

Bắt các loài rồng dưới nước, cạn

Rồng nầy chuyên tâm niệm Bồ Tát

Liền thoát đau khổ, được an lạc.

_ Nếu người muốn cầu quả báo tốt

Voi, ngựa, xe cộ cùng tôi tớ

Y phục, ăn uống, các châu báu

Nhờ vì thường niệm danh Quán Âm

Ứng lời cầu nguyện, tự nhiên đến.

_ Nếu muốn được đắc thuật trường sinh

Ngồi nằm giữa mây, dạo trên không

Do nhờ thường niệm danh Quán Âm

Sẽ được thần chú cùng thuốc tiên.

_ Ta thấy hình Quán Âm trên vách

Khắp các sắc tướng các công đức

Lại thấy thần thông đại tự tại

Khởi lòng chí thành mà tán thán

Có được tất cả các công đức

Trong chúng Bồ Tát, Ngài bậc nhất

Vô biên thiện xảo đại phương tiện

Thị hiện diệu sắc thân thanh tịnh

Xa lìa các phân biệt có – không

Lợi ích vô lượng như hư không

Dùng công đức tạng tán thán này

Nguyện chứng Như Lai Nhất Thiết Trí.

Dùng việc tán thán công đức của Quán Thế Âm Bồ Tát nầy làm thượng tư.

Trên cầu Quốc Chủ Thánh Thần Hoàng Đế bệ hạ, dưới khéo chuyển Kim Luân. Sắc lực thọ mạng không cùng tận, trí tuệ quả báo không thể nghĩ bàn, thường ngự Diêm phù, an trụ Chấn Đán (nước Trung Hoa), ủng hộ Tam Bảo, lợi ích quần sanh, tất cả hàm linh đều được Thánh phúc.


🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, số T20n1052, trang 0067 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address