Tiếng hát giữa Rừng Thiền

30/09/201310:03(Xem: 16405)
Tiếng hát giữa Rừng Thiền

Thien_Vien_Thuong_Chieu


TIẾNG HÁT GIỮA RỪNG THIỀN

Thân tặng Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành, Đồng Nai

TỊNH MINH




Nhân chuyến tham quan của trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở II năm 1990, chúng tôi được hân hạnh cùng trường viếng thăm Thiền viện Thường Chiếu, được Hòa thượng Viện chủ và các Thiền sinh đón tiếp rất nồng ấm, đặc biệt là các tiết mục văn nghệ “tương chao” với những lời ca điệu nhạc do các Thiền sinh tự biên tự diễn đã để lại trong chúng tôi nhiều ấn tượng đậm đà, thiền vị.

Mở đầu chương trình là hai bản đơn ca: “Chăn trâu I và chăn trâu II”. Nhịp ca trầm lắng, trang nghiêm, nói lên thái độ canh phòng nghiêm mật của các mục tử: không để trâu ăn phá lúa mạ, khoai bắp của người; bắt trâu ăn cỏ thuần túy và phải đi theo đường ngay lối thẳng. Phải chăng các Thiền sinh muốn nói đã là Sa môn thì cuộc đời tu hành cũng thế: Chăn trâu bằng roi thì chế tâm bằng giới, không để cho vọng tâm hiện khởi, lục căn buông lung, vì buông lung phóng dật thì phiền não nhiễm ô, nhiếp tâm chánh niệm thì đạo nghiệp tăng trưởng.

“Tinh cần là đường sanh,

Buông lung là ngõ tử,

Tinh cần thì bất tử,

Buông lung như thây ma!”

(PC. 21)

Ngộ được lẽ ấy nên Thế Tôn thường khuyên các thầy Tỳ kheo phải luôn luôn tỉnh giác và an trú trong chánh niệm.

“Tự thân luôn tỉnh giác,

Đệ tử Gô-ta-ma,

Bất luận ngày hay đêm,

Vui trong cảnh thiền na.”

(PC. 301)

Ta thấy chăn trâu vất vả nhưng hàng phục vọng tâm còn vất vả hơn. Vì sao? Vì tâm ý vô hình vô ảnh, lang thang cô độc, sanh diệt tương tục và chạy nhảy theo trần cảnh như hằng hà sa số lượng sóng trên mặt biển khơi “Nhứt ba tài động vạn ba tùy:

“Tâm tế vi, khó thấy,

Vun vút theo dục trần,

Người trí phòng hộ tâm,

Phòng tâm thì an lạc.”

(PC. 36)

Đúng vậy! Người nào hàng phục được vọng tâm, người ấy có được nhịp thở an lạc.

Sau đó là hợp ca: “Thiền đoàn lao động hành khúc”. Lời ca điệu nhạc duyên dáng, vui tươi và lẫm liệt hẳn lên, thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, tự lực tự cường theo truyền thống Bách Trượng Thiền sư:

“Một ngày không làm là một ngày không ăn,

Dắt trâu ra đồng vừa làm vừa chăn,

Theo chân người xưa quản gì gian khó,

Sống chết ta không màng miễn được là Tăng.”

Hùng tráng thay! Cao đẹp thay! Chính nhờ tinh thần tri túc, ý chí vượt khó và lý tưởng chăn trâu mà rừng hoang u tịch trở thành chùa tháp nguy nga, cây cỏ hoang vu biến thành hoa hương ngào ngạt. Đúng là:

“Giữa đống rác bẩn thỉu,

Vất bỏ bên đường hoang,

Hoa sen thơm ngào ngạt,

Đẹp lòng khách qua đàng.”

(PC. 58)

Có lẽ các Thiền sinh đang sống trọn vẹn với tinh thần “Nội vô sở đắc, ngoại vô sở cầu” nên rất tự tại trong lao động và an lạc trong thiền môn.

“Một ngày không làm là một ngày không ăn,

Có đâu chỉ ngồi mới thiệt là Tăng,

Trâu đen rồi đây sẽ thành trâu trắng,

Chẳng phí đi kiếp người mới thật là Tăng.”

