Hư tâm học Phật

08/04/201311:49(Xem: 28014)
Hư tâm học Phật

233hutamhocdao 233hutamhocdao-2

Hư Tâm Học Đạo

HT Thích Thiện Siêu

---o0o---

Lời thưa

Đã hơn 3 năm qua,kể từ khi Cố Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu,bậc Tôn sư của chúng tôi viên tịch, cuốn sách nhỏ này là tập thứ 5 sau 4 tập “Chnghip trong đo Phật”- 2002; và “Thc biến”- 2002; “Lược gii kinh Pháp Hoa”-2003; và “Pht trong lòng” –2003; trong nổ lực sưu tập các tác phẩm của Hòa thượng. “ Hưtâm hc đo” này là một tập hợp gồm 35 bài viết, bài thuyết giảng và phát biểu của Hòa thượng trong khoảng từ năm 1942 đến năm 1999.

Do lòng trân quí đức độ, trí tuệ của bậc Tông tượng Thiền môn, bậc Thầy cao cả đã dày công dạy dỗ chúng tôi,lại sợ Pháp ngữ của Hòa thượng lâu ngày có thể sẽ bị thất lạc, nên chúng tôi đã có phần lo lắng và vội vàng sưu tầm thành tập “Hưtâm hc đo”này. Do đó, nội dung tuyển tập này có thể đã không được sắp xếp chặt chẽ theo thể loại, nội dung và thứ tự thời gian như mong ước ban đầu của chúng tôi. Chúng tôi sẽ cố gắng thực hiện sau này.

Vẫn với phong cách diễn đạt trong sáng, giản dị, tự nhiên như đã được thấy ở các tác phẩm khác của Hòa thượng, nội dung ở đây nhằm triển khai giáo lý của đức Phật,chủ yếu đề cập đến việc tu học của Tăng Ni Phật tử,nhấn mạnh đến đạo đức của Phật giáo áp dụng trong tư duy, tình cảm và thái độ trong cuộc sống hằng ngày. Đặc biệt, trong các bài phát biểu được xem là các đạo từ, với tư cách là nhà mô phạm chốn Tòng lâm từ những năm 40 đến nay, Hòa thượng đã tận tình giảng dạy cho nhiều thế hệ Tăng Ni về việc tu học, giữ gìn tác phong đạo đức trong nếp sống, phù hợp với Chánh pháp của đức Phật, đóng góp vào việc xây dựng xã hội đạo đức văn minh. Ngoài ra, những phát biểu cuả Hòa thượng tại các Hội nghị, các buổi lễ, các bài viết từ 60 năm trước đây cũng là những tài liệu quí giá về sự phát triển Phật giáo và giáo dục Phật giáo Việt Nam.

Bằng lời lẽ nhẹ nhàng, từ ái, Hòa thượng giảng dạy, dẫn dắt qua những câu chuyện xưa, chuyện nay, những sự việc thường rất bình thường trong cuộc sống bình thường; người đọc, người nghe như được đẩy đưa từng bước để rồi có khi chính mình không hay biết, được đưa vào những ngõ ngách thâm áo của Phật pháp. Những ai từng thân cận Hòa thượng hẳn đều nhận thấy như thế nhưng khó mà nêu trỏ được biện pháp và phương pháp giáo dục của Hòa thượng. Phải chăng cung cách giáo dục này là hiệu năng của Trí tuệ, Từ bi và sức cảm ứng, kết quả của nhiều đời tu hành theo chánh pháp của đức Phật ?

Chân thành cảm niệm Ân sư, tin tưởng giáo lý của đức Phật qua những lời nói, trang viết của Hòa thượng gây lợi ích cho mọi người, chúng tôi trân trọng giới thiệu tập “ Hư tâm học đạo” này cùng chư độc giả.

Từ Đàm,Lập Đông Quí Mùi, 2003.

MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN.

TƯỞNG NIỆM

TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU {1921_2001}

HÒA THƯỢNG TÁNH VÕ HÚY TRỌNG TƯỜNG, PHÁP DANH TÂM PHẬT, TỰ TRÍ ĐỨC, HIỆU THIỆN SIÊU, THUYỀN TÔN TỪ ĐÀM NHỊ TỰ TRÚ TRÌ, LÂM TẾ CHÁNH TÔN TỨ THẬP TAM THẾ TỔ SƯ.

THÁC CHẤT Ư THỪA THIÊN TỈNH, HƯƠNG THỦY HUYỆN, THẦN PHÙ THÔN, THẾ THẾ SÙNG NHO TÍN PHẬT CHI LƯU, NIÊN THIẾU XUẤT GIA, GIỚI LUẬT TINH TRÌ, ĐỐC CHÍ CHUYÊN TU HỌC ĐẠO, THỊ TRÍ ĐỨC LƯỞNG TOÀN, TĂNG TRUNG CHI NHẤT.

