Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Kim chỉ nam của pháp tu niệm Phật

26/12/201309:20(Xem: 6181)
Kim chỉ nam của pháp tu niệm Phật
A_Di_Da_Phat_5

KIM CHỈ NAM CỦA PHÁP TU NIỆM PHẬT

Trích dẫn từ: Tây Phương Nhựt Khóa - Cố Hòa Thượng Đại Ninh - Thích Thiền Tâm


NIỆM NIỆM TƯƠNG TỤC
Thí dụ như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp cầm gươm rượt theo muốn giết (dụ cho sanh tử, vô thường, không tha mạng sống). Người đó sợ hải quá, cắm đầu chạy riết, đến chỗ gặp một con sông chắn ngang qua (con sông sanh tử. Bờ bên này là sanh tử ngạn, bờ bên kia là giải thoát ngạn). Người ấy vừa chạy trốn vừa thoáng nghĩ trong đầu rằng - Nếu ta lội qua khỏi được con sông này, đến BỜ BÊN KIA thì mới mong bảo toàn thân mạng. Nhưng để y phục mà lội hay là cởi bỏ? Nếu để y phục mà lội sợ e vướng mắc, lúng túng tay chân khó bơi. Còn cởi bỏ thì không kịp nữa rồi, vì giặc cướp đã rượt tới sau lưng (đây là dụ cho cái chết đã gần kề không còn xa nữa). Bấy giờ người ấy chỉ còn có một NIỆM DUY NHẤT là làm sao cho qua sông được thì thôi chớ không còn có ý nghĩa chi khác… Thì người NIỆM PHẬT chúng ta đây cũng y như vậy, nghĩa là: Chỉ chuyên tâm tha thiết niệm. Đừng nghĩ ngợi điều chi khác cả (tức là dứt hết mọi tạp tưởng). Câu NIỆM PHẬT này vừa DỨT thì câu NIỆM PHẬT khác TIẾP NỐI theo liền (đừng có để phí thời giờ). NIỆM NIỆM nối nhau liên tục như vậy cho đến MƯỜI NIỆM. Đây gọi là “THẬP NIỆM tương tục” (Tức là 10 niệm nối nhau không dứt).
(Đàm Loan Pháp Sư dạy)
XƯNG DANH HIỆU PHẬT
Đức PHẬT (Thích Ca và A DI ĐÀ) xót thương, khuyên TA nên chuyên xưng danh hiệu A DI ĐÀ Phật.
Bởi vì phép niệm Xưng danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT này rất dễ, nếu có thể giữ mãi mỗi niệm nối nhau như thế, lấy suốt cả đời mình để làm hạn định, thì mười người tu, mười người vãng sanh; Trăm (ngàn) người tu, trăm (ngàn) người vãng sanh. Tại sao vậy? Bởi vì không có duyên tạp (Không có suy nghĩ điều chi khác hết) nên được CHÁNH NIỆM. Hạp với bản nguyện của Phật A DI ĐÀ (Đại nguyện thứ 18, 19, 20). Vì không trái với lời Kinh, Vì thuận theo lời PHẬT dạy, cho nên dễ vãng sanh.
(Liên Tông nhị Tổ – Thiên Đạo Đại Sư dạy)
BA NGHIỆP THANH TỊNH
  • Chí tâm niệm PHẬT nghĩa là: Ý nghiệp làm lành.
  • Xưng danh hiệu PHẬT nghĩa là: KHẨU nghiệp làm lành.
  • Chấp tay, cúi mình lạy PHẬT nghĩa là: THÂN nghiệp làm lành.
Nếu giữ ba nghiệp THÂN, KHẨU, Ý làm lành như vậy trọn đời, thì một câu niệm PHẬT có thể diệt được tội nặng trong 80 ức kiếp sanh tử.
(Hoài Cảm Đại Sư dạy)
LỄ BÁI - NIỆM PHẬT - PHÁT NGUYỆN
Lúc lễ bái, niệm PHẬT và phát nguyện phải k
hẩn thiết, chí thành, không xen lẫn tạp tưởng như người sắp sửa bị giết mà cầu được tha, như người bị giặc cướp rượt đuổi .. mà muốn được thoát, như bị nước trôi, lửa cháy, một lòng mong được cứu nạn. Niệm Phật phải khẩn cấp và chí thành như thế thì mới thành tựu được công phu. Tóm lại nếu: Nói một đường, làm một nẻo (Tức là miệng thì nói niệm PHẬT mà lòng không chịu niệm). Lời nói và hành động chẳng giống nhau, lòng TIN (nơi Tịnh Độ pháp môn) không vững chắc. Nay thì niệm, mai mốt lại bỏ bê, biếng trễ, niệm như thế ắt khó được vãng sanh.
(Liên Tông Lục Tỗ Vĩnh Minh đại sư dạy)
KHÔNG QUÊN CÂU PHẬT HIỆU
Người tu pháp NIỆM PHẬT
dù cho đang khi làm công việc nặng nhọc chi, song TRONG TÂM LÚC NÀO CŨNG KHÔNG QUÊN CÂU NIỆM PHẬT. Giả sử như lỡ có quên thì phải cảnh tỉnh ngay lập tức và nhiếp tâm niệm trở lại… Tập như thế lâu ngày thành quen…Đến khi gần lâm chung thì dù cho thân có bị bịnh khổ dày vò, đau đớn, nhưng tâm vẫn KHÔNG QUÊN câu niệm PHẬT… Khi vừa tắt thở thì thần thức liền nương theo câu niệm PHẬT ấy mà đi, quyết định sẽ được vãng sanh về nơi CỰC LẠC
(Tuân Thức đại sư dạy)
CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT
Người tu Tịnh độ muốn được vãng sanh thì việc CHÁNH YẾU là phải CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT,
còn phần phụ thì phải dứt trừ điều ác, làm những hạnh lành. Đem các công đức ấy mà hồi hướng và nguyện sanh về chốn Tây Phương, ắt sẽ được mau thành tựu, như thuyền đi xuôi gió, lại còn thêm được thuận dòng (nước) vậy.Sớm tối chuyên tâm lễ PHẬTnhư người (làm quan) đi chầu vua không dám sơ sót. Còn như người niệm PHẬT thì phải:
  • Miệng niệm PHẬT, tâm phải tưởng PHẬT
  • Tâm và miệng đều hợp nhau
  • Phát lòng chí thành, trân trọng
  • Tin chắc (nơi lời Phật dạy về pháp môn Tịnh độ) đừng có nghi ngờ
  • Mỗi ngày đều phải siêng năng chớ đừng nên biếng trễ.
Thì chắc chắn là sẽ thành tựu được môn NIỆM PHẬT Tam muội. Chừng đó lo gì không được vãng sanh.
(Từ Chiếu đại sư dạy)
TỊNH NIỆM TƯƠNG TỤC
Người niệm PHẬT phải nên g
iữ một câu Nam mô A DI ĐÀ PHẬT như dựa vào núi Tu Di, lay chuyển chẳng động (Tức là dù cho có ai bài bác, phá hoại thế mấy đi nữa quyết cũng chẳng nghe). Thường nhớ, thường niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm… Tâm niệm PHẬT chẳng bỏ qua, câu niệm PHẬT chẳng rời lòng. Mỗi giờ, mỗi khác, cũng nhớ niệm, niệm hoài không bỏ lỡ, giống như gà ấp trứng phải thường cho hơi ấm tiếp tục thì trứng mới nở con. Còn niệm Phật hoài mà không bỏ qua thời giờ gọi là “Tịnh niệm tương tục” ắt bông sen của mình sẽ mau nở vậy.

Chuyên lòng xưng danh hiệu PHẬT
, nhứt tâm, nhứt ý nắm giữ một câu A DI ĐÀ PHẬT. Bởi vì:
  • Chỉ một NIỆM này tức là PHẬT A DI ĐÀ
  • Chỉ một NIỆM này là viên mãnh tướng (tướng mạnh) phá địa ngục
  • Chỉ một NIỆM này là thanh gươm báu chém bầy ma, tà
  • Chỉ một NIỆM này là ngọn đuốc sáng phá cảnh tối tăm (Vô minh)
  • Chỉ một NIỆM này là con thuyền to vượt qua biển khổ
  • Chỉ một NIỆM này là thuốc hay trị dứt bệnh sanh tử
  • Chỉ một NIỆM này là đường tắt mau ra khỏi tam giới
  • Chỉ một NIỆM này là tự tánh DI ĐÀ
  • Chỉ một NIỆM này là duy tâm Tịnh độ.
Giữ chắc một câu NIỆM: Nam mô A DI ĐÀ PHẬT này đừng cho quên mất
  • Có việc cũng niệm như vậy, không việc cũng niệm như vậy
  • Có bệnh cũng niệm như vậy, không bệnh cũng niệm như vậy
  • An vui cũng niệm như vậy, buồn khổ cũng niệm như vậy
  • Sống cũng niệm như vậy, chết cũng niệm như vậy.
Cứ NIỆM NHƯ VẬY mãi thì cần chi phải hỏi ở nơi người khác để tìm ra đúng đường về ư?
(Ưu Đàm đại sư dạy)
MƯỜI CÔNG ĐỨC NIỆM PHẬT
Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng dạy:
Niệm Phật lớn tiếng có 10 công đức là:
  1. Đánh tan cái tâm hôn trầm, mê ngủ
  2. Thiên Ma kinh sợ
  3. Tiếng vang xa khắp 10 phương
  4. Ba đường ác được nhờ vào đó mà dứt khổ
  5. Tiếng động chung quanh không xâm nhập vào làm loạn thâm mình được
  6. Niệm tâm không tán loạn
  7. Mạnh mẽ tinh tấn
  8. Chư PHẬT vui mừng
  9. Tam Muội hiện tiền
  10. Được vãng sanh Cực lạc.
Nên biết pháp môn TỊNH ĐỘ này chẳng cần lựa chọn kẻ trí, ngu, sang, hèn, nghèo, giàu. Cũng chẳng cần phân biệt kẻ nam, nữ, già, trẻ, tăng, tục. Chẳng luận kẻ mới tu hay tu lâu. Tất cả đều có thể niệm PHẬT được. Hoặc niệm lớn, hoặc niệm nhỏ, niệm ra tiếng, niệm thầm, vừa lạy vừa niệm, nghiên cứu mà niệm, nhiếp tâm mà niệm, quán tưởng mà niệm, lần chuỗi mà niệm. Giữ câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT liên tục không dứt như dòng nước chảy mà niệm, cho đến đi cũng niệm, đứng cũng niệm, ngồi cũng niệm, nằm cũng niệm, ngàn muôn niệm (đời lộn xộn) đều gom về nơi một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT như thế… Niệm theo cách nào cũng được, điều cốt yếu là giữ cho lâu bền đừng lui sụt (đây tức là HẠNH đó), phát lòng TIN quyết định đừng cho bị lay chuyển (đây tức là TÍN đó). Nếu quả thật hành trì câu niệm PHẬT được đúng như thế, thì cần chi tìm bậc tri thức để hỏi đường (nào về Cực lạc) ư!
(Tông Bổn đại sư dạy)

BỐN PHÁP NIỆM PHẬT
  1. Niệm thầm (tiếng nhỏ).
  2. Niệm ra tiếng (lớn).
  3. Niệm không ra tiếng (mặc niệm).
  4. Niệm Kim cang trì (se sẽ động môi, lưỡi mà niệm).
Niệm thầm thì dễ bị hôn trầm; Niệm lớn tiếng thì bị mau mệt (hao hơi); Duy chỉ có cách niệm “KIM CANG TRÌ” là có thể bền lâu. Tuy nhiên cũng không nhứt định, nếu như thấy cần thiết thì có thể thay qua, đổi lại cũng không sao. Tâm hôn trầm, tán loạn đã có lâu kiếp nhiều đời rồi, ắt nhiên không thể nào trong một lúc mà an định được. Cho nên người niệm PHẬT nếu thấy tâm không được thanh tịnh cũng đừng có lo ngại chi. Chỉ cần khi niệm PHẬT, mỗi chữ mỗi câu đều do từ nơi TÂM mà phát ra, dụng công phu như vậy lâu ngày, sẽ có hiệu quả.

TẠP NIỆM LÀ BỆNH - NIỆM PHẬT LÀ THUỐC
Niệm PHẬT chính là hành môn để trị tạp niệm đó. Nếu niệm PHẬT mà không thấy hiệu quả, đó là tại mình dụng công chưa được chơn thành và tha thiết. Cho nên mỗi khi tạp niệm nổi lên, phải chuyên tâm cố gắng trì niệm, mỗi chữ mỗi câu phải rành rẽ, rõ ràng. Thì tạp niệm tự nhiên được dứt trừ. Người học PHẬT, niệm PHẬT đừng quá nên chạy theo hình thức bên ngoài, chỉ quý là ở nơi CHÂN THẬT TU HÀNH. Hàng cư sĩ Phật tử tại gia không cần phải cạo tóc, mặc áo đà làm chi. Tự có thể để tóc, mặc áo tràng (lam) mà niệm Phật cũng được. Người thích thanh vắng, không cần phải đánh chông mõ, tự có thể yên lặng mà niệm PHẬT cũng được. Người sợ công việc phiền phức, không cần phải kết bè, lập hội làm chi, tự mình có thể đóng cửa mà niệm PHẬT. Người biết chữ, nếu có thật tâm quyết tu, không nhứt định và bắt buộc phải vào chùa nghe Kinh, tự có thể xem Kinh, y theo lời dạy trong ấy mà niệm PHẬT. Trải qua ngàn dặm xa xôi hành hương không bằng hiếu thuận với Cha Mẹ mà niệm PHẬT. Giao du với bạn bè kém đạo đức, không bằng kẻ dốt nát mà chuyên tâm niệm PHẬT. Hạnh thấp mà vọng nói Đạo lý cao siêu, không bằng kẻ thiệt thà, chất phát mà niệm PHẬT. Tánh ưa thích sự háo kỳ, ham cầu sự linh thiêng của Thần Thánh, ma quỷ, không bằng chánh tâm tin nơi lý nhơn quả mà niệm PHẬT. Người niệm PHẬT:
  • Giữ lòng ngay. Dứt hạnh ác. Đây gọi là THIỆN NHƠN.
  • Nhiếp tâm trừ tán loạn. Đây gọi là HIỀN NHƠN.
  • Tỏ rõ tâm tánh, dứt được hoặc nghiệp. Đây gọi là THÁNH NHƠN.
(Liên Tông Bát tổ Liên Trì đại sư dạy)
NGƯỜI CHÂN THẬT NIỆM PHẬT - LỤC ĐỘ VẠN HẠNH
  • Buông bỏ cả thân, tâm, ấy là ĐẠI BỐ THÍ.
  • Không khởi tâm tham, sân, si, ấy là ĐẠI TRÌ GIỚI.
  • Không cải cọ, phải quấy, hơn thua, ấy là ĐẠI NHẪN NHỤC.’
  • Không gián đoạn, xen tạp, ấy là ĐẠI TINH TẤN.
  • Không để cho vọng tưởng buông lung, ấy là ĐẠI THIỀN ĐỊNH.
  • Không bị các đường lối tu khác làm cho mê hoặc, ấy là ĐẠI TRÍ HUỆ.
Trái lại, nếu chẳng như thế thì không được gọi là CHƠN THẬT NIỆM PHẬT.

SỰ TRÌ - LÝ TRÌ
  • SỰ TRÌ là Tin có Phật A DI ĐÀ ở phương Tây, có thế giới Cực Lạc, có Chín Phẩm sen vàng, quyết chí niệm PHẬT, cầu được sanh về nên niệm PHẬT hoài, thiết tha như con nhớ Mẹ không lúc nào quên.
  • LÝ TRÌ là Tin Phật A DI ĐÀ, cõi Tây Phương, 9 phẩm sen vàng… trong tâm mình đều có đủ hết, do tâm mình tạo ra hết cả. Rồi đem câu Nam mô A DI ĐÀ PHẬT ấy, tạo thành ra cái CẢNH để buộc chặc TÂM mình vào đó, khiến cho không lúc nào quên.
(Liên Tông Cửu Tổ Ngẩu Ích đại sư dạy)
NGUYỆN BAO GỒM CẢ TÍN, HẠNH
TÍN là tin nơi TỰ, THA, NHÂN, QUẢ, SỰ và LÝ.
  • Tin TỰ là tin tất cả đều do tâm mình tạo, nên nếu mình niệm PHẬT ắt sẽ được PHẬT tiếp dẫn.
  • Tin THA là tin Phật THÍCH CA không nói dối, Phật A DI ĐÀ chẳng bao giờ nguyện suông.
  • Tin NHÂN là tin niệm PHẬT đó chính là gieo nhân vãng sanh, giải thoát.
  • Tin QUẢ là tin sự vãng sanh, thành Phật là kết quả.
  • Tin SỰ là tin cõi Tây Phương và tất cả sự tướng nơi nước Cực Lạc mà Phật thuyết ra trong Kinh thảy đều có thật.
  • Tin LÝ là tin “Lý tánh duy tâm”, tức là TÂM của mình bao trùm hết tất cả các thế giới khắp 10 phương.
HẠNH là thực hành, là chuyên trì danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT không xen tạp và không tán loạn suốt cả đời mình. NGUYỆN là mỗi tâm của mình khởi ra đều có lòng ưa thích cõi Cực Lạc, mỗi niệm của mình khởi ra đều có ý mong cầu được sanh về. Trong ba điều TÍN, HẠNH, NGUYỆN này, người tu Tịnh Độ cần phải hội đủ, quyết định không thể thiếu được một điều nào cả. NGUYỆN là điều cần yếu nhất. Có thể có TÍN, HẠNH mà không có NGUYỆN. Chớ chưa từng thấy có việc: có NGUYỆN mà không có TÍN, HẠNH bao giờ cả. Cho nên nói chữ NGUYỆN bao gồm cả TÍN và HẠNH chính là như vậy.

PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
Niệm PHẬT
mà không phát tâm BỒ ĐỀ thì không tương ưng (không hợp) với bổn nguyện của Phật A DI ĐÀ, sẽ không được vãng sanh. Tâm Bồ Đề là tâm lợi mình, lợi người, trên cầu thành Phật quả, dưới nguyện độ chúng sanh. Còn nếu như vẫn có phát tâm Bồ Đề mà không chịu niệm PHẬT (thì) cũng không được vãng sanh nữa. Vì vậy nên phải: Lấy sự phát tâm Bồ đề làm CHÁNH nhơn, niệm PHẬT làm TRỢ (duyên) nhơn. Sau đó rồi mới phát nguyện cầu sanh Cực Lạc. Người Phật tử tu Tịnh Độ cần phải biết rõ các điều này.
(Liên Tông thập nhứt Tổ – Tỉnh Am đại sư dạy)
Thiệt vì sanh tử,phát lòng Bồ đề.
Lấy TÍN, NGUYỆN sâu, TRÌ danh niệm PHẬT.

16 chữ này là tông yếu (Quan trọng bực nhất) của pháp môn Tịnh Độ. Bởi tất cả sự khổ trong đời này không gì hơn việc sống, chết. Cho nên nếu tu hành, niệm Phật mà không cầu để thoát vòng sanh tử là một điều sai lầm rất lớn. Nhưng đã phát ĐẠI TÂM rồi thì phải tu ĐẠI HẠNH. Mà trong các hành môn tu, thì phương pháp dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên ổn, rất viên đốn (đầy đủ) thì không có môn tu nào bằng. DÙNG TÍN, NGUYỆN SÂU, TRÌ DANH NIỆM PHẬT. Nói TRÌ DANH đây là chấp giữ một câu A DI ĐÀ PHẬT trong lòng KHÔNG PHÚT NÀO QUÊN. Nếu quên hoặc là có một niệm nào khác xen vào thì không được gọ là CHẤP GIỮ (chấp trì). Như thế mà hành trì cho đến trọn đời, ắt sẽ được vào cảnh “Nhứt tâm bất loạn” mà thành tựu được sự nghiệp Tịnh độ vậy. Tâm tạo nghiệp được, thì tâm cũng chuyển nghiệp được. NGHIỆP đã do TÂM tạo, thì cũng tùy theo TÂM mà chuyển được. Nếu TÂM mình không chuyển được NGHIỆP, thì bị NGHIỆP trói buộc. Còn như NGHIỆP mà không chuyển được theo TÂM, thì có thể buộc TÂM. Nhưng dÙNG TÂM THẾ NÀO mới chuyển được NGHIỆP? Ấy Là: Giữ TÂM hợp với điều kiện ĐẠO ĐỨC, hợp với PHẬT. NGHIỆP làm sao buộc được TÂM? Ấy Là: Cứ để TÂM y theo “đường xưa lối cũ”, buông lung theo cảnh lục trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) vậy.
