Nghe

03/06/201919:38(Xem: 7579)
Nghe
NGHE
quanam_painting
Ta nghe con sóng bạc vỗ vào bờ cát trắng bên hàng dương êm ả làm dịu mát lại bầu không khí oi bức.

Trời nóng đến tận cùng không gian khiến ta hết chỗ ẩn náu nên ta nghe được giọt mưa rơi tí tách mỗi khi bầu trời đổ mưa khiến không khíêm dịu lại, tâm hồn thanh bình, nhẹ hơn.

Ta nghe âm thanh, lòng ta thanh tịnh sạch trong. Ta nghe ngọn gió hát du dương ru ta ngủ những lúc trưa hè. Ta nghe dòng suối chảy róc rách. Ta nghe điều thị phi khiến ta ngồi rồi ta yên, rồi ta lại ngồi nhìn và nghe hết lòng, thương cho ái nghiệp nói lời chưa hay, nghe chưa thông thì ta mang cái nghe chánh tư duy vào để yểm trợđưa về cái nghe được thanh lọc, trong sáng.

Ta nghe được cuộc sống hát ca, biển lặng sóng vỗ rì rào. Ta biết nghe khúc nhạc bản tình ca trên cát, cõi đời ta được nghe tình yêu con tim thổn thức, âm thanh kêu cứu của những động vật sắp tuyệt chủng được liệt kê vào sách đỏ, nghe hơi thở từ trái tim vào ra, nghe lá phổi tâm sự hay mạch máu lưu thông  để tri ân cảm niệm , ta có cuộc hội ngộ hạnh phúc ngay từ cái nghe cõi lòng yêu quý.

Biết nghe tình yêu tâm sự sầu khổ ái ân thù hậnta nghe và chuyển tánh hạt giống tình thương chân thậtđể xoa dịu lại hạt giống khổ đau. Nghe tiếng gọi đêm trường vắng lặng, nghe những gì trái phải cuộc sống nghe hết lòng để hiểu hơn cái nghe đời thường. Do vậy, cách nghe là từ bốn phía: khổ, sầu, phước, tuệ.

Nghe lời xin lỗi từ vợ và chồng, gia đình, xã hội, thầy và trò, con và bố mẹ, anh chị em thân quý, bạn bè với người thân chí kính, nghe lời tâm sự từ người trí thức hay kẻ thiếu hụt tri kiến, nghe từ vua quan đến thứ dân, lắng nghe cõi lòng tâm sự, vỗ về, nghe tất cả loại hình dị khuyết..., nhìn khiến đời tu ta nghe được và rồinghe từ thế gian giúp ta đôi tai nghe lời chân thật  và nguyện từ trong cõi đời thân quý.

Nghe chính là pháp học của Đức Bồ tát Quán thế âm, nghe là nhĩ căn thanh tịnh, nghe là lỗ tai nghe thấu đáo, nghe hết lòng và chia sẻ cảm nghĩ hoặc tâm sự chân thành.

Nghe từ căn tánh, căn nguyên từ muôn kiếp sinh tử, nghe hết con tim bằng hạt giống chuyển hóa khổ đau.

Đức Bồ tát Quán thế âm có Nhĩ căn thanh tịnh nghe lời kêu cứu trần gian, bằng tất cả trái tim.Thực vậy, ta nên học theo hạnh của Bồ Tát.

Lạy đức Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim  biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con.Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe  để hiểu. Chúng con xin nguyện tập ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi”.  Trích trang 165 Nghi thức quán nguyện, nhật tụng thiền môn năm 2000, NXB Tôn giáoThiền sư Thích Nhất Hạnh.

Bởi vậy nên ta cần thực tập Pháp quán niệm hạt lắng nghe từ Bồ tát Quán thế âm. Thực tập mỗi ngày giúp ta trở nên thính giác, khiến đời sống của ta càng trở nên giá trị trong cái nghe từ lời Chư Phật và Bồ Tát chỉ lối ta đi. Đó là cách nghe trong tỉnh thức.

Thực tế, ta nghe mà ta không thực hành chánh tư duy thì tức khắc cái nghe của ta đưa vào tà tư duyrồi có cái nghe lệch lạc, đưa đến khổ đau sầu não, dẫn ta vào m ái phiền trụy lạc dục vọng, đưa tâm ta về nguồn mạch lạc lối sinh tử, rơi vào hố sâu địa ngục. Từ đây, ta sinh ra tội lỗi từ cái nghe không chính xác đích thực.

Nghe mà không thực tập hạnh ngồi yên vắng lặng thiền định thì tức khắc ta sẽ lạc vào ngõ cụt tri kiến sai lầm, không có cái nhìn phán xét đúng chân thật. Do đó, nghe là phải tĩnh lặng tâm hồn từ thiền định vắng yên.

Nghe mà không thực tập pháp ngũ căn thanh tịnh, nghĩa là ta không quán chiếu hạt ngọc tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn thì ta chưa có gốc rễ căn bản từ cái nghe. Vì sao?

