Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Kim chỉ nam của pháp tu niệm Phật

26/12/201309:20(Xem: 8492)
Kim chỉ nam của pháp tu niệm Phật
A_Di_Da_Phat_5

KIM CHỈ NAM CỦA PHÁP TU NIỆM PHẬT

Trích dẫn từ: Tây Phương Nhựt Khóa - Cố Hòa Thượng Đại Ninh - Thích Thiền Tâm


NIỆM NIỆM TƯƠNG TỤC
Thí dụ như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp cầm gươm rượt theo muốn giết (dụ cho sanh tử, vô thường, không tha mạng sống). Người đó sợ hải quá, cắm đầu chạy riết, đến chỗ gặp một con sông chắn ngang qua (con sông sanh tử. Bờ bên này là sanh tử ngạn, bờ bên kia là giải thoát ngạn). Người ấy vừa chạy trốn vừa thoáng nghĩ trong đầu rằng - Nếu ta lội qua khỏi được con sông này, đến BỜ BÊN KIA thì mới mong bảo toàn thân mạng. Nhưng để y phục mà lội hay là cởi bỏ? Nếu để y phục mà lội sợ e vướng mắc, lúng túng tay chân khó bơi. Còn cởi bỏ thì không kịp nữa rồi, vì giặc cướp đã rượt tới sau lưng (đây là dụ cho cái chết đã gần kề không còn xa nữa). Bấy giờ người ấy chỉ còn có một NIỆM DUY NHẤT là làm sao cho qua sông được thì thôi chớ không còn có ý nghĩa chi khác… Thì người NIỆM PHẬT chúng ta đây cũng y như vậy, nghĩa là: Chỉ chuyên tâm tha thiết niệm. Đừng nghĩ ngợi điều chi khác cả (tức là dứt hết mọi tạp tưởng). Câu NIỆM PHẬT này vừa DỨT thì câu NIỆM PHẬT khác TIẾP NỐI theo liền (đừng có để phí thời giờ). NIỆM NIỆM nối nhau liên tục như vậy cho đến MƯỜI NIỆM. Đây gọi là “THẬP NIỆM tương tục” (Tức là 10 niệm nối nhau không dứt).
(Đàm Loan Pháp Sư dạy)
XƯNG DANH HIỆU PHẬT
Đức PHẬT (Thích Ca và A DI ĐÀ) xót thương, khuyên TA nên chuyên xưng danh hiệu A DI ĐÀ Phật.
Bởi vì phép niệm Xưng danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT này rất dễ, nếu có thể giữ mãi mỗi niệm nối nhau như thế, lấy suốt cả đời mình để làm hạn định, thì mười người tu, mười người vãng sanh; Trăm (ngàn) người tu, trăm (ngàn) người vãng sanh. Tại sao vậy? Bởi vì không có duyên tạp (Không có suy nghĩ điều chi khác hết) nên được CHÁNH NIỆM. Hạp với bản nguyện của Phật A DI ĐÀ (Đại nguyện thứ 18, 19, 20). Vì không trái với lời Kinh, Vì thuận theo lời PHẬT dạy, cho nên dễ vãng sanh.
(Liên Tông nhị Tổ – Thiên Đạo Đại Sư dạy)
BA NGHIỆP THANH TỊNH
  • Chí tâm niệm PHẬT nghĩa là: Ý nghiệp làm lành.
  • Xưng danh hiệu PHẬT nghĩa là: KHẨU nghiệp làm lành.
  • Chấp tay, cúi mình lạy PHẬT nghĩa là: THÂN nghiệp làm lành.
Nếu giữ ba nghiệp THÂN, KHẨU, Ý làm lành như vậy trọn đời, thì một câu niệm PHẬT có thể diệt được tội nặng trong 80 ức kiếp sanh tử.
