Liệu pháp chánh niệm

19/03/202523:47(Xem: 1481)
Liệu pháp chánh niệm

duc phat thanh dao

Liệu pháp chánh niệm

Tác giả: Tara Bennett-Goleman

Dịch giả: Nguyên Giác

 

Cốt tủy của liệu pháp nhận thức là bạn không cần phải tin vào suy nghĩ của bạn. Liệu pháp nhận thức hoạt động bằng cách giúp mọi người nhận ra những suy nghĩ phản tác dụng, phi logic, để tháo gỡ những bóp méo nhận thức và để làm việc với các sự kiện trong cuộc sống hoặc với các suy nghĩ của chính họ để phát triển các chiến lược dẫn đến một góc nhìn cân bằng và thực tiễn hơn.

Khi tôi trải qua khóa đào tạo về liệu pháp nhận thức, tôi đã bị ấn tượng bởi sự tương đồng mạnh mẽ của nó với phương pháp thiền chánh niệm và tâm lý học Phật giáo. Tôi cũng đã làm việc với khách hàng bằng cách kết hợp liệu pháp nhận thức và chánh niệm, và tôi ngày càng thấy rõ hơn rằng hai phương pháp này có sự kết hợp với nhau.

Liệu pháp nhận thức chủ yếu hoạt động với những niềm tin tiềm ẩn mang tính hủy hoại—đôi khi được gọi là “sơ đồ thích nghi kém”—mà mọi người có về bản thân họ. Sơ đồ thích nghi kém có thể được diễn đạt bằng những cụm từ như “Tôi phải hoàn hảo trong mọi việc tôi làm”, hoặc “Tôi bất tài”, hoặc “Nếu tôi bày tỏ nhu cầu của riêng mình, mọi người sẽ từ chối tôi”. Theo Tiến sĩ Jeffery Young, người mà tôi đã được đào tạo, những chủ đề phổ biến nhất trong sơ đồ thích nghi kém là: thất bại, chia cắt, không đáng yêu, khuất phục sự phụ thuộc, mất kiểm soát và ngờ vực.

Thay đổi các lược đồ không thích nghi khiến bạn cảm thấy ngượng ngùng và xa lạ—nó không giống bạn, cũng giống như đôi giày thể thao mới không thoải mái bằng đôi giày cũ đã mòn. Liệu pháp nhận thức giúp mọi người thấy được cách các tình huống tự hủy hoại bản thân trong cuộc sống của họ phản ánh lược đồ rối loạn chức năng của họ. Khách hàng học cách tìm hiểu cách các lược đồ phát triển trong suốt cuộc sống của họ và về cách các lược đồ này hiện đang hoạt động để duy trì niềm tin tiêu cực của họ về bản thân. Dần dần, họ không còn tự thấy  đồng nhất với các lược đồ. Ngay cả những đôi giày thể thao mới cuối cùng cũng trở nên thoải mái.

Tâm lý học Phật giáo

Trong tâm lý học Phật giáo không có cái ngã cố định, mà thay vào đó là một quá trình phi nhân cách của các hiện tượng vật lý và tinh thần (nama-rupa; thân-tâm) phát sinh và biến mất trong từng khoảnh khắc tâm lý. Các yếu tố chính phát sinh trong tâm được gọi là các yếu tố tinh thần (tâm sở).

Khi kết hợp lại, các yếu tố tinh thần (tâm sở) đại diện cho quang phổ cảm thọ/nhận thức. Các lược đồ thích nghi kém giống như các yếu tố tinh thần không lành mạnh trong hệ thống Abhidhamma, quyết định cách chúng ta diễn giải thực tại. Chúng là các bộ lọc nhận thức, tô màu cho niềm tin của chúng ta.

Giống như Abhidhamma nói rằng người ta phải loại bỏ các yếu tố tinh thần không lành mạnh (tâm sở bất thiện) ra khỏi tâm để có được sức khỏe tinh thần (tâm sở thiện), liệu pháp nhận thức tìm cách vô hiệu hóa các lược đồ thích nghi kém.

Lý thuyết: Phá vỡ chuỗi nhân quả

Chuỗi nhân quả của sự phát sinh duyên khởi trong Abhidhamma rất giống với lý thuyết xử lý thông tin trong ngành tin học (information processing theory), vốn là cốt lõi của tâm lý học nhận thức. Ba mắt xích đầu tiên của chuỗi là “căn”, dẫn đến “xúc”, dẫn đến “cảm thọ”.

Cùng một trình tự trong quá trình xử lý thông tin được đặt theo thuật ngữ “cảm ứng” dẫn đến “nhận thức”, dẫn đến “cảm thọ”.

Chu trình đầy đủ, trong mỗi hệ thống, diễn ra ít nhiều như sau:

Chuỗi duyên khởi: Cơ sở giác quan (căn)> Xúc > Cảm thọ > Khát ái> Bám víu > Hành động.