(Liên Tông thập nhị Tổ, TRIỆT NGỘ đại sư dạy)
TRÊN ĐÂY người giải thích đã vì chư vị PHẬT TỬ và quý LIÊN HỮU mà lược thuật lại đôi lời dạy bảo về phương cách niệm PHẬT của Chư Tổ sư, để làm Kim chỉ nam trên con đường tu Tịnh Độ. Những mong sao cho quý chư hiền học PHẬT, niệm PHẬT, nguyện cầu được sanh về cõi CỰC LẠC xem xong rồi nên phát lòng trân trọng, ít nhiều chi cũng nên y theo đó mà cố gắng thực hành. Và như thế mới mong thành tựu bước đường Tây quy mà lòng ta vẫn hằng luôn ước ao, mong mỏi. Lành vậy thay!
Trích: TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm soạn thuật
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/06/202005:09(Xem: 863)
Đi tìm nguồn cội của những việc cần tìm hiểu quả là điều rất hữu ích và cần thiết cho những người học Phật như chúng ta ngày nay. Tuy trong hiện tại chúng ta có quá nhiều phương tiện để tìm hiểu, đọc tụng cũng như học hỏi, nhưng cũng không phải muốn tìm gì là có ngay lời giải đáp đúng như ý ta mong đợi, mà vẫn cần phải qua những trải nghiệm của bản thân cũng như sự tu học hành trì, nghiên cứu lâu ngày, chúng ta mới thẩm thấu được lời Phậtdạy. Vì lẽ lời dạy của Đức Phật nằm rải rác khắp nơi trong ba tạng của Nam Truyền và ba tạng của Bắc Truyền, có cả hàng triệu triệu chữ và nhiều nhà phiên dịch, chú giải khác nhau, nên không phải ai cũng có cơ duyên để trì tụng, nghiên cứu hết ba tạng Kinh điển này. Riêng bản thân tôi không dám làm việc gì quá khả năng, chỉ cố gắng gom góp lại những chỗ đã đọc qua, nhằm cống hiến cho quý vị một sự hiểu biết căn bản về Đức Phật A-di-đà, để chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa khi trì tụng các Kinh A-di-đà, Kinh Vô Lượng Thọ hay Kinh Quán Vô Lượng Thọ. Đó
07/01/201522:46(Xem: 3628)
Trong mối liên hệ với thế giới của ta thì Cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà ở phương tây và ở phía trên thế giới của ta. Ta phải chấp nhận một vũ trụ quan và nhận ra rằng có nhiều hệ thống thế giới khắp không gian. Tôi đang nói tới một hệ thống hết sức bao la. Chúng ta hãy xác định vị trí của ta.
16/10/201001:46(Xem: 3695)
Đây là bài thuyết giảng về "Đức Phật của chúng ta" một đề tài dễ làm cho Phật tử ngạc nhiên, vì Đức Phật của chúng ta là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật rồi còn gì mà phải đặt vấn đề. Nhưng vấn đề sở dĩ được đặt ra là nhiều khi chúng ta chưa có được một cái nhìn thấu triệt tất cả tinh tường, đức tướng, hạnh đức, tin đức của đức Phật chúng ta. Do vậy, bài này, một phần giúp chúng ta trả lời những thiếu sót như vậy... Chính thái độ hóa thần thông để giáo hóa chúng sanh đã làm nổi bật giá trị tâm lý hoằng pháp mà Đức Phật của chúng ta đã dùng để hoằng hóa độ sanh.
