Sức mạnh của Định

15/01/202606:21(Xem: 562)
Sức mạnh của Định


phat thanh dao

Sức
 mạnh của Định


Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Khi Tỷ-kheo có định sẽ như thật rõ biết (pajànati):

-“Đây là Khổ (bản chất bất an), đây là Khổ tập (nguyên nhân dẫn đến bất an) các ngươi đều như thật rõ biết!.

-"Đây là Khổ diệt (cảnh giới Niết Bàn) và đây là con đường đưa đến Khổ diệt (tám Chánh Đạo). Các ngươi hãy như thật rõ biết!.

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Phát lên một cố gắng cần làm để rõ biết:

-"Đây là Khổ","Đây là Khổ tập". Cố gắng cần làm để rõ biết.

-"Đây là Khổ diệt","Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt". Cố gắng cần làm để rõ biết.

(Trích Tương Ưng bộ, chương 7, S.v 414)

Quả vậy, đoạn kinh có hai điều mà đức Phật muốn nhấn mạnh do nhờ tu tập Định.

1) Như thật rõ biết

2) Phát lên một cố gắng để rõ biết

Như thật rõ biết là cách gọi khác của Tuệ Tri. Vậy, Tuệ tri điều gì? và như thật rõ biết như thế nào? Đó là về “Khổ”, về “Nguyên nhân” dẫn đến khổ. Cũng như, tuệ tri về “Niết bàn” và “Con đường dẫn đến Niết bàn”.

Về sự Khổ:

(Trạng thái bất an)

Khổ chính là những hiện tượng, tướng trạng còn bị tác động bởi sinh và diệt. Như thân này là một pháp sinh diệt vô thường. Từ đầu đến chân, trong ra ngoài, lục phủ ngũ tạng, thịt máu gân xương….tất cả đều vận hành trong sinh diệt. Một phút trôi qua có biết bao tế bào sống chết thay nhau và hướng thân này đến già nua, bệnh tật và chết chốc. Đây là chân lý không thể chối cải.

Dù ta cố gắng o bế thân này, tô đấp cho nó bằng những dưỡng chất tốt đẹp thì nó cũng già và chết. Một đóa hoa xinh đẹp mỹ miều, cũng chỉ vài tuần là héo; những động vật quý cưng, tuổi thọ của chúng là vài chục năm. Đời người cũng vậy, 100 năm chưa gọi là dài. Nhẫn đến núi non, ao hồ, sông ngàn, mây nước nào khác gì nhau. Mọi thứ đều chung một điểm, đó chính là sinh diệt mong manh.

Về tâm hành cũng thế. Những nghĩ suy của chúng ta, dòng tâm tưởng, cảm xúc, suy tư phân biệt của chúng ta; chí đến những buồn vui giận ghét, đau khổ, mừng lo vv... đều là mọi hiện tượng, trạng tướng của tâm hành, cũng đến đi chớp nhoáng, không hề trường cữu.

Một Tỷ kheo có Định, tức đạt được trạng thái vô niệm. Tâm không hề xao lãng, dao động. Ngồi xuống là yên, cột niệm tại chỗ, vững như núi lớn, tâm lặng như mặt hồ hoàn toàn tĩnh yên.

Hoặc khi Tỷ kheo ấy co tay, duỗi chân, nghiêng người hay hướng tới thì lòng vẫn an, tâm vẫn lặng. Dù con người ấy đi vào công việc, lao tác thường ngày thì Định của vị ấy vẫn vững mạnh và an trụ. Từ đó, nó chính là nền tảng cho nguồn Tuệ bừng khai.

Tuệ bừng khai, Tuệ sáng chói sẽ thấy rõ mọi thứ hoàn toàn như chúng đang là. Đây là Khổ, rõ biết là khổ, là bấp bênh, là bất toại ý, thảy đều như thật Tuệ Tri.

Ồ, đây là hạt đậu đen trong bàn tay, biết rõ như vậy. Đây là đậu đỏ, đậu trắng đều nằm trong bàn tay, biết rõ như thật. Và càng biết rõ hơn về sự có mặt của chúng vốn mong manh, sinh diệt và biến mất. Vị Tỷ kheo khi đó, tâm vẫn bình yên, hằng sáng đối với bất kỳ tình huống nào xảy ra.