Xử lý thông tin (trong hệ thống tin học): Cảm giác > Nhận biết > Cảm thọ > Ý định > Kế hoạch > Hành động.

Cả Abhidhamma và liệu pháp nhận thức đều thừa nhận rằng sự thay đổi có thể xảy ra thông qua nhận biết ở giai đoạn cảm giác/cảm thọ, để cảm thọ không dẫn đến hành động.

Trong liệu pháp nhận thức, nhận biết trung lập được sử dụng để can thiệp giữa nhận biết và cảm xúc, phá vỡ sự kìm kẹp của các lược đồ thích nghi kém. Nhà trị liệu nhận thức có thể đánh giá cao bình luận của Joseph Goldstein, “Nếu chúng ta có thể chánh niệm trong từng khoảnh khắc—nhận biết về đối tượng, nhận biết về cảm thọ, dù là dễ chịu hay khó chịu—thì nhận biết sẽ ngăn chặn sự phát sinh của tham muốn”.

Việc theo dõi các lược đồ tâm có thể được hỗ trợ bằng cách “ghi nhận”, giống hệt như được thực hiện trong một số kỹ thuật vipassana, bằng cách dán nhãn các lược đồ nhiều lần cho đến khi tâm có thể chuyển sang chế độ quan sát. Điều này giúp một người nhận ra tính minh bạch của các mô hình tâm đã bị điều kiện này. Một khách hàng có thể đạt được một số đòn bẩy cảm thọ bằng cách quan sát các trạng thái tâm tiêu cực này với sự bình tĩnh thay vì một sự thôi thúc bắt buộc họ phải tiếp tục hành động theo chúng.

Thuốc giải độc

Các tâm sở bất thiện có thể phát sinh trong thiền định gây ra những chướng ngại. Hệ thống Abhidhamma đề xuất các phương thuốc giải độc cụ thể cho những chướng ngại này—ví dụ, tu định để đối phó dao động, tinh tấn để đối phó lười biếng và buồn ngủ. Nguyên tắc tương tự được sử dụng để chống lại các khuynh hướng của tâm của các loại tính cách Abhidhamma. Ví dụ, người nhiều tham sẽ được cho một túp lều tồi tàn, đầy mạng nhện và côn trùng. Người nhiều sân giận sẽ được cho chỗ ở tốt nhất mà không có gì để phàn nàn, để vô hiệu hóa khuynh hướng thống trị của tâm.

Một chiến lược tương tự được sử dụng trong liệu pháp nhận thức tập trung vào lược đồ: các nhóm tâm sở có thói quen tự hủy hoại được trung hòa bằng các thuốc giải độc cụ thể. Các thuốc giải độc bao gồm việc cố ý đưa vào tâm những quan điểm đối lập để chống lại lược đồ. Ví dụ, người dễ bị lược đồ khuất phục sẽ được hướng dẫn để thực hành trở nên quyết đoán hơn, hoặc thực hành để có quyết tâm nhiều hơn với nhu cầu và mong muốn của chính họ. Mục đích là thay thế trạng thái tâm bị méo mó bằng trạng thái tâm cân bằng và thực tiễn hơn.

Nhiều lối đi riêng biệt

Liệu pháp tác động đến nội dung của tâm (mind’s content), trong khi thiền tác động đến bối cảnh (context). Hai con đường này là riêng biệt, nhưng chúng cũng có thể bổ sung và tạo điều kiện cho nhau.

Ngoài các khóa tu vipassana thường xuyên, một số thiền sinh có thể thấy hữu ích khi tham gia các khóa tu định hướng tâm lý với mục đích rõ ràng là kết hợp thực hành chánh niệm với quá trình điều tra tâm lý. Thêm vào lịch trình khóa tu thường xuyên sẽ là các buổi trị liệu, nơi mọi người có thể điều tra và xử lý các lược đồ tâm gây mất tập trung. Không nên nhầm lẫn các khóa tu này với quá trình thực hành thiền chuyên sâu.

Điều quan trọng là đừng để bị cuốn vào sự tĩnh lặng của thiền định mà không quan tâm đến những công việc tâm lý còn dang dở. Trong khi đó, những hiểu biết sâu sắc của pháp thiền định thâm sâu cũng có tác dụng chữa lành về mặt tâm lý. Nhìn thấy bản chất vô thường, vô ngã của các hiện tượng tinh thần cho phép chúng ta hiểu được tâm.


NGUỒN: Mindfulness Therapy, by Tara Bennett-Goleman

Text © Inquiring Mind, 1997-2020. Bản quyền CCA-NonCommercial

https://inquiringmind.com/article/0501_22_bennett-goleman_mindfulness-therapy/

.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/09/2012(Xem: 27617)
Thế giới đang sử dụng Thiền như thức ăn như nguồn sống không thể thiếu trong cuộc đời thường. Ngay ở nước Mỹ, quốc gia tân tiến bậc nhất về khoa học kỹ thuật cũng đã áp dụng Thiền như một phương thuốc trị liệu tâm lý.
13/09/2012(Xem: 7244)
Có câu chuyện Thiền trích dịch từ cuốn “Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ...
03/09/2012(Xem: 4896)
Thuận tánh khởi tu là một thành ngữ được dùng nhiều trong Thiền tông, và nói chung, trong kinh luận Đại thừa. Thuận tánh là y vào tánh, ở nơi tánh, ở trong tánh, làm theo tánh. Tánh là bản tánh, pháp tánh, tánh Không, Như Lai tạng tánh, tánh Giác, Phật tánh… Thuận tánh khởi tu là y theo tánh mà khởi hạnh tu. Ý nghĩa này còn được diễn tả bằng những từ ngữ như Xứng tánh khởi tu (Thiếu Thất lục môn), tùy thuận tánh Giác (Kinh Viên Giác), an trụ tánh Giác, xứng tánh làm Phật sự (kinh Nhật tụng), thuận tánh khởi tu, thuận tánh khởi dụng (Thiền sư Hàm Thị giảng Kinh Lăng-già)…
01/09/2012(Xem: 23282)
Phật tính [1] có thể là bản chất trống rỗng của tâm thức, mà trong trường hợp nào nó không là một thức. Nó cũng liên hệ đến tâm tịnh quang nguyên sơ là điều liên hệ hơn đến giáo huấn mật thừa tantra.
24/08/2012(Xem: 6113)
Thiền sư Đạo Nguyên (Dogen Zenji, hay Eihei Dogen (1200-1253)) là một đại thiền sư thời cổ, và được nhiều người xem như một vị thiền sư vĩ đại nhất. Phật giáo đồ Nhật Bản trong tất cả mọi tông phái đều kính ngưỡng Đạo Nguyên như một vị bồ tát. Ngài là người đầu tiên đã đem dòng thiền Tào Động đến Nhật Bản. Sau khi học đạo với các vị thầy ở Nhật, Đạo Nguyên qua Trung Hoa tu học. Ngài đại ngộ ngay khi sư phụ Trung Hoa của ngài là Ju Ching nói phải “buông hết cả thân lẫn tâm”. Sau đó ngài đã đến trình kiến giải và được sư phụ ấn chứng. Lòng đầy tri ân, Đạo Nguyên quỳ sụp xuống đảnh lễ thầy. Ju Ching nói, “Buông luôn cả cái buông!” “Hiện thành công án” (Genjokoan) là một chương nổi tiếng trong quyển “Chánh Pháp Nhãn Tạng” (Shobogenzo), nói đến sự liên hệ của tu thiền và giác ngộ. Đây là một tuyệt tác vô song, với những lời lẽ thâm sâu bàng bạc ý vị thơ, biểu lộ tri kiến của một bậc giác ngộ đã vượt ngoài đối đãi.
07/07/2012(Xem: 16783)
Trong mỗi buổi lễ hàng ngày, các thiền viện thuộc tông Tào Động (Sōtō Zen) Nhật Bản đều có tụng bài Sandōkai, như vậy cho thấy rõ tầm quan trọng của bài tụng này trong tông phái Tào Động. Nhiều thiền sư Nhật đã giảng và viết về bài đó một cách kỹ lưỡng để các thiền giả hiểu rõ ý nghĩa.
06/07/2012(Xem: 7048)
Bắt đầu từ ngày mai, học viện chúng ta có thể nói hoạt động mỗi năm một lần, kỷ niệm thư viện Hoa Tạng, cố viện trưởng cư sĩ Hàn Anh vãng sanh năm thứ tám. Mỗi năm vào ngày này, chúng ta đều có tổ chức nghi thức truy điệu.
06/07/2012(Xem: 18872)
Trước tiên xin cảm ơn Ngài vô cùng vì đã nói chuyện với chúng tôi sáng nay. Thưa Đức Thánh Thiện, Ngài vừa nói chuyện với sinh viên ở San Diego về 'lòng từ bi không biên giới', bây giờ tôi muốn hỏi Ngài trước hết về 'lòng từ bi trong biên giới'. Ngài nghĩ Hoa Kỳ có phải là một quốc gia từ bi không?
24/06/2012(Xem: 10816)
Đây là nhắc nhở cho tất cả về ý nghĩa "Đưa Tâm Về Nhà". Bây giờ mình phải ngược dòng lưu chuyển để đưa tâm về nhà. Như đã nói, hiện tại mình đang ở đây nhưng tâm mình thì đang lang thang ở quê người, đó gọi là xa quê, xa nhà, là mất gốc. Lang thang đây là lang thang ở trong các trần, đuổi theo các duyên, nó buông cái này, bắt cái kia hoài không chịu dừng. Chính đó là tâm sinh tử, là tâm biến động. Do vậy mà trôi theo dòng luân chuyển sinh tử luân hồi. Vua Trần Thái Tông tuy là vua nhưng ông cũng tu thiền, sáng tỏ được tâm nên trong bài kệ "Núi Thứ Nhất", vua nói rằng: