Chỗ Không Dính Mắc

11/04/202607:20(Xem: 143)
Chỗ Không Dính Mắc


luc to hue nang

KHÔNG CHỖ DÍNH MẮC

 

Bài kệ trên vách tường phương trượng Huỳnh Mai khiến đồ chúng xôn xao. Ngũ tổ xem xong liền nói: “Cũng chưa thấy tánh” và lấy dép xóa ngay. Hành động và lời nói của ngài khiến chúng ta thấy ngũ tổ đang che giấu sự vui mừng vô hạn, hoan hỷ vô cùng. Ngài thấu hiểu lòng người, dù là trong đạo hay ngoài đời. Ngài sợ bài kệ kia sẽ sanh biến tâm loạn động nên mới vội xóa.

Buổi đầu gặp mặt, ngũ tổ đã nhận ra Huệ Năng là bậc pháp khí, tuy nhiên với nhân dáng và nhân thân như vậy thì chưa thể dùng ngay được. Ngũ tổ sai Huệ Năng xuống nhà trù giã gạo, bửa củi cũng là cách giữ an toàn cho Huệ Năng, thuật ngữ chính trị gọi là “Thao quang dưỡng hối”, có nghĩa là dùng ngay bóng tối để che bớt ánh sáng khi mà nhân duyên thời tiết chưa thuận lợi. Ngũ tổ dùng ngay thân phận của Huệ Năng để che mắt kẻ khác, giúp Huệ Năng tránh khỏi sự đố kỵ thậm chí có thể bị làm hại. Chế độ tòng lâm Trung Hoa kéo dài đã lâu, tạo nên một sự quan liêu, nặng hình tướng và danh văn lợi dưỡng. Người ở chùa không vì pháp mà tranh y đoạt bát, tranh ngôi vị, kết bè phai, tranh giành ảnh hưởng…Bởi vì vậy mà sau khi truyền y bát cho Huệ Năng, ngũ tổ bảo đến đây phải chấm dứt việc này.

Một lần ngũ tổ quở: “Các ông trọn ngày lo cầu phước điền, không cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu?”. Đây cũng là duyên do để xuất ra bài kệ kiến tánh nổi tiếng trong lịch sử thiền tông Đông Độ.

Bồ đề bổn vô thụ

Sao bảo cây bồ đề không có cây? Câu này khiến cho ta nhớ một vị thiền sư cũng đã từng nói: “Núi sông không phải là núi sông”, cả hai đồng một nghĩa. Bồ đề vốn không phải là cây, nó chỉ là duyên tụ của đất – nước – gió – lửa. Một khi duyên tan thì cây, lá, rễ sẽ về lại đất; nhựa sẽ về lại nước; gió lại hòa vào gió; lửa sẽ quyện vào ánh nắng. Khi duyên tan thì cây bồ đề ở đâu? Chỗ nào? Thế nhưng rõ ràng cây bồ đề sừng sững kia mà! Ấy là giả tướng, có đấy nhưng mà là không, không nhưng lại có. Cây bồ đề không phải không có và nó cũng không phải không không. Măc khác bồ đề là tánh giác, giác ngộ…Giác ngộ tìm đâu ra hình tướng? Giác ngộ cũng là duyên, có người vì nhân duyên nào đó mà hốt  nhiên giác ngộ. Ví như ngài A Nan, trong lúc băn khoăn vì không được tham dự kết tập kinh, tâm trí mãi suy tư, trong lúc vừa toan đặt lưng nằm xuống thì bừng lên giác ngộ. Giác ngộ là sự chuyển biến trong tâm. Tánh giác là biết rõ mọi sự tướng thế gian và xuất thế gian. Giác ngộ là biết rõ khổ, không, vô thường, vô ngã…trái với giác ngộ là mê, tuy nhiên giác và mê vốn không hai nhưng cũng chẳng là một. Người giác ngộ thì không tham – sân – si, người mê thì ngược lại. Giác hay mê cũng một niệm tâm, niệm tâm thì không có hình tướng, tuy không có hình tướng nhưng hiện ra ở hành động, nói năng, suy nghĩ. Mê hay giác cũng đều là duyên mà duyên vốn không. Vậy thì tìm đâu để thấy cây bồ đề?