(Hoài Cảm Đại Sư dạy)
LỄ BÁI - NIỆM PHẬT - PHÁT NGUYỆN
Lúc lễ bái, niệm PHẬT và phát nguyện phải k
hẩn thiết, chí thành, không xen lẫn tạp tưởng như người sắp sửa bị giết mà cầu được tha, như người bị giặc cướp rượt đuổi .. mà muốn được thoát, như bị nước trôi, lửa cháy, một lòng mong được cứu nạn. Niệm Phật phải khẩn cấp và chí thành như thế thì mới thành tựu được công phu. Tóm lại nếu: Nói một đường, làm một nẻo (Tức là miệng thì nói niệm PHẬT mà lòng không chịu niệm). Lời nói và hành động chẳng giống nhau, lòng TIN (nơi Tịnh Độ pháp môn) không vững chắc. Nay thì niệm, mai mốt lại bỏ bê, biếng trễ, niệm như thế ắt khó được vãng sanh.
(Liên Tông Lục Tỗ Vĩnh Minh đại sư dạy)
KHÔNG QUÊN CÂU PHẬT HIỆU
Người tu pháp NIỆM PHẬT
dù cho đang khi làm công việc nặng nhọc chi, song TRONG TÂM LÚC NÀO CŨNG KHÔNG QUÊN CÂU NIỆM PHẬT. Giả sử như lỡ có quên thì phải cảnh tỉnh ngay lập tức và nhiếp tâm niệm trở lại… Tập như thế lâu ngày thành quen…Đến khi gần lâm chung thì dù cho thân có bị bịnh khổ dày vò, đau đớn, nhưng tâm vẫn KHÔNG QUÊN câu niệm PHẬT… Khi vừa tắt thở thì thần thức liền nương theo câu niệm PHẬT ấy mà đi, quyết định sẽ được vãng sanh về nơi CỰC LẠC
(Tuân Thức đại sư dạy)
CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT
Người tu Tịnh độ muốn được vãng sanh thì việc CHÁNH YẾU là phải CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT,
còn phần phụ thì phải dứt trừ điều ác, làm những hạnh lành. Đem các công đức ấy mà hồi hướng và nguyện sanh về chốn Tây Phương, ắt sẽ được mau thành tựu, như thuyền đi xuôi gió, lại còn thêm được thuận dòng (nước) vậy.Sớm tối chuyên tâm lễ PHẬTnhư người (làm quan) đi chầu vua không dám sơ sót. Còn như người niệm PHẬT thì phải:
  • Miệng niệm PHẬT, tâm phải tưởng PHẬT
  • Tâm và miệng đều hợp nhau
  • Phát lòng chí thành, trân trọng
  • Tin chắc (nơi lời Phật dạy về pháp môn Tịnh độ) đừng có nghi ngờ
  • Mỗi ngày đều phải siêng năng chớ đừng nên biếng trễ.
Thì chắc chắn là sẽ thành tựu được môn NIỆM PHẬT Tam muội. Chừng đó lo gì không được vãng sanh.
(Từ Chiếu đại sư dạy)
TỊNH NIỆM TƯƠNG TỤC
Người niệm PHẬT phải nên g
iữ một câu Nam mô A DI ĐÀ PHẬT như dựa vào núi Tu Di, lay chuyển chẳng động (Tức là dù cho có ai bài bác, phá hoại thế mấy đi nữa quyết cũng chẳng nghe). Thường nhớ, thường niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm… Tâm niệm PHẬT chẳng bỏ qua, câu niệm PHẬT chẳng rời lòng. Mỗi giờ, mỗi khác, cũng nhớ niệm, niệm hoài không bỏ lỡ, giống như gà ấp trứng phải thường cho hơi ấm tiếp tục thì trứng mới nở con. Còn niệm Phật hoài mà không bỏ qua thời giờ gọi là “Tịnh niệm tương tục” ắt bông sen của mình sẽ mau nở vậy.

Chuyên lòng xưng danh hiệu PHẬT
, nhứt tâm, nhứt ý nắm giữ một câu A DI ĐÀ PHẬT. Bởi vì:
  • Chỉ một NIỆM này tức là PHẬT A DI ĐÀ
  • Chỉ một NIỆM này là viên mãnh tướng (tướng mạnh) phá địa ngục
  • Chỉ một NIỆM này là thanh gươm báu chém bầy ma, tà
  • Chỉ một NIỆM này là ngọn đuốc sáng phá cảnh tối tăm (Vô minh)
  • Chỉ một NIỆM này là con thuyền to vượt qua biển khổ
  • Chỉ một NIỆM này là thuốc hay trị dứt bệnh sanh tử
  • Chỉ một NIỆM này là đường tắt mau ra khỏi tam giới
  • Chỉ một NIỆM này là tự tánh DI ĐÀ
  • Chỉ một NIỆM này là duy tâm Tịnh độ.
Giữ chắc một câu NIỆM: Nam mô A DI ĐÀ PHẬT này đừng cho quên mất
  • Có việc cũng niệm như vậy, không việc cũng niệm như vậy
  • Có bệnh cũng niệm như vậy, không bệnh cũng niệm như vậy
  • An vui cũng niệm như vậy, buồn khổ cũng niệm như vậy
  • Sống cũng niệm như vậy, chết cũng niệm như vậy.
Cứ NIỆM NHƯ VẬY mãi thì cần chi phải hỏi ở nơi người khác để tìm ra đúng đường về ư?
(Ưu Đàm đại sư dạy)
MƯỜI CÔNG ĐỨC NIỆM PHẬT
Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng dạy:
Niệm Phật lớn tiếng có 10 công đức là:
  1. Đánh tan cái tâm hôn trầm, mê ngủ
  2. Thiên Ma kinh sợ
  3. Tiếng vang xa khắp 10 phương
  4. Ba đường ác được nhờ vào đó mà dứt khổ
  5. Tiếng động chung quanh không xâm nhập vào làm loạn thâm mình được
  6. Niệm tâm không tán loạn
  7. Mạnh mẽ tinh tấn
  8. Chư PHẬT vui mừng
  9. Tam Muội hiện tiền
  10. Được vãng sanh Cực lạc.
Nên biết pháp môn TỊNH ĐỘ này chẳng cần lựa chọn kẻ trí, ngu, sang, hèn, nghèo, giàu. Cũng chẳng cần phân biệt kẻ nam, nữ, già, trẻ, tăng, tục. Chẳng luận kẻ mới tu hay tu lâu. Tất cả đều có thể niệm PHẬT được. Hoặc niệm lớn, hoặc niệm nhỏ, niệm ra tiếng, niệm thầm, vừa lạy vừa niệm, nghiên cứu mà niệm, nhiếp tâm mà niệm, quán tưởng mà niệm, lần chuỗi mà niệm. Giữ câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT liên tục không dứt như dòng nước chảy mà niệm, cho đến đi cũng niệm, đứng cũng niệm, ngồi cũng niệm, nằm cũng niệm, ngàn muôn niệm (đời lộn xộn) đều gom về nơi một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT như thế… Niệm theo cách nào cũng được, điều cốt yếu là giữ cho lâu bền đừng lui sụt (đây tức là HẠNH đó), phát lòng TIN quyết định đừng cho bị lay chuyển (đây tức là TÍN đó). Nếu quả thật hành trì câu niệm PHẬT được đúng như thế, thì cần chi tìm bậc tri thức để hỏi đường (nào về Cực lạc) ư!
