Phương pháp Thập niệm

16/04/201706:27(Xem: 9366)
Phương pháp Thập niệm



phat a di da-2

Phương pháp Thập niệm


 

 

Theo kinh A-di-đà, người cực ác cũng có thể vãng sanh Tịnh độ, nếu lúc lâm chung người ấy có thể chấp nhận đức tin Tịnh độ và nhất tâm niệm tưởng đức Phật A-di-đà trong mười niệm liên tục. Do đó, mặc dầu pháp môn Tịnh độ bình thường khuyến khích mọi người đến với đức Phật A-di-đà sớm hơn trong đời mình, Thập Niệm là phương pháp cầu sự cứu độ vào phút chót. Cách nầy có thể áp dụng hằng ngày, hay là hình thức thực tập niệm Phật trong lúc lâm chung.

 

Phương pháp Thập Niệm do một vị Đại sư nổi tiếng giảng dạy dựa trên sự vãng sanh Hạ phẩm được diễn tả trong Quán Kinh. Phương pháp nầy đặc biệt dành cho những người quá bận bịu với cuộc sống nên hằng ngày không thể niệm Phật (nhiều lần) để cầu vãng sanh như người tu Tịnh độ bình thường. Do đó, cách nầy dạy niệm danh hiệu Phật A-di-đà khoảng mười lần mỗi khi hít vào và thở ra. Chủ đích của phương pháp nầy là dùng hơi thở để tập trung tâm ý. Tùy theo hơi thở dài hay ngắn mà hành giả có thể niệm được nhiều hơn hay ít hơn 10 danh hiệu. Sau mười lần hít vô--thở ra (tức là niệm được tổng cộng khoảng từ 50 đến 100 câu Phật hiệu), hành giả có thể bắt đầu tụng bài thơ hồi hướng công đức sau đây:

 

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung    / Con nguyện sanh về Tịnh độ,

Cữu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu                 / Hoa sen chín phẩm là cha mẹ

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh                 / Hoa nở thấy Phật, ngộ được vô sanh

Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ                             / Bồ-tát bất thối chuyển là bạn mình

Nguyện dĩ thử công đức                             / Nguyện đem công đức nầy

Phổ cập ư nhứt thiết                                   / Hồi hướng về tất cả

Ngã đẳng dữ chúng sanh                            / Con và chúng sanh

Giai cộng thành Phật đạo                           / Đều trọn thành Phật đạo

 

Sau khi đọc xong bài nguyện, hành giả lạy Phật ba lạy trước khi thối lui.

 

Phương pháp Mười Niệm bắt nguồn từ lòng từ bi vô hạn của Phật Thích-ca và chư Tổ sư. Dầu bận rộn cách mấy, hành giả cũng có thể áp dụng cách niệm Phật nầy để bước vào con đường giải thoát. Có một điểm cần cảnh giác: Trong khi hít vào và thở ra, hành giả chỉ cần niệm một số danh hiệu vừa đủ để cảm thấy dễ chịu, không nên cố gắng kéo dài hay rút ngắn hơi thở mình - nếu gượng ép có thể vướng bịnh phổi.

 

Phương pháp Thập Niệm là phương pháp phổ quát, đúng với tinh thần Phật giáo Đại thừa bởi vì nó có thể lợi ích cho cả người độn căn và lợi căn. Đối với người độn căn, đây là phương tiện để an ủy và giúp họ bước vào cửa giải thoát. Đối với người thượng căn, đây là cách tập trung tâm ý để chứng tam-muội và cuối cùng đạt Phật quả vô thượng.