PHẬT GIÁO CHẤN HƯNG THỜI, TỰ BẮC DĨ NAM, PHÁP HỘI ĐẠO TRÀNG, XỨ XỨ PHÁP ÂM BẤT TUYỆT, PHẬT HỌC ĐƯỜNG, NGHIÊN CỨU VIỆN, THỜI THỜI BẤT THẤT KỲ TINH ĐẨU CHI QUANG HUY. HIỆN TẠI VỊ LAI TĂNG NI AN ỔN CHI SỞ TRỤ TÂM DÃ.

TRƯỚC THƯ, PHIÊN DỊCH, GIẢNG VIÊN, GIÁO DƯỠNG TĂNG TÀI, LỢI LẠC CHÚNG SINH. THỬ HOÀ THƯỢNG BÌNH SINH HÓA ĐẠO LỘ TRÌNH CHI CỨU KÍNH.

BÁO THÂN VIÊN MÃN Ư NGŨ THẬP TAM HẠ LẠP CHI THU HOÀN QUI SONG THỤ. PHÁP NHŨ TRIÊM ÂN CHÚNG ĐẲNG MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN TĂNG NI PHẬT TỬ NHẤT TÂM ĐỒNG KÍNH LỄ.

NAM MÔ TỰ LÂM TẾ CHÁNH TÔN TỨ THẬP TAM THẾ HÚY THƯỢNG TÂM HẠ PHẬT TỰ TRÍ ĐỨC HIỆU THIỆN SIÊU HÒA THƯỢNG GIÁC LINH.

THUẬN HÓA CỔ KINH QUÍ MÙI NIÊN TRỌNG THU BÁT NGUYỆT CÁT NHẬT MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN HỌC CHÚNG PHẬT TỬ ĐỒNG TRUY NIỆM.

TƯỞNG NIỆM

TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU {1921_2001}

Hòa thượng Bổn sư của chúng tôi họ Võ, thế danh Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tự Trí Đức, hiệu Thiện Siêu, Tổ đời thứ 43 dòng Lâm Tế.

Hòa thượng sinh tại làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế, trong một gia đình Nho phong tin Phật, xuất gia tuổi còn rất sớm, kiên trì giới luật, dốc chí tu học Phật Pháp, Hòa thượng là một trong những học Tăng ưu tú về mặt trí tuệ cũng như đức hạnh được Giáo sư Đốc giáo ban cho tự hiệu là Trí Đức.

Kể từ phong trào chấn hưng Phật giáo đến nay, từ Bắc vào Nam, Hòa thượng luôn diễn xướng pháp âm trên giảng tòa các đạo tràng Pháp hội, là ngôi sao không bao giờ tắt ở các Phật học đường, Học viện, Viện Nghiên cứu, là chỗ trụ tâm yên ổn cho bao thế hệ Tăng Ni sinh khắp miền đất nước.

Trước tác, phiên dịch, diễn giảng Phật Pháp, đào tạo và giáo dục Tăng tín đồ, lợi lạc chúng sanh là cứu cánh cuộc hành trình hóa đạo của Hòa thượng.

Báo thân viên mãn, Hòa thượng thị tịch năm 53 hạ lạp.

Chúng con Môn đồ pháp quyến, lớp lớp Tăng Ni học chúng cùng đệ tử đã được ơn Pháp nhũ, nhất tâm đồng niệm đảnh lễ.

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tam Thế, húy thượng Tâm hPhật, tTrí Đức, hiu Thiện Siêu, Trú trì Từ Đàm, Thiền Tôn nhị tự, kiến lập trị Thuận Hóa Phật giáo Học viện Hòa thượng Giác linh.

Ngưỡng mong Giác linh Hòa thượng Bổn sư thùy từ hộ niệm cho đạo nghiệp của chúng con.

Cố đô Thuận Hóa, năm Quý Mùi, tiết Trọng Thu tháng tám ngày tốt.

MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN, HỌC CHÚNG PHẬT TỬ ĐỒNG TƯỞNG NIỆM.

---o0o---

Vi tính : Kim Thư
Trình bày:Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/11/2010(Xem: 12413)
Đức phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trên cõi Lạc Bang, oai đức không cùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện, độ kẻ chúng sanh ra khỏi Ta bà đem về Tịnh độ. Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: "Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một đại kiếp gọi là Thiện trì".Khi ấy tại cõi Tản đề lam thế giới có vua Chuyển Luân Thánh Vương, tên Vô Tránh Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đông thắng thần châu, hai là Nam thiệm bộ châu, ba là Tây ngưu hóa châu, và bốn là Bắc cu lô châu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn phương, đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ, nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lòng ái kính.
07/11/2010(Xem: 13642)
Bố thí là hạnh đầu tiên trong sáu hạnh của Bồ Tát. Nguyên âm chữ Phạn là Dàna có nghĩa là sự cho, dịch sang tiếng Hán Việt là Bố thí.
07/11/2010(Xem: 19204)
Tối nay, tôi muốn nói về sự thực tập Phật Pháp trong đời sống hằng này. Từ ngữ Phật Pháp - Giáo Pháp – Dharma có nghĩa là phương sách ngăn ngừa. Nó là điều gì đấy mà chúng ta thực hiện nhằm để tránh những rắc rối. Điều đầu tiên mà chúng ta cần phải làm để liên hệ chính chúng ta với sự thực hành Phật Pháp là để nhận ra rằng thực hành Phật Pháp là để hướng tới việc giúp chúng ta tránh khỏi những rắc rối này.
06/11/2010(Xem: 30342)
Ẩn tu nào phải cố xa đời! Mượn cảnh u-nhàn học đạo thôi! Những thẹn riêng mình nhiều nghiệp chướng Bốn ân còn nặng nghĩa đền bồi.
04/11/2010(Xem: 6584)
Cầu siêu là cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho thần thức người đã mất được nhẹ nhàng, siêu thoát về các cõi lành. Trong kinh Địa Tạng có nói rõ tác dụng của sự cầu nguyện cho người chết rằng: Trong 7 phần công đức, người cầu siêu được hưởng sáu phần, người chết chỉ hưởng được một phần mà thôi.
02/11/2010(Xem: 6701)
Điều cực kỳ quan trọng là phải biết đâu là cách thức tốt nhất để dẫn dắt đời sống hàng ngày của ta. Điều này tuỳ thuộc vào việc ta thấu hiểu những gì là hành động tâm linh và những gì không phải, sự khác biệt giữa Pháp và những gì không phải là Pháp. Những lợi lạc của sự thấu hiểu này thì thật vô biên, không thể tin nổi.
02/11/2010(Xem: 6625)
Trong khóa nhập thất Hayagriva Tối Mật tại Viện Vajrapani, Tháng Chín, Tháng Mười năm 1997, Lama Zopa Rinpoche đã ban cho các đệ tử lời khuyên dạy sau đây. Việc này xảy ra khi Rinpoche giải thích một luận văn dài cho sadhana (1) Hayagriva Tối Mật, khi giảng thêm về tiết đoạn quy y:
02/11/2010(Xem: 11130)
Pháp Thân, tự biểu hiện ‘tính không’ và không có sự hiện hữu của thân thể vật lý, mà phải tự hiện thân trong một hình tướng và được biểu hiện như cây trúc...
01/11/2010(Xem: 5781)
Mặc dù không thể nói nhiều nhưng tôi muốn nói ít lời này. Tulku Urgyen Rinpoche và tôi cùng quê quán ở miền Đông Tây Tạng, nhưng chúng tôi vẫn có vẻ rất xa cách nhau. Vào thời ấy chúng tôi không có phương tiện để tới với kỹ thuật tân tiến. Bởi không có máy bay, không xe lửa, không xe hơi nên mọi người phải đi bộ hay đi ngựa, vì thế một khoảng cách mà ngày nay chúng ta thấy dễ dàng vượt qua bằng phương tiện vận chuyển hiện đại thì vào thời đó nó có vẻ rất dài. Mặc dù dĩ nhiên là chúng tôi có nghe nói về nhau, nhưng mãi tới khi lần đầu tiên tôi tới Thung lũng Kathmandu thì chúng tôi mới bắt đầu có một sự nối kết.
30/10/2010(Xem: 6456)
Trước tiên chúng ta phải học “giới học” để thực hành. Nếu không biết giới học, chúng ta không thể nào tịnh hóa những hành vi cư xử của mình. Rồi chúng ta phải học thêm chỉ (samatha) để kiểm soát và tập trung tâm ý. Nếu không biết về thiền chỉ, chúng ta sẽ trau dồi định như thế nào? Nếu không hành định, làm sao chúng ta có thể kiểm soát được tâm mình? Sau đó, chúng ta phải học cách làm thế nào để trau dồi trí tuệ. Nếu không biết về tuệ học, chúng ta trau dồi trí tuệ ra sao?