(Tông Bổn đại sư dạy)

BỐN PHÁP NIỆM PHẬT
  1. Niệm thầm (tiếng nhỏ).
  2. Niệm ra tiếng (lớn).
  3. Niệm không ra tiếng (mặc niệm).
  4. Niệm Kim cang trì (se sẽ động môi, lưỡi mà niệm).
Niệm thầm thì dễ bị hôn trầm; Niệm lớn tiếng thì bị mau mệt (hao hơi); Duy chỉ có cách niệm “KIM CANG TRÌ” là có thể bền lâu. Tuy nhiên cũng không nhứt định, nếu như thấy cần thiết thì có thể thay qua, đổi lại cũng không sao. Tâm hôn trầm, tán loạn đã có lâu kiếp nhiều đời rồi, ắt nhiên không thể nào trong một lúc mà an định được. Cho nên người niệm PHẬT nếu thấy tâm không được thanh tịnh cũng đừng có lo ngại chi. Chỉ cần khi niệm PHẬT, mỗi chữ mỗi câu đều do từ nơi TÂM mà phát ra, dụng công phu như vậy lâu ngày, sẽ có hiệu quả.

TẠP NIỆM LÀ BỆNH - NIỆM PHẬT LÀ THUỐC
Niệm PHẬT chính là hành môn để trị tạp niệm đó. Nếu niệm PHẬT mà không thấy hiệu quả, đó là tại mình dụng công chưa được chơn thành và tha thiết. Cho nên mỗi khi tạp niệm nổi lên, phải chuyên tâm cố gắng trì niệm, mỗi chữ mỗi câu phải rành rẽ, rõ ràng. Thì tạp niệm tự nhiên được dứt trừ. Người học PHẬT, niệm PHẬT đừng quá nên chạy theo hình thức bên ngoài, chỉ quý là ở nơi CHÂN THẬT TU HÀNH. Hàng cư sĩ Phật tử tại gia không cần phải cạo tóc, mặc áo đà làm chi. Tự có thể để tóc, mặc áo tràng (lam) mà niệm Phật cũng được. Người thích thanh vắng, không cần phải đánh chông mõ, tự có thể yên lặng mà niệm PHẬT cũng được. Người sợ công việc phiền phức, không cần phải kết bè, lập hội làm chi, tự mình có thể đóng cửa mà niệm PHẬT. Người biết chữ, nếu có thật tâm quyết tu, không nhứt định và bắt buộc phải vào chùa nghe Kinh, tự có thể xem Kinh, y theo lời dạy trong ấy mà niệm PHẬT. Trải qua ngàn dặm xa xôi hành hương không bằng hiếu thuận với Cha Mẹ mà niệm PHẬT. Giao du với bạn bè kém đạo đức, không bằng kẻ dốt nát mà chuyên tâm niệm PHẬT. Hạnh thấp mà vọng nói Đạo lý cao siêu, không bằng kẻ thiệt thà, chất phát mà niệm PHẬT. Tánh ưa thích sự háo kỳ, ham cầu sự linh thiêng của Thần Thánh, ma quỷ, không bằng chánh tâm tin nơi lý nhơn quả mà niệm PHẬT. Người niệm PHẬT:
  • Giữ lòng ngay. Dứt hạnh ác. Đây gọi là THIỆN NHƠN.
  • Nhiếp tâm trừ tán loạn. Đây gọi là HIỀN NHƠN.
  • Tỏ rõ tâm tánh, dứt được hoặc nghiệp. Đây gọi là THÁNH NHƠN.
(Liên Tông Bát tổ Liên Trì đại sư dạy)
NGƯỜI CHÂN THẬT NIỆM PHẬT - LỤC ĐỘ VẠN HẠNH
  • Buông bỏ cả thân, tâm, ấy là ĐẠI BỐ THÍ.
  • Không khởi tâm tham, sân, si, ấy là ĐẠI TRÌ GIỚI.
  • Không cải cọ, phải quấy, hơn thua, ấy là ĐẠI NHẪN NHỤC.’
  • Không gián đoạn, xen tạp, ấy là ĐẠI TINH TẤN.
  • Không để cho vọng tưởng buông lung, ấy là ĐẠI THIỀN ĐỊNH.
  • Không bị các đường lối tu khác làm cho mê hoặc, ấy là ĐẠI TRÍ HUỆ.
Trái lại, nếu chẳng như thế thì không được gọi là CHƠN THẬT NIỆM PHẬT.

SỰ TRÌ - LÝ TRÌ
  • SỰ TRÌ là Tin có Phật A DI ĐÀ ở phương Tây, có thế giới Cực Lạc, có Chín Phẩm sen vàng, quyết chí niệm PHẬT, cầu được sanh về nên niệm PHẬT hoài, thiết tha như con nhớ Mẹ không lúc nào quên.
  • LÝ TRÌ là Tin Phật A DI ĐÀ, cõi Tây Phương, 9 phẩm sen vàng… trong tâm mình đều có đủ hết, do tâm mình tạo ra hết cả. Rồi đem câu Nam mô A DI ĐÀ PHẬT ấy, tạo thành ra cái CẢNH để buộc chặc TÂM mình vào đó, khiến cho không lúc nào quên.
(Liên Tông Cửu Tổ Ngẩu Ích đại sư dạy)
NGUYỆN BAO GỒM CẢ TÍN, HẠNH
TÍN là tin nơi TỰ, THA, NHÂN, QUẢ, SỰ và LÝ.
  • Tin TỰ là tin tất cả đều do tâm mình tạo, nên nếu mình niệm PHẬT ắt sẽ được PHẬT tiếp dẫn.
  • Tin THA là tin Phật THÍCH CA không nói dối, Phật A DI ĐÀ chẳng bao giờ nguyện suông.
  • Tin NHÂN là tin niệm PHẬT đó chính là gieo nhân vãng sanh, giải thoát.
  • Tin QUẢ là tin sự vãng sanh, thành Phật là kết quả.
  • Tin SỰ là tin cõi Tây Phương và tất cả sự tướng nơi nước Cực Lạc mà Phật thuyết ra trong Kinh thảy đều có thật.
  • Tin LÝ là tin “Lý tánh duy tâm”, tức là TÂM của mình bao trùm hết tất cả các thế giới khắp 10 phương.
HẠNH là thực hành, là chuyên trì danh hiệu A DI ĐÀ PHẬT không xen tạp và không tán loạn suốt cả đời mình. NGUYỆN là mỗi tâm của mình khởi ra đều có lòng ưa thích cõi Cực Lạc, mỗi niệm của mình khởi ra đều có ý mong cầu được sanh về. Trong ba điều TÍN, HẠNH, NGUYỆN này, người tu Tịnh Độ cần phải hội đủ, quyết định không thể thiếu được một điều nào cả. NGUYỆN là điều cần yếu nhất. Có thể có TÍN, HẠNH mà không có NGUYỆN. Chớ chưa từng thấy có việc: có NGUYỆN mà không có TÍN, HẠNH bao giờ cả. Cho nên nói chữ NGUYỆN bao gồm cả TÍN và HẠNH chính là như vậy.

PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
Niệm PHẬT
mà không phát tâm BỒ ĐỀ thì không tương ưng (không hợp) với bổn nguyện của Phật A DI ĐÀ, sẽ không được vãng sanh. Tâm Bồ Đề là tâm lợi mình, lợi người, trên cầu thành Phật quả, dưới nguyện độ chúng sanh. Còn nếu như vẫn có phát tâm Bồ Đề mà không chịu niệm PHẬT (thì) cũng không được vãng sanh nữa. Vì vậy nên phải: Lấy sự phát tâm Bồ đề làm CHÁNH nhơn, niệm PHẬT làm TRỢ (duyên) nhơn. Sau đó rồi mới phát nguyện cầu sanh Cực Lạc. Người Phật tử tu Tịnh Độ cần phải biết rõ các điều này.
(Liên Tông thập nhứt Tổ – Tỉnh Am đại sư dạy)
Thiệt vì sanh tử,phát lòng Bồ đề.
Lấy TÍN, NGUYỆN sâu, TRÌ danh niệm PHẬT.

16 chữ này là tông yếu (Quan trọng bực nhất) của pháp môn Tịnh Độ. Bởi tất cả sự khổ trong đời này không gì hơn việc sống, chết. Cho nên nếu tu hành, niệm Phật mà không cầu để thoát vòng sanh tử là một điều sai lầm rất lớn. Nhưng đã phát ĐẠI TÂM rồi thì phải tu ĐẠI HẠNH. Mà trong các hành môn tu, thì phương pháp dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên ổn, rất viên đốn (đầy đủ) thì không có môn tu nào bằng. DÙNG TÍN, NGUYỆN SÂU, TRÌ DANH NIỆM PHẬT. Nói TRÌ DANH đây là chấp giữ một câu A DI ĐÀ PHẬT trong lòng KHÔNG PHÚT NÀO QUÊN. Nếu quên hoặc là có một niệm nào khác xen vào thì không được gọ là CHẤP GIỮ (chấp trì). Như thế mà hành trì cho đến trọn đời, ắt sẽ được vào cảnh “Nhứt tâm bất loạn” mà thành tựu được sự nghiệp Tịnh độ vậy. Tâm tạo nghiệp được, thì tâm cũng chuyển nghiệp được. NGHIỆP đã do TÂM tạo, thì cũng tùy theo TÂM mà chuyển được. Nếu TÂM mình không chuyển được NGHIỆP, thì bị NGHIỆP trói buộc. Còn như NGHIỆP mà không chuyển được theo TÂM, thì có thể buộc TÂM. Nhưng dÙNG TÂM THẾ NÀO mới chuyển được NGHIỆP? Ấy Là: Giữ TÂM hợp với điều kiện ĐẠO ĐỨC, hợp với PHẬT. NGHIỆP làm sao buộc được TÂM? Ấy Là: Cứ để TÂM y theo “đường xưa lối cũ”, buông lung theo cảnh lục trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) vậy.
(Liên Tông thập nhị Tổ, TRIỆT NGỘ đại sư dạy)
TRÊN ĐÂY người giải thích đã vì chư vị PHẬT TỬ và quý LIÊN HỮU mà lược thuật lại đôi lời dạy bảo về phương cách niệm PHẬT của Chư Tổ sư, để làm Kim chỉ nam trên con đường tu Tịnh Độ. Những mong sao cho quý chư hiền học PHẬT, niệm PHẬT, nguyện cầu được sanh về cõi CỰC LẠC xem xong rồi nên phát lòng trân trọng, ít nhiều chi cũng nên y theo đó mà cố gắng thực hành. Và như thế mới mong thành tựu bước đường Tây quy mà lòng ta vẫn hằng luôn ước ao, mong mỏi. Lành vậy thay!
Trích: TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm soạn thuật
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/08/2022(Xem: 524)
Lời dạy của Đức Phật, được ghi chép lại dưới dạng Kinh tạng. Hai ngàn sáu trăm năm đã trôi qua, bánh xe Đạo Pháp chuyển động không ngừng, dạy con người cách sống an lạc. Muốn sống an lạc, người học Phật phải liễu tri và hành trì, tu tập đúng lời Phật dạy.
17/05/2022(Xem: 1317)
Niệm Phật là một trong những pháp môn tu hành rất căn bản, và niệm Phật là con đường nhanh nhất để thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ của cõi Ta Bà. Thường thì bắt đầu vào tuổi thu đông nhiều người mới tập trung tinh thần vào Niệm Phật. Có người thường cho rằng pháp môn Tịnh Độ chỉ mới bắt đầu khi có kiết tập kinh điển lần thứ 3, 4 và về sau này khi Đại Thừa phát triển mạnh.
