Tịnh Độ vấn đáp

06/04/201214:27(Xem: 9492)
Tịnh Độ vấn đáp

TỊNH ĐỘ VẤN ĐÁP

Tỳ kheo Thích Giác Nhàn sưu tập

LỜI GIỚI THIỆU

Một học sinh khi còn ở cấp trung học cần phải học tổng hợp các môn, nhưng khi lên Đại học thì phải học chuyên môn, do đó cần phải chọn cho mình một ngành nghề phù hợp sở thích của mình. Có như vậy việc học mới tiến bộ và kết quả đạt được sẽ tốt đẹp hơn. Một người tu Phật, lúc đầu cần phải chọn cho mình một pháp môn thích hợp để tu tập. Con đường đến quả vị Phật có nhiều lối, tùy theo căn cơ của mỗi người mà chọn lựa con đường nào thích hợp nhất để đi. Như lời người xưa đã nói “thuốc không quý tiện, lành bệnh là thuốc hay; Pháp không cao thấp, hợp là pháp diệu”

Nhằm giúp những vị tu theo pháp môn Tịnh độ vững niềm tin và tinh tấn hành trì, thầy Thích Giác Nhàn trong thời gian nhập thất chuyên tu, đã bỏ ra một ít thời giờ sưu tập những lời Vấn đáp của chư Tổ sư tiền bối kết tập thành cuốn sách “Tịnh Độ Vấn Đáp” này. Nội dung cuốn sách rất bổ ích cho những người tu theo pháp môn Tịnh độ tham khảo. Tôi xin tán thán và tùy hỷ việc làm này của Thầy Thích Giác Nhàn và xin giới thiệu đến quý Phật tử gần xa.

Đại Đức Thích Chân Tính.


LỜI TỰA

tinhdovandap-thichgiacnhan-2-contentChư Phật ra đời là vì một đại sự nhân duyên là “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Nghĩa là Ngài muốn chỉ cho tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Nhưng vì vô thỉ do một niệm vô minh bất giác khởi lên che mờ thể tánh thanh tịnh, nên chúng sinh trôi lăn trong ba cõi sáu đường, ra vào nơi sông mê biển nghiệp, mà không tự trở về với nguồn tâm chân như của chính mình. Vì vậy, Đức Phật tùy theo căn cơ sai biệt của mỗi chúng sinh mà Ngài nói ra nhiều pháp môn phương tiện khác nhau. Về sau chư Tổ y cứ trên lời Phật dạy lập ra nhiều tông chỉ như: Thiền tông, Duy thức tông, Mật tông, Luật tông, Tịnh độ tông… Các tông chỉ này đều thiết lập trên nền tảng của giới, định, huệ và cứu cánh cũng gặp nhau tại nơi suối nguồn chân như.

Hơn nữa, chư Tổ dạy: Muốn tiến vào địa hạt của các tông chỉ không phải đi bằng con đường kiến, văn, giác tri, thiết lập trên phạm trù tư duy hữu ngã mà phải bước vào bằng con đường niềm tin đi trên tiến trình tín, tấn, niệm, định và huệ để khai minh tâm địa để thành tựu trí huệ vô ngã. Không những các hành giả đi vào tông chỉ bằng niềm tin, mà các vị A La Hán và các vị Bồ Tát cũng đi qua cửa ngõ của niềm tin. Cũng như muốn bước vào dòng Thánh Tư đà hoàn phải dứt trừ nghi, giới cấm thủ, tà kiến. Và chư vị Bồ tát muốn bước lên ngôi đẳng giác cũng phải đi qua lộ trình Thập tín…

Sở dĩ người con Phật không tin lời Phật dạy là do lòng nghi, chính nghi là một thứ phiền não ngăn cản các hành giả đi vào con đường đạo, vì một đàng nghi, một đàng tin thì thử hỏi làm sao thực hành để thành tựu tâm pháp được. Vì lẽ đó chúng tôi góp nhặt các nghi vấn về Tịnh độ tông để cống hiến cho các vị liên hữu làm tư lương trên bước đường tu niệm. Lẽ dĩ nhiên, những nghi vấn này không thể nào giải quyết hết những mối nghi ngờ của các vị. Tuy nhiên, có cũng là một yếu tố giúp cho hành giả có được niềm tin vững chắc để đi vào tâm pháp Phật.

Muốn chuyển hóa hết các nghi vấn, điều cần yếu là tự mỗi người phải thực nghiệm pháp tu. Duy chỉ có thực hành mới có thể đánh tan các mối nghi. Khi nghi không còn, thì tin hay không tin không đặt thành vấn đề nữa, vi vạn pháp đều là “Như Thị”.

Chúng tôi chỉ làm công việc biên soạn thuật lại những lời vấn đáp của chư Tổ liên tông Tịnh độ. Tuyệt nhiên, chúng tôi không dám xen một ý nghĩ riêng tư vào, vì lời dạy của chư Tổ quá là đầy đủ. Chắc rằng, việc làm của chúng tôi không sao tránh khỏi những lỗi vụng về. Ngưỡng mong các bậc cao minh từ bi chỉ giáo cho.

Phật lịch 2544

DL 1-1-2001

Tỳ kheo Thích Giác Nhàn

Tự LIÊN PHƯƠNG SA môn


ĐỨC PHẬT HUYỀN KÝ:

Thời mạt pháp ức ức người tu hành khó có người được giải thoát.