Trâu đen rồi đây sẽ thành trâu trắng, vọng tâm điên đảo rồi đây sẽ thành cứu cánh Niết bàn. Nếu được thế thì thật là:

“Tỳ kheo tuy trẻ tuổi,

Chuyên tu pháp Phật Đà,

Như trăng thoát mây chắn,

Soi sáng trần gian ta.”

(PC. 382)

Lời ca được Ni chúng Viên Chiếu nối tiếp với hai bài hợp xướng: “Viên Xuân và Huơng khói Tào Khê” rất sinh động, thanh thoát; nội dung ca ngợi nếp sống thiền môn đạm bạc nhưng nồng thắm ân đức Tôn Sư và hương sắc mùa xuân. Ánh mắt của Hòa thượng hiệu trưởng và Hòa thượng Viện chủ hiện rõ nét hoan hỷ “niêm hoa vi tiếu”. Nhà thơ Tống Anh Nghị thì mát ruột đến nỗi đôi chân cứ nhịp theo lời hát để rồi ứng khẩu:

“Chẳng nhớ về đây được mấy lần,

Mỗi lần chỉ nhớ một thâm ân,

Thiền môn quyến luyến như thân quyến,

Dẫu chẳng còn xuân vẫn thấy xuân.”

Đã ngoài cái tuổi “cổ lai hy” nhưng nhà thơ vẫn thấy trong lòng rộn rã ánh xuân và đượm tình ân đức.

* * *

ht-thanh-tu

Ta thấy xưa nay giới luật nhà Phật không cho phép Tăng Ni vũ ca xướng hát hay cố ý đi xem nghe: “Bất ca vũ xướng kỵ cập cố vãng quan thính”, nhưng Hòa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu lại cho phép các Thiền sinh thoải mái thể hiện sở đắc của mình qua lời ca tiếng nhạc. Đây là điểm rất mới trong cửa thiền. Phải chăng các Thiền sinh đã qua được các giai đoạn tìm trâu, thấy dấu, thấy trâu, được trâu, chăn trâu và giờ đây đang cưỡi trâu về nhà với tiếng sáo tiếng đàn hòa vang theo gió. Hy vọng rồi đây họ sẽ quên trâu, quên người, tự tại vô ngại: “Vào rừng không khua lá, vào nước không quậy sóng”, thõng tay vào chợ như vào cõi vô dư niết bàn. Thảo nào người xưa có câu:

“Nếu không là nghệ sĩ thì không là tu sĩ,

Nếu không là thi sĩ thì không là Thiền sư.”

Hy vọng rồi đây những khúc nhạc Thiền thắm tình đời đạo sẽ được chân thành hợp xướng trong các khóa lễ thiền môn.

(Đã đăng trong tuần báo Giác Ngộ, mùa Vu Lan 1990)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/05/2014(Xem: 8828)
Nhiều người gặp tôi trong bệnh viện thường hỏi tôi Thiền là gì. Tôi giải thích với họ Thiền chú ý về một đối tượng đặc biệt nào đó nhằm một mục tiêu đặc biệt. Những người thực tập tâm linh trong các truyền thống khác nhau trong nhiều quốc gia đã sánh tạo ra nhiều cách thực hành thiền khác trong nhiều thế kỷ. Có thể nói có hàng trăm cách thực hành thiền khác nhau và mục đích của Thiền là ‘thức tỉnh’, giúp chúng ta chuyển hóa và thay đổi, nhờ hiểu biết, lòng từ bi và đạt được cái nhìn đúng (chính kiến).
21/05/2014(Xem: 7853)
Cuộc cách mạng thực tập Thiền Chánh Niệm bắt đầu bằng một động tác giản dị là chú ý đến hơi thở, cảm thọ trong thân và tâm, nhưng rõ ràng là có thể đi rất xa. Nó giúp chúng ta lập lại thăng bằng của đời sống trong gia đình, bạn bè và nhất là duy trì và tăng cường sức khỏe. (Viết theo Barry Boyce và những người Biên Tập của Shambhala Sun)
13/04/2014(Xem: 7542)
Tôi thực sự thấy “sốc” khi nhận những bức ảnh từ một người bạn, qua mạng internet. Đó là một tập tin (file) dạng Power Point Show có tên We are so lucky – food and water. Pss (chúng ta may mắn biết bao, với thức ăn và nước) tả cái đói kinh hoàng và thảm khốc ở Châu Phi. Tập tin này mang theo thông điệp gồm nhiều câu văn ngắn cho từng slide.
13/04/2014(Xem: 13379)
Bối cảnh lịch sử của Phật giáo trước sự ra đời của phương pháp Thiền Tịnh song tu Trên phương diện Phật giáo sử, dễ dàng nhận thấy Thiền Tông và Tịnh Độ Tông xuất hiện trong khoảng thời gian trước và sau đời Tùy-Đường[1]; từ đó pháp niệm Phật Thiền hình thành và liên quan sự phát triển pháp Thiền Tịnh Song Tu. Vấn đề này, trước tiên cần tìm hiểu về ý nghĩa niệm Phật trong kinh điển Phật giáo Nguyên Thủy, cụ thể trong kinh A Hàm, kinh tạp A Hàm, kinh Tăng Chi và trong kinh điển Đại Thừa. Thời Phật tại thế đã dạy đệ tử xuất gia, tại gia về phương pháp niệm Phật như là phương thức quán niệm hỗ trợ cho pháp thiền định, bảo hộ đời sống an lành, đối trị mọi phiền não.
02/04/2014(Xem: 13215)
Nhân công trong những quốc gia bị trị của nhiều thế kỷ trước, phần lớn đều bị bóc lột, thậm chí còn bị đánh đập nếu làm sai hoặc không đủ số lượng mà chủ ấn định. Ngày nay, xã hội tiến bộ, số phận của người làm công được cải tiến. Nhưng nhiều hảng xưởng vẫn chưa thu hoạch được lợi nhuận như đã dự trù, vì nhiều yếu tố nội tại của công nhân và cách hành xử mà người chủ cần có.
26/03/2014(Xem: 18439)
Trị liệu ung thư bằng chánh niệm là một tập sách ghi chép lại kinh nghiệm của thầy Chân Pháp Đăng về quá trình trị liệu thành công căn bệnh ung thư ruột già của thầy mà không sử dụng những phương pháp y khoa hiện đại như hóa trị, xạ trị….
18/03/2014(Xem: 11967)
Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói: “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”. Luận nói tiếp: “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.
15/03/2014(Xem: 19364)
“Con người thường trở thành cái mà họ muốn. Nếu tôi cứ nghĩ rằng tôi không thể làm được điều ấy, thì chắc chắn rút cuộc tôi sẽ không làm được gì. Trái lại nếu tôi tin, tôi có thể làm thì sớm muộn gì tôi cũng sẽ thành tựu như ý muốn”. Thánh Ghandi *
22/02/2014(Xem: 11054)
Nhân quả là đạo lý căn bản của người học Phật. Người tu, nhất là tu Thiền cần phải hiểu rõ, nhận kỹ điểm này, không để sảy chân sa đọa phải hối hận kiếp kiếp lâu dài. Bời người tu Thiền thường nghe nói: “Xưa nay không một vật”, thì nhân quả để ở chỗ nào? Nhân quả có hay không ?
20/02/2014(Xem: 11873)
Mùa đông năm 1991, tôi ra Vũng Tàu dưỡng bệnh ở nhờ thất Thích Ca của Quan Âm Phật đài. Trước cưả thất nhìn xuống mặt biển có cây bồ đề sum sê che rợp, râm mát cả thất. Tôi thường ra đứng dưới tàng cây nhìn xuống biển. Một hôm, tôi đứng nhìn ra biển thấy biển cả thênh thang sóng bủa trắng xóa, lúc đó có chú thị giả đứng bên cạnh, nhìn sang chú tôi hỏi: "Ðố chú nước có dậy sóng không?"