05/12/2021(Xem: 2002)
Chấp hai tay cúi đầu miệng niệm Phật A Di Đà chào chúc thật cao sâu Khỏe sáng suốt cùng chân lý nhiệm mầu Được trường thọ thăng hoa trong cuộc sống… Sống trong một thế giới vô thường biến đỗi, với đầy sự nhiễu nhương, tang thương, chết chóc, do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, xảy ra trước mắt hằng ngày, gây lắm khổ đau, điển hình như Covid-19 (với đầy ác khí) như hiện nay, cũng khiến cho nhiều người lo sợ, khủng hoảng và thức tĩnh. Thấy rõ được rằng, mọi cơ sở vật chất, với nhiều năm đầu tư xây dựng, chỉ một cơn động đất, sóng thần hay bão lửa, lũ lụt nổi lên, sẽ tan tành theo mây khói. Một đời người với biết bao nhiêu lo toan, tính toán, hy vọng, ước mơ, một cơn đại dịch xảy ra, đành âm thầm ra đi trong tức tưởi, không một người thân đưa tiễn, tất cả tài sản bao năm gầy dựng, phải bỏ lại, không mang theo được gì!
30/11/2021(Xem: 1759)
Người Phật tử chân chánh hiểu rằng Chân Lý Tuyệt Đối là không thể nghĩ bàn. Tất cả các pháp môn đều chỉ là phương tiện giúp ta đạt tới cái không nghĩ bàn đó. Trong khi tu hành, ta có thể chọn vào cửa Hữu (Tịnh độ) hay vào cửa Không (Thiền), tùy căn cơ và sở thích. Nếu ai cố chấp pháp mình là đúng, chê bai người khác sai – là chứng tỏ mình chưa hiểu chân lý là thứ gì. Vả lại, thuốc không có quí tiện: thuốc trị được bịnh là thuốc hay. Đại khái, Thiền là pháp môn cao thượng và thẳng tắt dành cho bậc Thượng căn, trong khi Tịnh độ dễ hiểu dễ hành và dễ chứng, cho nên cả Ba căn đều có thể tu được. Đức Bổn Sư Thích-Ca giảng pháp nầy chủ ý nhằm cứu độ chúng sanh thời Mạt pháp. Như trong kinh Đại Tập, Ngài nói: “Thời Mạt pháp, ức ức người tu hành ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương nhờ pháp môn Tịnh độ mà thoát khỏi luân hồì.” Cho nên thời nầy người tu Tịnh độ thành công được vãng sanh vô số (có thoại chứng rành rành), trong khi Thiền sư đắc đạo (như khi xưa) có thể nói rất hiếm, đếm
05/11/2021(Xem: 6235)
Đại sư Ấn Quang nói: “Kẻ câu nệ vào Tích môn thì bảo: “Trong tất cả pháp, mỗi pháp đều sai khác”. Kẻ khéo nhìn sẽ nói: “Trong tất cả pháp, pháp pháp đều viên thông”. Như bốn cửa thành, gần cửa nào thời vào cửa ấy. Cửa tuy khác nhau, nhưng đều đưa vào một thành chẳng khác. Nếu biết ý này thì chẳng phải chỉ có những giáo lý rất sâu do chư Phật, chư Tổ đã nói mới là pháp để quy chân đạt bổn, minh tâm kiến tánh, mà hết thảy Ấm, Nhập, Xứ, Giới, Đại v.v... trong khắp thế gian cũng đều là pháp để quy chân đạt bổn, minh tâm kiến tánh! Mỗi một pháp cũng chính là chân, là bổn, là tâm, là tánh!”. Tập Lời Vàng (Gia Ngôn Lục) dù là toát yếu nhưng với một kẻ hậu học như tôi thì lại tự thấy mỗi mỗi câu nói của Đại Sư Ấn Quang đều bao hàm ý pháp, chỗ nào cũng cần phải học, chẳng thể đọc lướt qua nên phải dịch thuật đến ngàn ngàn câu kệ, hầu mong chuyển đạt lời lời ân cần tha thiết của Đại sư; chỉ để lại phần nói về các chính biến tại Trung Hoa, và những câu nói lập lại từ các bài giảng của Đại sư q
20/10/2021(Xem: 2308)