Chỉ có nương nơi pháp niệm Phật mà được thoát khỏi luân hồi, mau chứng thành Phật quả.

(Kinh Đại Tập)

NGÀI VĂN THÙ SƯ LỢI DẠY:

Nếu thiện nam tín nữ nào nguyện mau thành Phật không gì qua môn tu “Niệm Phật”

Niệm Phật thời có thể mau chứng qua vô thượng Bồ đề.

(Tống Cao Tăng Truyện)

ẤN QUANG ĐẠI SƯ NÓI:

Cửu giới chúng sinh rời pháp môn này thời chẳng thể viên thành Phật quả.

Thập phương chư Phật bỏ pháp môn này quyết không thể độ khắp chúng sinh.

(Ấn Quang Văn Sao)

Đọc sách PDF

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/08/2011(Xem: 6431)
Tìm hiểu toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp Trần Nhân Tông, trong số những bài học lớn về tư tưởng của Người, cũng là của thời nhà Trần vinh quang - nổi bật và sâu xa nhất chính là bài học về khai phóng nội lực, mà vì nó - Người đã đánh đổi tất cả để dấn thân tìm phương giáo hóa và vượt thoát cộng đồng. Sức mạnh nội lực của dân tộc dưới hào quang của vua trẻ Trần Nhân Tông
07/08/2011(Xem: 23191)
Trong các công hạnh đơn giản mà sâu dày và khó thực hiện cho vẹn toàn nhất là hạnh buông xả. Hành giả Phật giáo lấy tâm buông xả làm công hạnh hàng đầu.
01/08/2011(Xem: 27120)
"TámTiết thơ giúp tập luyện Tâm thức"là tựa của một bài thơ ngắn do một nhà sư Tây Tạng là Guéshé Langri Tangpa (1054-1123) trước tác với chủ đích giúp phát huy tinh thần giác ngộ qua phép thiền định về hoán chuyển giữa ta và người khác, (một phép thiền định rất phổ thông của Phật giáo Tây Tạng: đó là cách tự nguyện xin được nhận về phần mình tất cả khổ đau của người khác, và trao lại cho họ tất cả những gì đạo hạnh của mình), và xem đấy là mục đích cao cả nhất trong cuộc sống của chính mình... Từ bi là một phản ứng của tâm thức khi nó không thể chịu đựng nổi trước những cảnh khổ đau của người khác và phát lộ những ước nguyện mãnh liệt...
29/07/2011(Xem: 8047)
Sodpa hay Nhẫn nhục ba la mật là một trong những pháp thực hành Bồ tát đạo quan trọng nhất. Có những hoàn cảnh đặc biệt bạn cần phải thực hành hạnh Sodpa.
27/07/2011(Xem: 6080)
Nền tảng của khổ đau là vô minh si ám – sự lĩnh hội sai lầm về chúng sinh (ngã) và các đối tượng (pháp) tồn tại một cách cố hữu (có tự tính).Để phát sinh loại từ ái và bi mẫn thúc đẩy chúng ta kiếm tầm Phật quả, không phải cho riêng chúng ta mà vì lợi ích của những người khác, đầu tiên chúng ta phải đối diện với khổ đau bằng sự nhận diện những thể loại của nó. Đây là chân lý cao quý thứ nhất - khổ đế. Từ lúc chúng ta được sinh ra đến khi chết chúng ta đau khổ tinh thần và đớn đau thân xác (khổ khổ), khổ đau của sự thay đổi (hoại khổ), và khổ đau cùng khắp của điều kiện không thể kiểm soát (hành khổ). Chân lý thứ hai và thứ ba làm cho chúng ta thấu hiểu những nguyên nhân của khổ đau và cho dù những nguyên nhân ấy có được xóa đi hay không.
26/07/2011(Xem: 7343)
Chúng ta biết rằng đa phần các tín đồ theo Phật giáo thường là không có quy y Tam bảo. Bởi vì người đã quy y Tam Bảo thời thường lễ Phật đốt hương, nhưng người biết lễ Phật đốt hương thì chưa chắc đã quy y Tam Bảo. Tuy nhiên người chưa từng quy y Tam Bảo họ vẫn có thể xưng mình là tín đồ của Phật giáo mà chúng ta không thể phủ nhận sự tín ngưỡng của họ.
25/07/2011(Xem: 10505)
Thực tập chánh niệm có thể ảnh hưởng tích cực đến nhiều hoạt động của hạch hạnh nhân, khu vực có kích thước bằng hạt đậu nằm ở trung tâm não bộ...
24/07/2011(Xem: 8599)
Qua tinh thần kinh Hiền Nhân, chúng ta nhận ra một cái nhìn về đạo đức Phật giáo trong việc ứng xử giữa người với người, là một bài học quý giá...
21/07/2011(Xem: 6333)
Khái niệm ‘nghiệp’ vốn đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiên ở đời : chính trên cơ sở của giáo thuyết về ‘nghiệp’ này mà Bà-la-môn giáo thiết lập hệ thống cứng ngắt về bốn giai cấp : Brahman(Bà-la-môn), Sát-đế-lợi, Tỳ-xá, Sudra(Thủ-đà-la). Đức Phật đã bác bỏ quan điểm giai cấp ấy, bằng câu nói : “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn”.
20/07/2011(Xem: 13590)
Muốn đền đáp ân đức cha mẹ là khi cha mẹ chưa có lòng chính tín thì khuyên bảo cha mẹ có lòng chính tín để có được nơi an ổn từ niềm tin đó...