Minh kính diệc phi đài

Kính là vật để soi, nhìn. Kính là ý nghĩa biểu trưng muốn nói sự phản ảnh của tâm. Sơn hà đại địa, vạn vật muôn loài, hình thể to nhỏ, dáng ngoài đẹp xấu cho đến trắng, đen, xanh, đỏ… như thế nào thì kính phản chiếu như thế ấy. Tâm người cũng thế, tâm mê hiện ra ảnh mê, tâm giác xuất ra dáng giác. Mê hay giác biểu hiện rõ qua lời nói, hành động, suy tư. Đôi khi có người cố tình làm màu, ngụy tạo, che đậy nhưng với người có biệt nhãn thì nhận ra ngay. Tâm người vốn vô hình, vô tướng vậy thì làm sao có đài gương? Tâm vốn là không nhưng không tâm lại không có người. Tâm là có nhưng rõ ràng là không, không có ai có thể nắm bắt hay miêu tả được hình dáng tâm. Tâm vốn là chân không nhưng rất diệu hữu, từ một tâm mà tạo tác ra đủ thứ. Bởi vậy mà nhà Phật mới nói: “Nhất thiết duy tâm tạo”, “Tâm chủ tể, tâm tạo tác”…Tâm là không thì làm gì có kiếng với đài, đài gương ở đâu? Cũng không ngoài một tâm. Đừng nói chi kiếng với đài, vạn vật cũng đều từ một tâm và rồi vận vật cũng đều là không thì nói chi đến đài gương.

Bổn lai vô nhất vật

Đến đây thì đạt đến cái không tuyệt đối, tánh không mà nhà Phật nói đến, muôn kinh vạn quyển ghi chép - giảng giải. Hư không vốn không hình không tướng, không trước không sau, không trên không dưới. Hư không không có đông – tây – nam – bắc nhưng hư không cũng không ngoài bốn phương ấy. Hư không không phải tứ duy hay trên – dưới – giữa nhưng hư không cũng không ngoài tứ duy và trên – dưới – giữa. Hư không không có một vật nhưng mọi vật cũng không ngoài hư không. Con người, vạn vật muôn loài, sơn hà vũ trụ… đều không ngoài hư không nhưng hư không vẫn cứ là không. Câu kệ nói cái không tuyệt đối, đã không có một vật gì để gọi là vật độc lập, tất cả đều là duyên. Mặc khác đã không có một vật gì thì làm gì có dơ – sạch, tăng – giảm, thiện – ác, mê – ngộ…đây là cảnh giới tuyệt đối, không còn ở thế giới nhị nguyên, đối đãi nữa. Người giã gạo, chẻ củi, gánh nước lại không biết chữ nên nhờ người viết giúp thế mà đạt tới cảnh giới này thì rõ ràng không phải hạng thường tình.

Hà xứ nhạ trần ai

Bồ đề đã không có thân, kiếng không có đài, ngay cả một vật cũng không có thì bụi dính chỗ nào? Dính vào đâu? Tâm vốn không thế mà lại dính, vì dính bụi trần nên mới mê mờ, đau khổ, trầm luân sanh tử luân hồi. Bụi trần là tài – sắc – danh – thực – thùy, đã không có một vật nhưng làm sao có bụi? bụi cũng không nhưng lại có, cũng tại vì duyên. Tham đắm ngũ dục lục trần ấy là tâm dính bụi. Thân này không nên sáu căn cũng không, đó chỉ là duyên hợp mà thành. Sáu trần cũng không, đó cũng chỉ là duyên tụ. Sáu căn không, sáu trần không nhưng sáu trần dính chặt sáu căn, vì dính sáu trần mà mê mờ đi trong sanh tử luân hồi. Đức Phật cũng từng bảo ông A Nan “Cái gì làm cho ông sanh tử luân hồi? ấy chính là sáu căn của ông”. Hư không vô cùng vô tận, bụi trần cũng vô biên, tâm mê vô giới hạn. Bồ đề đã không có thân, gương không có đài, thật sự cũng không có một vật thì bụi dính chỗ nào? Và vì vậy thì hà cớ gì phải ngày ngày lau chùi? Nếu đã ngộ thì ngay đó mà ngộ!

Quả thật bài kệ khiến lòng người xôn xao, bài kệ như một ánh chớp lóe lên, như tiếng sấm cảnh tỉnh. Bài kệ vượt qua cái lối thông thường của người mê ngày ngày gõ mõ đánh chuông, nếu mê thì có gõ mõ đánh chuông suốt đời vẫn cứ mê. Huệ Năng lúc này với thân phận giã gạo, chẻ củi nhưng không mê. Xét người không thể nhìn bề ngoài, không thể căn cứ vào hình tướng. Người có xấu – đẹp, sang – hèn, giàu – nghèo, trí – ngu…nhưng tánh giác không phụ thuộc ở những điều ấy. Những đặc điểm ấy chỉ là cái quả tựu thành từ cái nhân trong quá khứ. Những đặc điểm ấy cũng chỉ là duyên khi đủ điều kiện nên tụ lại. Không là bản chất, tự tanh vốn không. Tướng tuy có nhưng là giả tướng, là duyên tựu thành. Tánh không tướng có, không thật tướng giả, không mà là có, có nhưng lại là không, thật vi diệu làm sao.


Lãng Thanh

Ất Lăng thành, 0426

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2014(Xem: 12402)
Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói: “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”. Luận nói tiếp: “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.
15/03/2014(Xem: 20459)
“Con người thường trở thành cái mà họ muốn. Nếu tôi cứ nghĩ rằng tôi không thể làm được điều ấy, thì chắc chắn rút cuộc tôi sẽ không làm được gì. Trái lại nếu tôi tin, tôi có thể làm thì sớm muộn gì tôi cũng sẽ thành tựu như ý muốn”. Thánh Ghandi *
22/02/2014(Xem: 12230)
Nhân quả là đạo lý căn bản của người học Phật. Người tu, nhất là tu Thiền cần phải hiểu rõ, nhận kỹ điểm này, không để sảy chân sa đọa phải hối hận kiếp kiếp lâu dài. Bời người tu Thiền thường nghe nói: “Xưa nay không một vật”, thì nhân quả để ở chỗ nào? Nhân quả có hay không ?
20/02/2014(Xem: 12369)
Mùa đông năm 1991, tôi ra Vũng Tàu dưỡng bệnh ở nhờ thất Thích Ca của Quan Âm Phật đài. Trước cưả thất nhìn xuống mặt biển có cây bồ đề sum sê che rợp, râm mát cả thất. Tôi thường ra đứng dưới tàng cây nhìn xuống biển. Một hôm, tôi đứng nhìn ra biển thấy biển cả thênh thang sóng bủa trắng xóa, lúc đó có chú thị giả đứng bên cạnh, nhìn sang chú tôi hỏi: "Ðố chú nước có dậy sóng không?"
19/02/2014(Xem: 9143)
Thiền quán (Vipassana) chính xác nghĩa là gì ? Hầu như bất cứ sách nào viết về Thiền tập Phật giáo thời kỳ sơ khai cũng nói với bạn rằng Đức Phật giảng dạy hai kiểu thiền tập: Thiền chỉ (samatha) và Thiền quán (vipassana). Thiền chỉ ( Samatha), nghĩa là định tĩnh, được xem là một phương pháp nuôi dưỡng những trạng thái hành thiền thâm sâu mạnh mẽ gọi là nhập định ( Jhana). Thiền quán (Vipassana) - nghĩa đen là “ thấy rõ ”( minh sát), nhưng thường vẫn được phiên dịch là Thiền quán – được xem là một phương pháp sử dụng một
11/02/2014(Xem: 10166)
Pháp là Pháp môn, Chánh pháp của Phật. Bảo nói sơ lược có sáu nghĩa: Hiếm có, Thanh tịnh, Quý giá, Đẹp đẽ rực rỡ, Rất tốt, Thường chẳng đổi. Đàn trong chữ Tất Đàn nghĩa là bố thí rộng khắp. Pháp Bảo Đàn Kinh là đem kinh pháp hiếm có, quý báu, thanh tịnh, thường hằng chẳng biến đổi mà bố thí rộng khắp thế gian, giống như cơn mưa đúng lúc đúng thời thấm nhuần lợi ích khắp muôn loài, không đâu chẳng được mưa pháp rưới mát.
10/02/2014(Xem: 18046)
Cảnh sát thường phục bao phủ chung quanh khách sạn sang trọng ở Delhi, điện thoại di động kêu răng rắc trong tay. Sau việc kiểm soát an ninh thường lệ, chúng tôi được dẫn vào trong một phòng ngoài và được lịch sự yêu cầu chờ đợi
08/02/2014(Xem: 11591)
Một số bài gần đây, tôi đã trình bày sự hiệu dụng của Thiền trong việc chuyển hóa xã hội, chuyển hóa trường học, sắc đẹp và bệnh viện. Nay chúng ta thử tìm hiểu ích lợi của Thiền trong quân ngũ. Phải chăng Thiền có thể giúp ích cho những người lính trước lúc ra trận và sau những ngày hậu chiến?
21/01/2014(Xem: 9487)
Những ai mới bước chân vào cửa Thiền tông đôi khi thường bỡ ngỡ vì thấy pháp tu này có nhiều điểm có vẻ khác biệt so với các tông phái khác trong đạo Phật. Để giúp cho những người muốn tìm hiểu Thiền tông so với kinh điển có gì khác biệt nên cần đem so sánh pháp tu của Thiền tông với các lời Phật dạy ghi trong kinh điển, để thấy rõ các tổ đã y cứ vào kinh điển để thấu nghĩa lời Phật dạy mà thấy rõ con đường tu hành để đạt được mục đích tối cao của đạo Phật là đến chỗ giác ngộ.
12/01/2014(Xem: 24523)
Ngày nay từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây, từ châu Mỹ La tinh đến Phi châu…, có vô số trường đã và đang dạy thiền cho học sinh từ các lớp Mầm non. Nhiều thí nghiệm của các chuyên gia, của các trường và kết quả như thế nào về việc đem thiền vào trường học, mời quý độc giả tìm hiểu qua bài viết nầy.