Kính số 52 Bát Thành có đoạn viết về sơ thiền một cách ngắn gọn như sau: “Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ” (Trung Bộ Kinh, 52 Kinh Bát Thành). Kinh văn quá súc tích về sơ thiền như vậy khó có thể thấm thấu được thâm ý của Thế Tôn, tạo ra nhiều kiến giải của các bút giả, hành giả, học giả vv, khiến quý Phật tử hoang mang. Sau đây là một trong những kiến giải của một hành giả được một đạo hữu chuyển cho Tâm Tịnh về sơ thiền: Hai bài kinh: Kinh Sa Môn Quả và Tiểu Kinh Dụ Lõi Cây, Phật dạy: “Tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh vời tầm với tứ (có giác có quán). Muốn đạt được cảnh giới này vị này phải ly dục nơi các căn, tức là thanh lọc nhiễm ô nơi các căn. Để ly dục, vị này học hạnh viễn ly, hạnh Tỷ kheo (hạnh xuất gia) theo lời dạy trong kinh: “Ở đây có người vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình
03/09/2021(Xem: 9472)
(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm) 1. TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN: Án, lam xóa ha. (3 lần) 2. TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN: Tu rị, Tu rị, Ma ha tu rị, Tu tu rị, Ta bà ha. (3 lần) 3. TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN Án, Ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần) 4. PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN: Án, Nga nga nẵng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần) 5. AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN: Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, Án, độ rô độ rô, địa vỷ ta bà ha (3 lần) Hộ pháp, Vĩ Đà thị chứng minh Thân trụ Phật tiền Tâm Tư nguyện Tưởng bằng bí chú đắc oan linh Hà chơn bất thức trì niệm Luật Thiên kinh vạn quyển vô nhất tự Nẳng mô tô tất đế, đa rị, đa rị, mạn đà, mạn đà, ta bà ha (3 lần)
03/09/2021(Xem: 4176)
Pháp hành Trì để vượt thoát Đại Nạn Covid-19
03/09/2021(Xem: 3937)
5.1). Đệ tử tên là: Một lòng quy kính Đức Phật A Di Đà, Thế giới Cực Lạc, Nguyện lấy hào quang, Trong sạch soi cho, Lấy thệ từ bi, Mà nhiếp thọ cho, Con nay chánh niệm, Niệm hiệu Như Lai, Vì đạo Bồ Đề, Cầu sanh Tịnh Độ. Phật xưa có thệ: “Nếu có chúng sinh, Muốn sinh về nước ta, Hết lòng tín nguyện, Cho đến mười niệm, Nếu chẳng đặng sinh, Chẳng thành Chánh Giác”. Do vì nhân duyên, Niệm hiệu Phật nầy, Được vào trong bể, Đại thệ Như Lai, Nhờ sức Từ Bi, Các tội tiêu diệt, Căn lành tăng trưởng, Khi mạng gần chung, Biết trước giờ chết, Thân không bệnh khổ, Tâm không tham luyến, Ý không điên đảo, Như vào Thiền định. Phật và Thánh Chúng, Tay nâng kim đài, Cùng đến tiếp dẫn, Trong khoảng một niệm, Sinh về Cực Lạc, Sen nở thấy Phật, Liền nghe Phật thừa, Chóng mở Phật tuệ, Khắp độ chúng sanh, Trọn Bồ Đề nguyện.
01/08/2021(Xem: 5352)
Chuông mõ gia trì là 2 pháp khí rất quan trọng trong nghi thức hành trì và tu tập mỗi ngày đối với người đệ tử Phật. Tiếng chuông, tiếng mõ rất là quen thuộc gần gũi trong sự hành trì tu tập hằng ngày của người Phật tử, nhất là Phật tử theo truyền thống Bắc tông. Phật tử theo truyền thống Nam tông trước kia thì không có gõ mõ, thỉnh chuông khi tụng kinh, nhưng bây giờ đã có chuông rồi, còn bên Bắc tông thì chuông mõ đã có từ ngàn xưa.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,509,805