08/04/201311:56(Xem: 8414)
Đại đức Rahula, người Tích lan được đào tạo trong truyền thống Thượng tọa bộ tại Phật học viện Pirivena, sau vào Đại học Tích Lan đậu bằng B.A (London) rồi viết luận án Tiến sĩ về lịch sử đạo Phật ở Tích Lan và được cấp bằng Tiến sĩ Triết học (Ph. D). Sau Đại đức qua Calcutta, cộng tác với các giáo sư Đại thừa và bắt đầu học chữ Hán và chữ Tây Tạng. Cuối cùng Đại đức qua Đại học đường Sorbonne để nghiên cứu về Ngài Asanga (Vô Trước) và lâu nay vẫn ở tại Paris vừa giảng dạy đạo Phật, vừa trước tác sách vở. Như vậy Đại đức có thể được xem là tinh thông cả hai giáo lý, Đại thừa và Tiểu thừa. Kỳ qua Paris năm 1965, tôi có viếng thăm Đại đức và trong câu chuyện ngót hai tiếng đồng hồ, chúng tôi bàn luận rất nhiều về liên lạc giữa Nam tông và Bắc tông, và chúng tôi đồng ý rằng cả hai tông đều chấp nhận và thọ trì một số giáo lý căn bản.
05/04/201314:00(Xem: 2184)
Chúng ta đã được biết Đức Phật đã thành công rực rỡ và xuất sắc trong sứ mệnh thuyết pháp độ sanh. Trong thời Ngài tại thế, Ngài đã hóa độ cho hai chúng xuất gia và tại gia của Ngài, khiến cho hàng nghìn, hàng vạn người chứng quả ...
28/11/201010:28(Xem: 2217)
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi (Xá-vệ), Pubbàràma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vàsettha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.
08/04/201316:24(Xem: 2891)
Thời điểm đức Phật vào Niết Bàn tại Câu Thi Na (Kushinaga) rừng Sa La Song Thọ, một số đệ tử Ngài vô cùng thương tiếc muốn tịch diệt theo, thậm chí có một vài đệ tử không nở chứng kiến tình cảnh đó, đành thất lễ mà ra đi trước. Ngược lại cũng có một ít đệ tử vì không uống được giáo pháp giải thoát nên cảm thấy vui hơn là buồn, bởi rồi sẽ không còn ai khiển trách mình nữa!
01/10/201002:46(Xem: 2644)
Kính lạy Đức Thế Tôn, Ngài đã thị hiện vào cõi nhân gian nhiều khổ đau, phiền lụy này, bằng hạnh nguyện độ sinh, bằng trí tuệ siêu việt, để từ đó Đức Thế Tôn xây dựng một nền văn hóa người trong sáng, một nếp sống hướng thượng, tâm linh siêu thoát, bằng giáo pháp giác ngộ, bằng nếp sống văn hóa cao đẹp, lành mạnh có lợi ích cho tha nhân mà con người thời bấy giờ đã xưng dương, tán thán Đức Phật...
13/03/202017:12(Xem: 4754)
Quyển "The Buddha and His Teachings" (Đức Phật và Phật Pháp) được ấn hành tại Sài gòn năm 1964 nhờ sự phát tâm bố thí của liệt vị Phật tử Việt Nam. Đạo hữu Phạm Kim Khánh, pháp danh Sunanda, đã dày công phiên dịch thiên khái luận nhỏ bé này ra tiếng mẹ đẻ với mục đích đáp lại phần nào lòng mong ước của những ai muốn hiểu Đức Phật và giáo lý của Ngài. Công đức này được hàng Phật tử Việt Nam ghi nhận. Trong hiện tình, nước Việt Nam không mấy được yên ổn. Bao nhiêu người đang đau khổ, về vật chất cũng như tinh thần. Không khí căng thẳng này quả không thích hợp với việc làm có tánh cách tinh thần và đạo đức
11/07/201219:10(Xem: 1934)
Một thời Đức Phật ngự tại vườn Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ. Bấy giờ nước Bạt Kỳ có Quỷ tên Tỳ Sa rất hung dữ, giết người vô số, có ngày giết một người, hai người, ba người, bốn người, mười người, hai mươi người, ba mươi người, v.v...