Về Khổ Tập:

(Nguyên nhân dẫn đến bất an)

Do nhờ Định lực, sức mạnh của tĩnh lặng nội tại, vị Tỳ kheo tiếp tục duy trì sự quán chiếu sâu sắc đối với vận hành của các pháp. Dù là phần dao động của tâm (tâm pháp) hay tướng trạng của các pháp (sắc pháp), chúng di chuyển ra sao, vận hành thế nào thì thầy Tỳ kheo vẫn an trụ trong trí quán thuần sáng.

Thầy tỳ kheo thấy như thật rằng, chính do bám víu và tham đắm vào các sắc pháp, như trần cảnh bên ngoài, sắc tướng bên trong, tấm thân thịt máu, lớn hay nhỏ, liệt hay thắng, xa hay gần đi nữa, vị ấy vẫn thấy rõ như nhìn lòng bàn tay: “Ồ, do tham ái mà có khổ, do bám víu mới đầy ắp đau thương.” Thật vậy, ai cho thân này là trường tồn bất hoại, là chỗ dựa của tự ngã linh hồn, thì họ đã rơi vào tà kiến về thân, lạc vào khổ xứ.”

Định lực ấy, sức mạnh của tĩnh tâm, luôn là nền tảng duy nhất cho Tuệ giác giải thoát. Bởi hàng ngàn cái thấy, cái biết của thế gian vẫn bị đóng khung trong bản ngã tự tôn vậy. Từ lâu, áng mây vô minh dầy đặc đã che lấp “tánh giác” trong sáng trong ta, nên sự sự dù bày ra trước mắt nhưng chúng ta không bao giờ thấu triệt được bản chất hiện hữu trong kiếp sống mong manh.

Biết giả tạm mà vẫn mong, rõ hư huyễn mà vẫn bám, người ta cứ mãi ném mình vào thế giới khổ đau, thà chấp nhận một cách mù quáng miễn đạt được danh, được lợi, thì dù có bị cột trói, kiềm hãm đến đâu cũng sẳn lòng nếm cho bằng được những giọt mật trên đầu một lưỡi dao sắc bén.

Vị tỳ kheo đã hành đúng pháp, trì đúng cách và tự nói lên rằng: “Tham ái là gốc khổ, là tập đế dẫn đến khổ đế, biết rõ như vậy, tuệ tri như vậy. Ái là cội nguồn của sinh diệt, là động lực đưa đến luân hồi bất tận, vị Tỳ kheo tuệ tri như thật, rõ biết như vậy, không dính mắc hay can thiệp bất kỳ điều gì.”

Về Khổ Diệt:

 

(Niết bàn)
Chính
 là người đã dứt trừ hoàn toàn khổ đau và đạt được thánh quả giải thoát. Dù còn mang thân này, nhưng tâm của họ đã tự tại, không còn vướng mắc thế gian. 
Họ nhìn vào cuộc sống bằng tuệ giác siêu việt, không bị đóng khung bởi ngã chấp hoặc sự bám víu đối với cuộc đời. 
Cái gọi là danh, là lợi, là những thứ mà thế gian tôn thờ, muôn người chạy theo từ tiền tài, địa vị, tận hưởng vinh hoa vv… nhưng, người thánh trí tuyệt đối không còn si mê hay tham ái nữa. 
Họ chính thức ra khỏi bóng đêm và tháo gỡ hoàn toàn tất cả những cột trói. Vì cuộc sống này, vạn sự đều là vô thường, sinh diệt, đắp đổi mong manh. Nói đúng hơn, các pháp vốn trống rỗng, hư vô; không hề có một thể tính cố định, trường tồn. 
Vị tỷ kheo đã chứng được sự diệt khổ, còn gọi là Niết bàn quả vị, trí tuệ viên thông, năng lực giác tuệ hoàn toàn hùng hậu. Họ đã cắt lìa mạng lưới chằng chịt của vô minh, phá tan thành trì bản ngã, mọi khổ đau từ nay đã dứt hẳn. 
Họ đi ngang cuộc đời bằng nụ cười tự tại, xem sống chết nhẹ như bông tơ, tuyệt không còn sợ hãi và vượt lên tất cả sầu ưu, điên đảo của thế gian vậy.