Bởi nhĩ đời sống năm căn thanh tịnh giúp ta có cái nghe chân lý, đích xác, không thiên vị thì phải nhờ Tín căn: 
Tín là niềm tin, căn là căn bản, tức thì  niềm tin căn bản từ cái nghe đó là khổ. Trong khổ có sinh, lão, bệnh, tử. Yêu không được là khổ, cầu vật gì chưa đạt là khổ, thù hận từ cái nghe lệch lạc là khổ, ngũ dục thế gian chưa no đủ là khổ. Vậy nên niềm tin đầu tiên ta tu học là nghe và ngồi yên để tháo gỡ cái khổ triền luân, khổ não từ nghiệp ái dục phàm nhân. Khi đã là vị tu tập ta sống giữa đời phải nhìn và nghe từ gốc rễ căn bản khổ sầuđể chuyển thức thành tánh Phật tu học dễ thương hơn từ cái nghe sâu lắng về niềm tin.

Tấn căn là ta nghe từ sự thực hành pháp, tu để tinh tấn hơn nữa, và hạ thủ công phu làm đời sống hết lòng bình dị và thanh nhiên.

Niệm căn là nhớ nghĩ về góc nhìn từ cái nghe, cái nghiệp, đưa hơi thở trở lại bản tánh Phật tâm, ta nhớ và nghe chánh pháp từ các bậc cao minh, thế độ ta về con đường thiện lý giải thoát.

Định căn là thiền định căn bản từ cái nghe công án thoại đầu, tu tập chuyển an lạc trở về nội tại bình yên, hạnh phúc đời sống phát sinh trí tuệ từ cái nghe chánh kiến, chánh tư duy và chánh định, tu tập như vậy nhờ vào giới luật nghiêm minh, sáng hơn tâm a lại da thức, dẹp bỏ hạt giống ái nhiễm sầu đau.

Tuệ căn là trí tuệ căn bản phát sinh từ cái nghe do hành trì thiền tập, dẹp tâm tham, sân, si vì đó là gốc rễ khổ đau nhất cho ta và bạn. Vậy thì vị hành trì trí tuệ tu tập, luôn quán chiếu lại cái nghe từ cõi lòng Bồ tát Quán âm.

Ta nghe không phán xét, không phản ứng, không hấp tấp, vội vã, không tụ tập, không tới tấp hồ hởi, mà nghe chân tình từ cái nghe chánh kiến, đúng tư duy không lệch lạc,  xô bồ, nghe từ sâu lắng đến trầm mặc chân nguyên.

Trong một lần hành khất tại quê hương ĐắLắk, nơi thị trấn Chu Đăng, gần chùa Nam Thiên, tôi đã xuống phòng tăng xá khách tăng an nghỉ. Vào đêm khuya khoảng 3 giờ sáng, bên giấc ngủ bên tai tôi như có tiếng gọi: “Cứu, cứu, cứu, xin Thầy cứu mẹ con...

Tôi trả lời:
Sao cứu? Cứu cái gì?
Bên tai đáp trả:
Sáng sớm thầy khoan đánh chuông sớm mà đến 6 giờ đánh nghe thầy!

Tôi như vào giấc ngủ yên. Đến sáng tôi hỏi chú tiểu trong chùa:
Hôm nay, con đánh chuông mấy giờ?
Chú Tiểu đáp:
Con đánh 6 giờ sáng ạ.

Tôi giật mình. Tôi đã kể cho chú tiểu nghe về giấc mơ hôm qua thì chú tiểu đáp: Sáng nay bên dưới khu vực của thầy có một bác đồ tể lên hỏi sao chú tiểu đánh chuông trễ vậy, thì chú tiểu bảo rằng: đêm qua tôi và thầy nghe tiếng  kêu cứu chú hợi…!”

Thế rồi, ngày kế tiếp chú hợi đã sinh ra một đàn lợn 10 con. Như vậy, cái nghe trong mơ đã cứu được một vài sinh mệnh. Đến chiều, bác đồ tể lên xin tôi và đại chúng bỏ nghề và quy y tam bảo. Lúc đó, nhân duyên tôi chỉ ngồi truyền giới bằng tâm thì bác đồ tể đã mỉm cười, rồi chào tôi và chú tiểu ra về trong niềm tin hỷ lạc.

Tôi đem chuyện của mình kể lại cho vị thầy trụ trì, hoan hỷ và đợi ngày gần nhất bác đồ tể sẽ lên quy y tam bảo chính thức với ngôi chùa sát bên lò mổ chừng 3km.

Nghe rồi để học hạnh lắng nghe, gọi vọng về chân tâm Phật ngựsau đó nghe là đề mục quán sát suốt quãng đường tu bụi tại xứ Bắc Hà thành, nơi tôi đủ duyên ứng nghiệm.

Do vậy, tôi thực hành bài kệ sau:
Nghe tâm trú lục thời
Học hạnh quán thế âm.
Nguyện độ khắp nhân thế
Tìm bến giác thậm thân."

Khi đã hành thì nghe từ nguyện lực khắp thế nhân mà tìm vào con đường an tịnh tâm hồn.

Trong bản kinh pháp cú có bài chỉ dẫn ta tìm về cách nghe ứng nghiệm, trong bản dịch tiếng Hán của thầy Nguyên Hùng và thầy Đồng Ngộ, bản dịch phẩm 25 tức giận.

Đối chiếu văn xuôi của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang dịch: Có lời dẫn dắt chúng ta phòng hộ lời từ ái qua cách nghe chuyển tâm, phục trí tư duy trong hành động lắng nghe:
Kẻ ngu dùng lời ác
Muốn hơn bậc thánh hiền
Ai muốn điều phục họ
Giữ im lặng mặc nhiên”
(Kệ 429)

Thật vậy, lời kinh pháp cú dạy từ lời nói của Chư Phật ba đời đã giúp tôi có cái nhìn thấu đáo, im lặng trong chánh pháp, lắng nghe trong niềm tin, để từ đây ta tìm về cuộc sống chẳng còn bận ở trong tâm.

Chúc bạn thành công qua cách nghe minh triệt.

Tk: Thích Minh Thế
Mùa Hạ-2019
Viết tại Phương Thất Phổ Hiền Tịnh Niệm.
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/04/2013(Xem: 14632)
Trong Thiền Luận quyển Hạ này tôi cố gắng ghi dấu mối liên hệ giữa Thiền và hai bản kinh cốt yếu của Đại Thừa, kinh Hoa nghiêm (Ganda vyùha) và kinh Bát nhã (Prajnàparamita), và kế đó là sự chuyển mình phải có đối với Phật giáo Ấn Độ khi thích ứng với tâm hồn người Trung Hoa, Trung Hoa là một dân tộc thực tiễn khác hẳn với Ấn, một dân tộc phú bẩm rất cao về khả năng trừu tượng cũng như kho tàng tưởng tượng bất tận.
23/04/2013(Xem: 24107)
Phần nhiều người ta hay lo lắng những việc về quá khứ và tương lai, chính đó là nguyên nhân gây ra cho họ đời sống vô cùng đau khổ và rối loạn tâm tư. Những việc gì ở quá khứ thì nó đã qua rồi; còn những gì ở tương lai thì nó chưa đến. Như vậy, tại sao họ phải quá lo lắng những gì liên quan đến quá khứ và tương lai? Thế thì, những gì có thể tồn tại ở đời này, họ cần phải quan tâm đến và sống với nó.
22/04/2013(Xem: 10564)
Phương pháp thứ nhất là dùng hơi thở theo dõi hơi thở, không nghĩ gì khác. Phương pháp theo dõi hơi thở ra vào được đức Phật Thích Ca khen ngợi và trực tiếp truyền đạt cho học trò.
22/04/2013(Xem: 10043)
Có rất nhiều người bị xấu hổ khi nói về những tính xấu của họ, nhưng họ lại chẳng xấu hổ gì khi nói về tính xấu của những người khác.
22/04/2013(Xem: 8328)
Làm thế nào để cho việc thực tập của chúng ta có lợi ích đối với người đang bệnh nặng?
22/04/2013(Xem: 7764)
Hiện nay, thế giới đang có sự rối loạn, không hiểu biết , tranh cãi về bệnh tâm thần, thiền định, và sự liên hệ giữa hai đề tài nầy. Các chuyên gia về sức khoẻ thể chất, và tâm thần cũng không hiểu rõ phạm vi nghề nghiệp của họ. Họ cũng không hiểu cái gì là thiền định. Bởi vậy đối với một người bình thường họ sẽ rất bối rối.
22/04/2013(Xem: 6929)
Theo Thiền sư Munindra (1915- 2003), tỉnh thức không phải là điều huyền bí nhưng đó là một một trạng thái bình thường mà chúng ta ai cững có thể thực hiện được bất cứ lúc nào hết. Nên hành thiền trong mọi hoàn cảnh và cho mọi sự việc: lúc ăn, lúc uống, lúc thay quần áo, lúc thấy, lúc nghe, lúc ngửi, lúc nếm, lúc sờ mó, lúc suy nghĩ…
22/04/2013(Xem: 7641)
Giới thiệu: Bà Sarah Lim là một Phật tử gốc Singapore, hiện đang sinh sống tại Úc và có nhiều đóng góp tích cực trong các sinh hoạt Phật giáo. Bài nầy được trích dịch từ một bài pháp thoại của Bà tại thành phố Perth, Tây Úc, vào tháng 9 năm 2002.
22/04/2013(Xem: 8306)
Hình ảnh biểu tượng con trâu là một hình ảnh cụ thể sống động, đã từng được đức Phật sử dụng trong những ngày cuối cùng để dạy các đệ tử của Ngài; nhằm canh giữ cái tâm của họ, cũng như canh giữ một con trâu.
22/04/2013(Xem: 6891)
Khi chúng tôi đặt vấn đề này, chúng tôi vẫn biết đây là một việc làm sai lầm ngốc nghếch; bởi vì vấn đề này đối với Thiền Tông không can hệ gì. Hơn nữa, như chính đức Phật đã dạy ngài Ma Ha Ca Diếp.