(“Ten Recitations method”, Seeker’s Glossary of Buddhism, p. 470-471, Thích Phước Thiệt dịch)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/09/2013(Xem: 14087)
Sáng dậy đọc xong cuốn Phật thuyết A Di Đà Kinh Yếu giải của đại sư Ngẫu Ích Trí Húc, được pháp sư Tịnh Không giảng thuật bỗng dâng lên nỗi cảm khái. Ngẫm lại, Phật giáo ngày nay đã đi sâu vào đời sống. Số lượng người đi chùa lễ Phật, quy y Tam bảo cũng nhiều. Xã hội ngày nay công việc bận rộn, người học Phật đa phần tu theo pháp môn Tịnh độ, đơn giản vì nó giản dị, dễ tu, hơn nữa cũng không có thời gian tham Thiền hay tu các môn khác. Tổ Vĩnh Minh có nói: “Tịnh độ vạn người tu, vạn người vãng sinh”.
14/09/2013(Xem: 18810)
Kinh A Di Đà là một bản Kinh rất phổ biến được truyền tụng hàng ngày trong đời sống đạo của Phật tử ở các nước Viễn Đông châu Á, nhất là ở Việt Nam. Vị trí của Kinh luôn luôn được xây dựng trên căn bản của niềm tin; và trong lòng người hành trì, Kinh chính là con đường dẫn đến thế giới Tịnh độ - một thế giới không có khổ đau, không có sinh lão bệnh tử, thế giới của niềm phúc lạc vô biên.
11/09/2013(Xem: 7939)
Các bậc tổ sư thường dạy đồ chúng cách tâm niệm để làm phương châm hành trì. Xin Sư ông cho chúng con một lời khuyên dưới hình thức một lời tâm niệm? Người xưa thường nói: “Sanh tử sự đại” nhưng mình đã quen sống trong sanh tử, ai cũng vậy hết, nên không thấy quan trọng. Kỳ thật, lấy mắt đạo mà nhìn vào thì đó là việc lớn của mọi người, của chúng sanh. Đã lăn lóc mãi trong nhiều đời, hiện tại nếu không cố gắng thì những đời sau cũng vẫn lẩn quẩn trong vũng lầy sanh tử mà thôi.
07/09/2013(Xem: 7109)
“Nếu như ngày xưa Đức Phật chỉ bày duy nhất một pháp môn thôi, ví dụ một là thiền, hai là tịnh, ba là mật…hoặc là Pháp Hoa tông, Luật tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông… thì giờ tốt biết mấy. Vì con thấy không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả ở Nhật Bản, Trung Hoa hay tất cả các nước tu học theo tinh thần Phật giáo thì thường có những xung đột, dù không có gì là lớn lắm giữa các Phật tử theo các tông phái khác nhau”. Tôi có trả lời rằng: “Dù cho mình có trí tuệ đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới như Ngài Xá Lợi Phất thì cũng không bằng Đức Phật. Đức Phật thấy suốt, biết hết nên Ngài mới tùy căn cơ của chúng sinh mà bày ra các phương tiện khác nhau”
01/09/2013(Xem: 12909)
Hôm nay, tôi sẽ nói đề tài: "Chỗ gặp gỡ và chỗ không gặp gỡ giữa Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông". Phật giáo Việt Nam chúng ta có chia ra nhiều tông phái, nhưng xét kỹ thì có ba tông chính: Thiền Tông, Tịnh Ðộ Tông và Mật Tông
26/07/2013(Xem: 12958)
Niệm Phật
25/07/2013(Xem: 8576)
Cứu cánh trí tuệ Phật Giáo là chứng đắc Tánh Không của vạn pháp. Trong kinh điển, Tánh Không là pháp giới Tánh, cũng chính là Phật Tánh. Phật tánh không ngằn mé, không hạn lượng, không đối đãi giữa sanh và tử, giữa có và không... Phật tánh kết tập hưng khởi từ sức trí tuệ vô lượng và tâm đại bi vô biên. Đức Phật thường dạy, Bồ Tát đạo nương Phật tánh làm con đường, nương trí huệ Bát Nhã làm thuyền độ sanh. Nhờ nương sức từ bi của chư Phật, Bồ Tát quán sát thế gian như hư huyễn, không thật có sinh diệt, như hoa đốm giữa hư không. Bồ Tát tinh tấn phổ độ chúng sanh không mệt mỏi, không nhàm lìa, nhưng không thấy mình vĩ đại, không thấy chúng sanh đáng tội nghiệp, không thấy mình cao cả, đáng làm chỗ cho chúng sanh cúng dường… Vì dù có chấp, có thấy đến thế nào chăng nữa, thì điểm cuối cùng trên đạo lộ giải thoát vẫn phải là “tâm, Phật, chúng sanh - ba thứ ấy đều không sai biệt”.