Về Khổ Diệt Đạo:

(Con đường Bát Chánh).”

Sức mạnh của Định đã kiên trì thì sự quán chiếu sẽ sáng hơn trên từng đề mục. Hành giả đã nhận thức được rằng, mọi sự vận hành đều nội hàm tính biến hoại và sinh diệt. Như một đoá hoa lớn lên, là một chuỗi vận hành tương tục sinh hoại, gọi là Khổ Đế. Thân trạng con người cũng vậy, liên tục sinh, liên tục hoại để tạm hình thành và tan biến theo thời gian, đó cũng là sự khổ.
Sự thật này được đức Phật nghiệm chứng bằng con đường thiền định rất thực tiễn. Ngài thấy rõ chúng là hữu vi pháp thuộc về tâm tướng và chỉ là những vận hành giả danh, không thật. Cái này tiếp nối cái kia để có mặt, để hoại tan một cách tạm bợ. Con đường ấy, khổ đạo thánh đế, đã được ngài chỉ dẫn thật rõ ràng trên từng pháp hành cụ thể.
Thầy tỳ kheo cũng học như vậy, nương theo dấu bước của Ngài bằng chí nguyện vững chắc để phát tấn hành trì không lung lay. Vị ấy đã tỏ thông con đường thánh đạo tám chi, từ chánh kiến, chánh tư duy đến chánh niệm, chánh định một cách minh tường và tỷ mỷ. Giống như người lực sĩ co duỗi cánh tay thật mạnh khoẻ và dễ dàng để nâng một vật khỏi vị trí mà anh muốn. 
Vị hành giả đêm ngày hằng quán như sau:
“Nhờ vào Chánh Kiến mà sự thật về Khổ đã được Tuệ Tri. Nhờ vào Chánh kiến mà sự thật về nguyên nhân tạo ra Khổ, đã được Tuệ Tri….” Và nhờ Tuệ tri như thật trong các pháp, không bám víu, không chạy theo, không ném đời mình vào những thăng trầm được mất. 
Ồ, sầu ưu đang chiếm hữu tâm tôi; hỷ nộ, ái ố đang vận hành trong tôi; kể cả lòng tham, sự ái luyến cũng từng nối tiếp theo nhau tác động tiêu cực đến đời sống tôi. Nay nhờ hành trì mà tôi đã vượt thắng mọi đau thương phiền não. Tôi hoàn toàn tuệ tri như thật đối với chúng. Từ đó, thầy Tỳ kheo trong từng phút giây cảm nghiệm trạng thái Niết bàn (Diệt đế) và con đường thánh đạo (Đạo đế) hằng tương thông, tương hành, không hề gián đoạn.”


Thích Thiện Lợi




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/09/2012(Xem: 26816)
Thế giới đang sử dụng Thiền như thức ăn như nguồn sống không thể thiếu trong cuộc đời thường. Ngay ở nước Mỹ, quốc gia tân tiến bậc nhất về khoa học kỹ thuật cũng đã áp dụng Thiền như một phương thuốc trị liệu tâm lý.
13/09/2012(Xem: 7119)
Có câu chuyện Thiền trích dịch từ cuốn “Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ...
03/09/2012(Xem: 4799)
Thuận tánh khởi tu là một thành ngữ được dùng nhiều trong Thiền tông, và nói chung, trong kinh luận Đại thừa. Thuận tánh là y vào tánh, ở nơi tánh, ở trong tánh, làm theo tánh. Tánh là bản tánh, pháp tánh, tánh Không, Như Lai tạng tánh, tánh Giác, Phật tánh… Thuận tánh khởi tu là y theo tánh mà khởi hạnh tu. Ý nghĩa này còn được diễn tả bằng những từ ngữ như Xứng tánh khởi tu (Thiếu Thất lục môn), tùy thuận tánh Giác (Kinh Viên Giác), an trụ tánh Giác, xứng tánh làm Phật sự (kinh Nhật tụng), thuận tánh khởi tu, thuận tánh khởi dụng (Thiền sư Hàm Thị giảng Kinh Lăng-già)…
01/09/2012(Xem: 22391)
Phật tính [1] có thể là bản chất trống rỗng của tâm thức, mà trong trường hợp nào nó không là một thức. Nó cũng liên hệ đến tâm tịnh quang nguyên sơ là điều liên hệ hơn đến giáo huấn mật thừa tantra.
24/08/2012(Xem: 5967)
Thiền sư Đạo Nguyên (Dogen Zenji, hay Eihei Dogen (1200-1253)) là một đại thiền sư thời cổ, và được nhiều người xem như một vị thiền sư vĩ đại nhất. Phật giáo đồ Nhật Bản trong tất cả mọi tông phái đều kính ngưỡng Đạo Nguyên như một vị bồ tát. Ngài là người đầu tiên đã đem dòng thiền Tào Động đến Nhật Bản. Sau khi học đạo với các vị thầy ở Nhật, Đạo Nguyên qua Trung Hoa tu học. Ngài đại ngộ ngay khi sư phụ Trung Hoa của ngài là Ju Ching nói phải “buông hết cả thân lẫn tâm”. Sau đó ngài đã đến trình kiến giải và được sư phụ ấn chứng. Lòng đầy tri ân, Đạo Nguyên quỳ sụp xuống đảnh lễ thầy. Ju Ching nói, “Buông luôn cả cái buông!” “Hiện thành công án” (Genjokoan) là một chương nổi tiếng trong quyển “Chánh Pháp Nhãn Tạng” (Shobogenzo), nói đến sự liên hệ của tu thiền và giác ngộ. Đây là một tuyệt tác vô song, với những lời lẽ thâm sâu bàng bạc ý vị thơ, biểu lộ tri kiến của một bậc giác ngộ đã vượt ngoài đối đãi.
07/07/2012(Xem: 16544)
Trong mỗi buổi lễ hàng ngày, các thiền viện thuộc tông Tào Động (Sōtō Zen) Nhật Bản đều có tụng bài Sandōkai, như vậy cho thấy rõ tầm quan trọng của bài tụng này trong tông phái Tào Động. Nhiều thiền sư Nhật đã giảng và viết về bài đó một cách kỹ lưỡng để các thiền giả hiểu rõ ý nghĩa.
06/07/2012(Xem: 6954)
Bắt đầu từ ngày mai, học viện chúng ta có thể nói hoạt động mỗi năm một lần, kỷ niệm thư viện Hoa Tạng, cố viện trưởng cư sĩ Hàn Anh vãng sanh năm thứ tám. Mỗi năm vào ngày này, chúng ta đều có tổ chức nghi thức truy điệu.
06/07/2012(Xem: 18605)
Trước tiên xin cảm ơn Ngài vô cùng vì đã nói chuyện với chúng tôi sáng nay. Thưa Đức Thánh Thiện, Ngài vừa nói chuyện với sinh viên ở San Diego về 'lòng từ bi không biên giới', bây giờ tôi muốn hỏi Ngài trước hết về 'lòng từ bi trong biên giới'. Ngài nghĩ Hoa Kỳ có phải là một quốc gia từ bi không?
24/06/2012(Xem: 10275)
Đây là nhắc nhở cho tất cả về ý nghĩa "Đưa Tâm Về Nhà". Bây giờ mình phải ngược dòng lưu chuyển để đưa tâm về nhà. Như đã nói, hiện tại mình đang ở đây nhưng tâm mình thì đang lang thang ở quê người, đó gọi là xa quê, xa nhà, là mất gốc. Lang thang đây là lang thang ở trong các trần, đuổi theo các duyên, nó buông cái này, bắt cái kia hoài không chịu dừng. Chính đó là tâm sinh tử, là tâm biến động. Do vậy mà trôi theo dòng luân chuyển sinh tử luân hồi. Vua Trần Thái Tông tuy là vua nhưng ông cũng tu thiền, sáng tỏ được tâm nên trong bài kệ "Núi Thứ Nhất", vua nói rằng: