Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Đọc Kiều, Thương Khách Viễn Phương

20/03/202219:55(Xem: 732)
Đọc Kiều, Thương Khách Viễn Phương
Doc-Kieu-thuong-khach-NG-Thu-Cuc

NINH GIANG THU CÚC
ĐỌC KIỀU
THƯƠNG
KHÁCH VIỄN PHƯƠNG
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA VĂN NGHỆ 2019



LỐI VÀO


Kính thưa quý độc giả

Với tập sách nhỏ nầy – tác giả không hề nghĩ đó là công trình nghiên cứu; mà chỉ xin được gọi là nén tâm hương, là tấc lòng cảm cựu dâng lên anh linh của người thiên cổ - biểu tỏ sự ngưỡng mộ văn tài và xin được chia sẻ nỗi đau đời, đau người của tiền nhân và hậu học.
Sỡ dĩ không gọi là công trình nghiên cứu về Nguyễn Du vì tôi không làm theo hệ thống chương mục của tổng thể tác phẩm, mà chỉ viết theo ngẫu cảm của người đọc đối với mỗi nhân vật trong tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh”, lại nữa; tôi cũng là một cá thể quanh năm đau yếu – khi viết đề tài này là tôi đang nằm tại chỗ, vì xẹp cột sống lưng và bao chứng bệnh khác – phải chăng là đồng bệnh tương lân???
Phần trích dẫn thơ trong Truyện Kiều là chúng tôi dùng bản của cụ Đào Duy Anh đã đối chiếu với hai bản của cụ Bùi Kỷ và cụ Tản Đà.
Trân trọng gởi lời cảm ơn đến các tác giả (đã khuất hay đang còn) đã có những bài viết về cố tác gia Nguyễn Tiên Điền mà tôi đã đọc, đã tham khảo, và các nhà thơ đương đại mà tôi có trích dẫn thơ của quý vị trong tập sách nầy. Đúng ra, phải có một danh mục sách tham khảo, nhưng xin được thông cảm vì tôi không đi lại được để lục lạo trong cái thư viện mini của gia đình mình.
Xin cảm ơn cuộc đời, cảm ơn tất cả, cảm tạ anh linh danh nhân văn hóa của đất nước Việt Nam: cụ Nguyễn Du.
Nguyện cầu mười phương chư Phật và Quốc tổ Việt Nam hộ trì cho dân tộc nầy và toàn thể nhân loại được sống trong hòa bình an lạc. Quên hận thù mà chỉ có yêu thương!
Trân trọng!
Ninh Giang Thu Cúc


(*) Ô.Đ V.Đ.L


ĐỌC KIỀU: THƯƠNG “KHÁCH VIỄN PHƯƠNG”

Từ xa xưa (hậu bán thế kỷ XIX) các bậc nho gia trưởng thượng thường dạy con cháu: “Làm trai chớ đọc Phan Trần. Làm gái chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều”. Thế mà bản thân kẻ viết bài này được sinh ra trong cái nôi Nho gia ấy, lại được phép vượt ra ngoài đạo luật có văn bản rạch ròi như trên...
Tại sao? Số là thầy dạy học – vị gia sư khả kính và cũng là dưỡng phụ tôi – trong chương trình Quốc Văn bậc Tiểu học thường cho mấy nhóc con học thuộc lòng những đoạn thơ ngắn mà cụ gọi là “bài đọc thêm” được Người trích dẫn từ các tác phẩm Văn học cổ điển Đông Phương như “Đại Nam Quốc sử diễn ca”, “Gia Huấn ca”, “Hạnh thục ca” và cao hứng thế nào mà cụ lại cho học luôn cả “Chinh Phụ ngâm” và “Truyện Kiều” với:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
(Đó là nguyên nhân tôi biết buồn quá sớm)
Vậy là theo thời gian và chương trình học mỗi năm tôi đã đến với “Đoạn Trường Tân Thanh” của cụ Nguyễn bằng tất cả niềm quý kính và thích thú – thích thú khi chạy theo nội dung câu chữ, chạy theo từng ý tưởng mà tác gia đã ký thác, chạy theo từng tính cách của mỗi nhân vật mà tác gia đã dày công tạo dựng sinh thành. Thuở mười sáu mười bảy tôi mê một nhân vật mang cái đẹp điển hình của khách hào hoa:
“... thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng
Đề huề lưng túi gió trăng
Sau chân theo một vài thằng con con
Tuyết in sắc ngựa câu dòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời
Nẻo xa mới tỏ mặt người
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình
Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao...”

Hình ảnh “văn nhân” ấy là thần tượng của biết bao cô gái “con nhà” của một thời lượt dắt trâm cài thế hệ chúng tôi. Vì thế mà chúng tối ghét cay ghét đắng khi gặp một chân dung đối lập với người thanh niên phong tao nhã đạm Kim Trọng, đó là gã họ Mã:
“... Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao...”
... “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng...”
Ai cũng hiểu “ghế trên” là chỗ ngồi tôn quý trong mỗi gia đình chỉ dành riêng cho chủ nhân, thế mà gã ma cô cực kỳ vô giáo dục này vừa bước vào đã nhảy bổ lên ngồi, chưa kịp đợi người nhà phân ngôi chủ khách... và cái gì tiếp theo gây cho mọi người sự phẫn nộ cùng cực khi thấy:
... “Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà
Thềm hoa mỗi bước lệ hoa hai hàng
Mối càng vén tóc bắt tay
Nét buồn như cúc điệu gầy như mai...”
Trời ơi! Cái tên họ Mã thô lỗ tục tằn ấy (cũng đã từng là Giám sinh) lại dám cả gan ngồi ghế giám khảo để săm soi nhan sắc não nùng của Thúy Kiều đang cơn gia biến:
... “Đắn đo cân sắc cân tài
Ép cung cầm nguyệt nọ bài quạt thơ...”
Để rồi:
... “Mặn nồng mỗi vẻ mỗi ưa
Bấy giờ khách mới tùy cơ dặt dìu...”
Và chúng ta buồn cười làm sao khi thấy tên này thoắt nhiên lễ độ:
... “Rằng mua ngọc đến Lam Kiều
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường...”
Thế nhưng khi mụ mối khiêm tốn vờ “dạy”:
... “Thưa rằng giá đáng ngàn vàng
Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài...”
Thì với bản năng con buôn (người) “khách” đã phô bày chân tướng biển lận, không ngần ngại mặc cả ì xèo:
... “Cò kè bớt một thêm hai
Ngoài ra ngã giá vàng ngoài bốn trăm...”
Bằng nét cọ chấm phá cực kỳ tinh xảo cụ Tố Như đã phát họa chân dung của Mã Giám Sinh rõ mồn một – chân dung của gã buôn người. “Họ Mã mua người ngồi vắt vẻo/ Thúy Kiều bán mạng đứng chôn chân/ Bốn trăm lạng nát đời khuê nữ/ Thân ngọc vàng tan mộng quý nhân”(*)
Mộng làm quý nhân với mối tình đầu tan vỡ bầm dập đoạn trường... đến lúc làm tay thuyết khách khuyên Từ hải ra hàng binh tướng của triều đình theo lời dụ dỗ của “Quan Tổng đốc đại thần Hồ Tôn Hiến” với ước mong:
“... Công tư vẹn cả đôi bề
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường
Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha...

Nhưng rồi Thúy Kiều ngã đạn ra khi thấy mình bị lừa bởi: “Mưu mô sâu hiểm bọn vương thần/ Nghĩa ân Từ Hải đền chưa trọn/ Nghiệp chướng Tiền Đường rửa sạch trong/ Lòng đã yên bởi tròn hiếu đạo/ Hay còn vướng chút khách vong thân” (**)
Nhắc đến khách vong thân chúng ta thấy hiện ra trước mắt mình cái chết bi đát, bi phẫn hay bi tráng (?) của người đã có một thời:
... “Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông...”
Người Việt Đông ấy khi đến với Thúy Kiều chỉ có:
... “Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo...”
Hành trang trên vai lúc vào đời đã đủ giàu có để chàng hào sảng hứa hẹn và khẳng định với Thúy Kiều:
... “Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau...”
Và lời hứa hẹn đã thành sự thật khi Từ Hải công thành danh toại (???)
... “Giáp binh kéo đến quanh nhà
Đồng thanh cùng gởi: “Nào là phu nhân”
Hai bên mười vị tướng quân
Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu
Cung nga thể nữ nối sau
Rằng “Vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy...”
Thôi chúng ta trở lại chủ đề của bài viết nhỏ này đi, tôi lại mang bệnh lan man như cố nhà thơ Quách Tấn:
... “Tình lan man gợi tứ lan man”
(Đêm thu nghe quạ kêu – Quách Tấn)
Không hiểu sao khi đọc Kiều, nhân vật tôi thương nhất lại là “người khách viễn phương”. Và khi có ý định đặt vấn đề về nhân vật này tôi đã tham khảo nhiều tư liệu viết về Truyện Kiều của các bậc khoa bảng thời cận đại hiện đại và tôi đã đọc hai trăm lẻ bảy bài viết về Kiều trong bộ hợp tuyển “Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều” của soạn giả Lê Xuân Lít do nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành tháng 9 năm 2005 vẫn không thấy vị nào nhắc đến người khách viễn phương, tôi thấy tội nghiệp cho nhân vật này, một nhân vật chỉ xuất hiện một lần trong tác phẩm qua lời thuật sự của cậu bé “Một con trai thứ rốt lòng. Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia.” Mà cậu này đáng sợ thật, bởi vì so tuổi của Thúy Kiều Thúy Vân mà cụ Nguyễn gới thiệu thì Vương Quan lúc bấy giờ chỉ mười một – mười hai tuổi là cùng, mà sao thông thạo chuyện trà đình tửu điếm quá vậy, mà cậu ta lại là “dòng nho gia” kia đấy (?!)
Không biết có ai thắc mắc như tôi không?
Trong một lần tôi và nhà văn Vũ Hạnh cùng là khách mời của “Á Nam lưu niệm đường” nhân ngày húy nhật của cố thi gia Á Nam Trần Tuấn Khải (23 tháng Giêng âm lịch mỗi năm) nói chuyện với ông ấy một lúc tôi mới nhớ lại là Vũ Hạnh có viết tập tiểu luận “Đọc lại Truyện Kiều” do nhà xuất bản Tổng hợp Nghĩa Bình ấn hành năm 1987. Vậy là về đến nhà tôi lập tức lục lạo trong thư viện mini của mình, đọc ngấu nghiến và may thay đã tìm được cái mình lang thang tìm kiếm bao tháng ngày. Trong tám (8) bài tiểu luận của Vũ Hạnh có một bài nói đến khách viễn phương mà đề bài là một nghi vấn, một dấu chấm hỏi. Tác giả tự suy luận, tự lập luận rồi tự giải mã. Trong bốn hạng người sắp xếp theo trật tự xã hội “Sĩ, Nông, Công, Thương” Vũ Hạnh loay hoay mãi không biết đặt khách viễn phương vào vị trí nào trong thời bấy giờ theo quan điểm duy ý chí của ông.
Tôi không lạm bàn những điều Vũ Hạnh đề cập trong bài tiểu luận ấy, mà chỉ có nỗi vui duy nhất là có người đã lưu tâm đến nhân vật khách viễn phương như mình; còn quan tâm đến mặt nào, đến ngóc ngách nào của nhân vật đấy là quyền cảm thụ và thẩm định của mỗi cá nhân bạn đọc.
Vũ Hạnh nhìn tổng thể chân dung của khách viễn phương và đánh giá theo lý tính, còn tôi – một người phụ nữ đầy cảm tính – tôi nhìn khách viễn phương qua việc làm thực tế, qua hành xử hào hiệp, nghĩa tình vô vụ lợi với người đàn bà bạc mệnh Đạm Tiên. Người khách xa lạ ấy chẳng biết ở phương nào trong bốn phương tám hướng của xã hội Minh Triều (?)
Tất nhiên là khi đến với Đạm Tiên người khách xa lạ ấy có mục đích “Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi”. Nhưng nếu là một khách làng chơi bình thường hay tầm thường họ sẽ quay lưng khi thấy “Buồng không lặng ngắt như tờ” chứ ai lại “Sắm sanh nếp tử xe châu” và lại khiêm tốn bảo “vùi nông một nắm”. Vì thế tôi quý tấm lòng nhân hậu ấy – nếu bảo cuộc đời nầy không ai cho không ai thứ gì, thì vẫn có một đấng trượng phu “cho” mà không cần đáp trả - đó là người khách viễn phương xa lạ “Thi ân bất cầu báo”. Vì vậy làm sao ta “Nỡ Quên Một Tấc Lòng”: Ơi! này người khách viễn phương/ Tuyệt vời thay giữa mù sương ta bà/ Chút tình trong ngọc trắng ngà/ Chưa trao đổi, chưa la cà nhục thân/ Xe châu nếp tử mộ phần/ Chu toàn cho kẻ chưa lần tương giao/ Chỉ nghe “nức tiếng” má đào/ Tìm thăm cho thỏa nếp hào hoa chơi/ Nào ngờ “trâm gãy bình rơi”/ “Buồng không lặng ngắt” bời bời xót xa/ “Đã không duyên trước chăng mà”/ Sắm sanh hậu sự gọi là duyên sau/ Tình sao đẹp tợ trân châu/ Nghĩa mà như vậy cao sâu mấy tầng/ Đẹp sao giữa cõi phù vân/ Đạm Tiên ơi! chút phước phần chiều hôm/ Qua bao cay cực dập dồn/ Kẻ tung người hứng nát hồn ca nhi/ Vẫn còn được khách yêu vì/ Viễn phương khách ấy nên ghi bảng vàng.../ Mà sao độc giả bàng quan?!... (***)
“Mà sao độc giả bàng quan?!” đó là câu hỏi tôi đặt ra và cảm thấy buồn cho người khách phương xa... nhưng bây giờ thì khác, sau khi đọc bài “Khách viễn phương, người là ai?” với sự tìm tòi luận giải về thân thế của nhân vật khá công phu, sự quan tâm đến một người thoáng qua trong tác phẩm, của nhà văn Vũ Hạnh tôi cảm thấy vui vì đã tìm được sự đồng thanh. Và niềm vui không dừng lại - vừa rồi trong một buổi lang thang kiếm tìm trên “mạng” tôi gặp được ba bài viết:
1. Về một nhân vật bị lãng quên trong Truyện Kiều của Đỗ Anh Vũ đăng trên An ninh thế giới online nhân Kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Nguyễn Du (1765-2015)
2. Về nhân vật “Khách viễn phương” trong Truyện Kiều của Mai Văn Hoan đăng trên Hoa giấy blog thứ Tư ngày 15/05/2013
3. So sánh dị bản Truyện Kiều, tác giả Lê Quế, NXB Văn học 2008
Thú thật với bạn đọc là tôi sung sướng đến lịm người khi đọc xong hai bài viết của Đỗ Anh Vũ và Mai Văn Hoan.
“So sánh dị bản Truyện Kiều” là một tác phẩm dày dặn, phần dành cho “khách viễn phương” với mười hai câu từ câu 67 đến câu 78 được tác giả đưa vào phần giảng luận, phân tích, so sánh rất kỹ lưỡng theo cảm quan của ông, tạo thích thú cho người đọc và đóng góp một phần ý kiến kiến thức, cho học sinh sinh viên khi muốn tìm hiểu nghiên cứu về đề tài này.
Với bài “Về nhân vật “Khách viễn phương” trong Truyện Kiều” Mai Văn Hoan phản biện là tác giả Lê Quế đã suy luận sai về cái chết của Đạm Tiên, đây là chuyện của hai ông, Ninh Giang Thu Cúc không lạm bàn.
Niềm hạnh phúc lớn của NGTC là đã có người nhớ đến và viết về một nhân vật mà NGTC quý trọng về tấm chân tình. Chỉ vậy thôi.
Còn với tác giả Đỗ Anh Vũ qua bài nhàn đàm “Về một nhân vật bị lãng quên trong Truyện Kiều” thì đúng là tôi đã bắt gặp được một sự đồng điệu, đồng cảm đến cao độ. Bằng những câu chữ như rút từ ruột gan của những tấm lòng gặp những tấm lòng:
... “Có một điều rất trần tục nhưng buộc lòng phải thừa nhận là ba nhân vật có danh kia đều không ít thì nhiều đều đã được thụ hưởng vẻ đẹp thể xác và tâm hồn của Thúy Kiều, trong đó, Thúc Sinh và Từ Hải sau khi đã “thụ hưởng” thì mới giúp nàng những việc lớn như bỏ tiền chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh hay “báo ân báo oán”. Khách viễn phương trái lại, không cần một mảy may thụ hưởng nào, sự đồng điệu tri âm với Đạm Tiên đã bất chấp thời gian, không gian và bất chấp cả lẽ sinh tử của tạo hóa.
Nhưng vẫn còn một bí mật nữa đằng sau nhân vật khách viễn phương. Theo tôi, khách viễn phương còn có thể chính là một gửi gắm, một hóa thân của chính Nguyễn Du vậy. Đó chính là cái hữu danh ẩn sau cái vô danh, cái ngẫu nhiên phủ lên niềm chủ ý. Cụ Nguyễn Tiên Điền, như ta đã biết, từng là một công tử hào hoa sống trong nhung lụa, lại cũng trải qua một thời kỳ 10 năm gió bụi dưới chân Hồng Lĩnh, rồi lại làm quan, nhưng vượt trên tất cả là tấm lòng thương yêu con người vô hạn, lắng nghe từng tiếng nói buồn vui của những người dân nơi trồng dâu nuôi tằm làng xa xóm vắng, cho đến những âm thanh của chốn đô thị phồn hoa...”
(Trích từ “Về một nhân vật bị lãng quên trong Truyện Kiều”, An ninh thế giới online, Kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du 1765 - 2015, lúc 10h03 phút ngày 17/07/2015)
Xin cảm ơn những người đã nghĩ và đã viết “khách viễn phương” và vô cùng cảm ơn ông Đỗ Anh Vũ, phải chăng câu văn của Chu Mạnh Trinh cũng rất đúng trong văn cảnh này: “... Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu...”

MỘT CẶP “SÁU TÁM”
ĐỆ NHẤT TÀI HOA

Chỉ có người am hiểu tận tường lẽ tử sinh còn mất, nghiên cứu sâu về Phật học và vật lý học mới thấy nền tảng sự cấu tạo con người vật lý là sự kết hợp củabốn thành tố đất, nước, gió, lửa, và cách đây hai ngàn năm trăm sáu mươi hai (2562) năm nhà bác học Thích Ca Mâu Ni đã khẳng định điều ấy.
Vì thế, sự hợp tan của bốn yếu tố đó là lẽ tất nhiên khi hội đủ điều kiện.
Hiểu như thế và từng nghiên cứu sự lý như thế, nên thi hào Nguyễn Du đã nói về chuyện ở, đi, sống, chết nhẹ như mây, thoáng như gió, Vua, chúa, khanh, tướng, công, hầu, Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử hay bách tính lương dân đều bị sự chi phối của luật vô thường và bình đẳng trong cái chết.
Xin một lạy vọng nhớ thi hào và tột cùng tâm đắc khi cụ tả cái chết của Đạm Tiên: “Phận hồng nhan quá mong manh/ Nửa chừng xuân thoắt, gãy cành thiên hương...”
Câu sáu chỉ là bệ phóng cho câu tám bay cao trong kho tàng bảo vật “Đoạn Trường Tân Thanh”.
Trời ơi! Tả cái chết mà như đưa tay hứng một đóa hoa, nhẹ như mây mùa xuân lơ lửng bay giữa cung trời thơ mộng!
Tài hoa đến độ “Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy” (*) Cụ Phạm Quý Thích là một đại tri kỷ của thiên tài Nguyễn Du.
(*) Thơ Phạm Quý Thích

KIM TRỌNG, THÚY KIỀU, KHÁCH VIỄN PHƯƠNG, TỪ HẢI
Sự ký thác của Nguyễn Du

Người xưa khi cầm bút để thực hiện một công trình, một tác phẩm nghệ thuật – các vị đều mang một tâm nguyện là gửi gắm tâm tư, hoài bão lý tưởng để phụng sự cho đối tượng riêng, chung, nhỏ, lớn cho cuộc đời, cho xã hội, cho Tổ Quốc thân yêu của mỗi công dân.
Nhà Quân sự chiến lược tâm lý chiến tài ba kiệt xuất – Ức Trai Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô sách” đóng góp mưu trí cùng Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược để bảo vệ từng tấc đất của ông cha.
Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm làm “Chinh phụ ngâm” để an ủi, sẽ chia nỗi buồn thương, trông ngóng của những người mẹ, người vợ, có con, có chồng đang “ Giã nhà đeo bức chiến bào*” lăn mình vào lửa đạn ở chiến trường trong sứ mệnh bảo vệ Tổ Quốc biên cương nhưng lòng vẫn hướng về quê nhà nơi có “ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa/ Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm/ Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam/ Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân** ”
Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều ký thác nỗi bất bình của kẻ sĩ bó tay trước thời thế, bằng tác phẩm “ Cung oán ngâm khúc” để tố cáo các chế độ quân chủ tập quyền; tranh bá đồ vương, bằng cách đồng cảm xót thương thân phận của lớp lớp cung nga thể nữ; bị giam hãm tuổi thanh xuân trong Tử cấm thành của mỗi triều đại Vua chúa để hầu hạ phục vụ chuyên gối chăn cho các vì “Thiên tử”, đến lúc về già nhan sắc tàn phai bị thất sủng ôm nỗi sầu cô quạnh, và biết đâu có người suốt một đời chưa hề diện kiến long nhan để nhận chút “ân mưa móc” bởi xe dê không dẫn lối đưa đường***, mõi mòn ngồi trong cung lạnh đếm thời gian chờ đợi ngày về thiên cổ.
“….Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì…”
(CONK – NGT)
Vậy thì Nguyễn Du sau khi đọc “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân; Nguyễn Tiên Điền vì động lực nào, vì cảm xúc nào thúc đẩy để ông viết “Đoạn Trường Tân Thanh” bằng ba ngàn hai trăm năm mươi bốn (3245) câu thơ lục bát mượt mà; để lại dấu ấn bất tử cho nền văn học cổ điển thời trung đại của dân tộc Việt Nam.
“Đoạn Trường Tân Thanh” là niềm thương cảm sầu vương cho bao nhiêu tầng lớp độc giả từ Á sang Âu… Nếu thuở sinh tiền, Tố Như tự hỏi: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Vậy thì bây giờ ở một cõi miền xa xôi nào đó, xin cụ yên lòng vì không chỉ ba trăm năm; mà kẻ hậu sinh này trộm nghĩ là còn nhiều và nhiều năm sau nữa tác phẩm của cụ vẫn là đề tài hấp dẫn làm tốn nhiều giấy mực và nước mắt của bao khách văn chương, vì thế không ngoa ngữ tí nào khi nhà báo Phạm Quỳnh chủ bút tờ Nam Phong tạp chí đã khẳng định: “Truyện Kiều còn, nước ta còn/ Tiếng ta còn, nước ta còn.” Câu nói bất hũ ấy sau này được viết trang trọng bằng chữ nôm trên trụ cổng vào mộ phần của nhà báo, nhà văn hóa tài hoa họ Phạm ở khu đất phía trước Chùa Vạn Phước Thành phố Huế.
Có rất nhiều ý kiến không đồng nhất về thời điểm Nguyễn Du viết tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” theo cụ Hoàng Xuân Hãn “Liệt truyện và gia phổ đều viết Nguyễn Du đi sứ năm Gia Long thứ mười hai (1813) năm sau về. Lúc bấy giờ Nguyễn Du đúng 50 tuổi và mất năm 56 tuổi. Vậy quyển “Đoạn Trường Tân Thanh” viết ra trong khoảng năm 1814 – 1820”. (Theo Nguồn gốc Văn Kiều – Hoàng Xuân Hãn trang 30 – HTNNCBLTK-LXL)
Và trong “so sánh dị bản truyện Kiều” NXB Văn học 2006 tác giả Lê Quế cũng cho rằng truyện Kiều được viết vào năm 1814. Có thể tất cả luận điểm trên đều còn là những thắc mắc đang tồn nghi trong nền văn học cổ cận, điều này chỉ có chính người viết ra nó mới giải đáp được ẩn số nhưng nay Cụ đã phiêu lãng hạt nội mây ngàn ở chốn thần tiên nào đó; để có lúc trung niên thi sĩ Bùi Giáng đã ngậm ngùi:
“…..Trời đất lạnh và lòng anh không thỏa
Gửi hồn đi phương hướng hút heo ngàn
Hồn ngơ ngác loay hoay về hỏi dạ
Có bao giờ dạ thỏa giữa không gian..”
(Hận – Nhớ Tố Như – Bùi Giáng – Nhà Xuất bản Văn nghệ 2005)
Chúng tôi (NGTC) là kẻ sinh sau đẻ muộn đã từng học truyện Kiều và đọc đến thuộc lòng bằng tất cả niềm yêu quý dành cho tác phẩm, và sự trân kính ngưỡng mộ dành cho người nghệ sĩ mát tay; có tên Nguyễn Du đã dày công nuôi nấng gầy dựng các nhân vật tiêu biểu bằng thịt xương sinh động.
Theo thiển ý của chúng tôi (NGTC) truyện Kiều là một sáng tác vĩ đại của Nguyễn Tiên Điền chứ không phải là tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân có tên gọi “Kim Vân Kiều truyện”.
Nguyễn Du chỉ mượn nhân vật, bối cảnh, tình tiết của đất nước Trung Hoa triều đại nhà Minh. Mượn chuyện người để kể chuyện mình, mượn không gian người để chuyển tải bao nỗi niềm chìm đắm đau thương tranh danh doạt lợi, tương tàn tương sát của xã hội Việt Nam thời Lê mạc – cái thời mà một số sĩ phu khoanh tay bất lực trước sự đàn áp của Chúa Trịnh với Vua Lê, các vị “con trời” thuở ấy chỉ còn là chiếc bóng mờ nhạt, là những ông Vua bù nhìn từ Lê Dụ Tông đến Lê Chiêu Thống…Những sỉ nhục đớn hèn của một hạng người xu phụ, những rối ren khủng khiếp, những đau đớn ê chề nhục nhã của một số tầng lớp quan quân buổi ấy đã được Ngô Gia văn phái tường thuật rạch ròi khiến người đọc phải chau mày nghiến răng qua tác phẩm (HLNTC) “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” và Phạm Đình Hổ với “Vũ trung tùy bút”, “Tang thương ngẫu lục”.
Là con trai thứ bảy (7) của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị Tần, người phụ nữ mĩ miều của xứ Kinh Bắc. Cậu ấm Du sống trong nhung lụa với sự cưng chiều của gia đình, nhưng hạnh phúc không mỉm cười lâu hơn với cậu, vừa lên mười (10) tuổi, nổi bất hạnh lớn ập đến là thân sinh Nguyễn Nghiễm qua đời và hai năm sau phu nhân Trần Thị Tần cũng theo chồng về thiên cổ, bỏ lại bốn anh em Nguyễn Du côi cút, đành nương tựa vào người anh cả khác mẹ là Tã Thị Lang bộ hình kiêm hiệp trấn xứ Sơn Tây, hoạn lộ của người anh Nguyễn Khản nhiều gập ghềnh biến động, tuy vậy, Nguyễn Du vẫn được anh cho ăn học tử tế, thi đậu tam trường (tú tài) rồi thôi không học tiếp nữa.
Chính những điều đau đớn từ xã hội đến gia cảnh, tự trong sâu thẳm của tấm tình bi đát, cậu thiếu niên công tử là nạn nhân, là chứng nhân của thảm kịch quốc phá gia vong, quá khứ vàng son khép lại từ khi mồ côi cha mẹ mang mặc cảm sống nhờ ở đậu cô độc cô đơn, người thiếu niên rồi thanh niên ấy tìm vui qua các buổi hát hò cùng các cô cậu trai làng (hát phường vải) bước lãng du của người con trai phong vận đưa chàng đến cây đa bến nước đầu làng để gặp người thôn nữ chèo đò ngang đẹp như vầng trăng mười sáu, và có giọng hát trong veo như sương mai, họ yêu nhau nồng nàn.
“… Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi
Vừng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song…”
Thế mà họ không thực hiện được lời thệ ước – bởi quan điểm bất đồng giai cấp của bà mẹ lớn, và bà ép Nguyễn Du cưới vợ để chia cắt mối tình đầu của cậu ấm Nguyễn Du. Mối tình đẹp như trăng đành tan vỡ theo thành kiến môn đăng hộ đối, đã đem lại cho Nguyễn Du nỗi tuyệt vọng cùng cực, nỗi ám ảnh khôn nguôi....
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Ngân trong bài “ Nghiên cứu văn học số 6 - năm 1960” thì ông có tìm thấy trong thư viện Huế một tập thơ (di cảo) có tên Tình Hận của Nguyễn Du.
Truyện Kiều ngoài 8 câu đề dẫn, phần vào nội dung ta thấy Nguyễn Du đã mở ra một không gian nghệ thuật bằng câu sáu “...Rằng năm Gia Tĩnh Triều Minh..” Sao lại phải triều Minh mà không phải là triều đại Vua Lê Chúa Trịnh nước ta?
Ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu (3254) lục bát mượt như nhung và thơm hương ngọc lan dịu nhẹ toàn tập là từng khúc ruột mang thương tích trầm kha nhức nhối, là nỗi đau thống khổ của thời đại, của cộng đồng, của cá nhân, mỗi nhân vật chính diện của tác phẩm là một phát ngôn nhân, một công tố viên, một hội thẩm nhân dân, một luật sư bào chữa, mà bào chữa cho ai? Ai chánh án và ai tội phạm. Một quãng đời thanh niên Nguyễn Du đã theo gương cha đem trí lực phụng sự Lê triều, khi nhà Lê sụp đổ cáo chung, Nguyễn Du mất phương hướng, ông không tỏ thái độ hưởng ứng hay chống đối phong trào nông dân Tây Sơn mà lẳng lặng phiêu bồng sương khói khắp miền non Lĩnh sông Lam mười năm đằng đẳng ngõ hầu tìm quên thế sự ...vì vậy có nhiều ức đoán của các nhà nghiên cứu là “ Đoạn Trường Tân Thanh” ra đời ở giai đoạn này, những ức đoán, khẳng định, phủ quyết về năm tháng khai sinh tác phẩm là một điều vừa thú vị, vừa mệt mỏi, vừa kích thích sự tìm tòi của bạn đọc xưa nay và mai sau....
Trong những tháng năm bất đắc dĩ phải chơi trò tiêu dao vui thú yên hà, dọc sông Lam và chín mươi chín ngọn hồng lĩnh trên góc trời quê kiểng ấy với tuổi đời trong ngoài ba mươi (36), liệu Nguyễn Du có hội đủ chất liệu, sự trải nghiệm qua bao nhiêu trò đời, tình đời, lên voi xuống chó, đã đủ chưa những điều trông thấy, có lẽ mới tạm đủ, nhưng để cho đầy đặn phủ phê những điều trông thấy ấy phải là lúc ông vâng mệnh người khai sáng triều Nguyễn là Thể tổ Cao Hoàng đế Gia Long ra làm quan với tân triều bằng tâm trạng “hàng thần lơ láo” đây là giai đoạn Nguyễn Du bị khủng hoảng tâm lý trầm trọng, hệ quả là những ngày ốm đau bệnh tật lạnh lẽo nằm tại dịch quán của đất Cố Đô, những thương ghét đố kị gièm pha bia miệng của người đời, của cuộc đời đã tạo cho ông sự đối kháng bằng im lặng. Với vai trò Chánh sứ đi triều cống “Thiên Triều trung hoa” những tháng ngày công cán trên đất khách, lúc rảnh rỗi ông đã tìm thăm các di tích lịch sử của các triều đại đã lùi vào quá khứ, đã khóc vì quý trọng sự trung liệt của một Nhạc Phi, đã căm giận sự gian hùng của một Tần Cối đã ngậm ngùi trước Đồng Tước đài của Tào Tháo xây dựng với tâm niệm tặng Đại Kiều, Tiểu Kiều của Ngô Tôn Sách và Chu Du nếu Ngụy thắng Ngô, đến sông Mịch La nơi Khuất Nguyên trầm mình...và gót du tử dừng chân ở núi Cô Sơn khóc thương người bạc mệnh:
“... Chỉ phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư....”
(ĐTTK - ND)
Với bản chất đa sầu đa cảm, vì vậy gặp một hoàn cảnh thương tâm nào cũng đem lại cho Nguyễn Du sự đồng cảm cao độ, sự sẻ chia thật chí tình và ông đặt mình vào đối tượng để cùng khổ đau, ông khóc cho người và cho bản thân ông, có lẽ trong nền văn học cổ cận - ông là nhà thơ khóc nhiều nhất!
Nhà thơ TCHYA (Đái Đức Tuấn) đã từng viết:
“..... Nghệ sĩ trót sinh giàu cảm lụy..”
Vâng! Giàu cảm lụy là căn bệnh chung của nghệ sĩ, nhưng với Nguyễn Du - người nghệ sĩ biệt phái này thì sự cảm lụy nhân lên đến vạn lần trời đất ạ.
Tố chất buồn thương đã là vốn liếng của cậu bé lên mười, tiến lên là một công tử phong vận lỡ bước cùng đường, gia đình ly tán, bế tắc hoạn lộ công danh, nghèo túng quanh năm suốt tháng .... đến lúc được nhà Nguyễn chiêu mộ ra làm quan, đáng ra phải được vinh gia ấm tử và bản thân ông phải được sung túc lên xe xuống ngựa, được tẩm bổ bằng sơn hào hải vị, vậy mà ông vẫn đói khổ bệnh hoạn xác xơ cho đến lúc nhắm mắt lìa đời chưa đến tuần sơ thọ để tài hoa sóng bước bạn bầu oan khiên...là tài mệnh tương đố chăng???
Sự buồn khổ, thất chí, thất tình, từ buổi thanh my cho đến khi bạch phát, sự trải nghiệm bao nhiêu nỗi đoạn trường thân thế, sự chung đụng với nhân tình nơi thì lạnh nhạt nơi thì xót thương đã tích lũy cho ông một vốn sống quá phong phú, quá no đầy, để ông trải lòng trải ý chấp chới trên đầu ngọn bút biến thành câu chữ ngọt ngào để lại một gia tài văn học đồ sộ cho cuộc đời, vì thế ta có thể suy đoán là tác phầm “ Đoạn Trường Tân Thanh” ra đời sau khi ông đi sứ về (1814).
Nỗi niềm mình, tâm sự mình ông đã ký thác gửi gắm qua từng nhân vật.
a. Một công tử lịch lãm phong vận thông minh tài bộ hơn người “...Đề huề lưng túi gió trăng/ Sau chân theo một vài thằng con con/ Tuyết in sắc ngựa câu dòn/ Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời...” “....Nền phú hậu bực tài danh/ Văn chương nết đất thông minh tính trời/ Phong tư tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa...”
Đó là Nguyễn Du phát họa chân dung tự thân của mình thời “ còn cha gót đỏ như son”
b. Những tháng ngày thanh xuân yêu đương trong sáng với cô lái đò yểu điệu thục nữ - lời thề nguyện trăm năm hương lửa không thành - bởi sự so sánh thành phần của người cầm cân nảy mực trong đại gia đình Nguyễn Du; nên lứa đôi phải tan đàn xẻ nghé, cuộc tình đầu gãy đổ đã để lại cho Nguyễn Du niềm di hận khôn nguôi “....Bây giờ trâm gãy gương tan/ Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân...”
c. Với Tứ vô lượng tâm của nhà Phật là Từ Bi Hỷ Xả thì một người có tìm hiểu về Phật pháp, và với tâm Từ Bi vô lượng Nguyễn Du đã cho người khách viễn phương thực hiện hai điều căn bản là Tâm Từ và Tâm Bi, qua việc làm rất đẹp với người đàn bà bạc mệnh Đạm Tiên “... Sắm sanh nếp tử xe châu/ Vùi nông một nắm mặc dầu cỏ hoa....”
d. Tang bồng hồ thí nam nhi chí - tìm không ra chân Chúa để phụng sự, để thực hiện lý tưởng an bang tế thế, để trên vì nước, dưới vì nhà, mộng công hầu tan rã bao phen, mặc dầu bản thân là người “...Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài/ Đội trời đạp đất ở đời...”
Bốn nhân vật tiêu biểu của Truyện Kiều - Kim Trọng, Thúy Kiều, Khách Viễn phương, Từ Hải - chúng ta nhập bốn nhân vật điển hình ấy lại và phóng to sẽ thấy một chân dung Nguyễn Du cao vời vợi, với đa chiều tính cách mà người xây dựng muốn giới thiệu về bản thân mình.
Kim Trọng là Nguyễn Du của thuở hoa niên với nền phú hậu bực tài danh, văn chương nết đất thông minh tính trời.
Thúy Kiều là Nguyễn Du với tình yêu nửa đường đứt gánh tương tư thăng trầm lên voi xuống chó; có nhiều lúc; đàn ông cũng phải bán mình vào “lầu xanh” và làm ôsin để: thanh lâu hai lượt thanh y hai lần???
Khách viễn phương là Nguyễn Du với tấm lòng rộng mở thương yêu gửi đến khắp cả thế gian, khắp cả mọi giai tầng trong xã hội với trái tim của một người học Phật.
Từ Hải là Nguyễn Du với chí lớn bất thành, không hòa nhập được cuộc đời mình vào vòng quay của thời thế lúc bấy giờ, nên đành: “ Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng bầu mà hỏi/ Thiên hạ man man/ Ai người tri kỷ/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường ****” Rốt cuộc một hành trình cô độc với gươm đàn nửa gánh và biết trước là “....Hàng thần lơ láo phận mình vào đâu..” nhưng biết và làm cái mình biết là hai việc khác nhau.
Bốn gương mặt, bốn tính cách và những bi kịch của mỗi người cộng lại thành một chân dung, một nhân cách của đại thi hào Nguyễn Du, bốn gương mặt đại diện cho một thân phận, một số phận, số phận phong vận kỳ oan, một nỗi niềm: cổ kim hận sự thiên nan vấn....Là thế đó Tố Như tiên sinh ạ! Bởi vì
Từ xưa nay đến mai sau
Tài hoa sóng bước bạn bầu oan khiên.

Chú thích:
* Chinh phụ ngâm
** Chinh phụ ngâm
*** Vua Tần Thủy Hoàng thường đi chơi bằng xe dê, các cung nữ gắn lá dâu ở ngoài cửa phòng mình mong xe đưa vua đến để được chiêm ngưỡng long nhan...
**** Hồ trường của Nguyễn Bá Trác

HOẠN THƯ GHEN VÌ YÊU???

Cuộc hôn nhân giữa Hoạn Thư và Thúc Sinh, dưới cái nhìn của những người chung quanh thời ấy, là một cuộc hôn nhân khập khiễng về đẳng cấp xã hội thời phong kiến.
Bản thân Hoạn Thư là kẻ đang sống trong guồng máy ấy, đang tự hào trong cái gọi là vọng tộc “….Vốn dòng họ Hoạn danh gia / Con quan lại bộ tên là Hoạn Thư / Duyên đằng thuận nẻo gió đưa / Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày….”
Tôi không tin đấy là cuộc hôn nhân duyên đằng thuận nẻo gió đưa, mà là do một điều gì đó rất tế nhị, rất thâm cung bí sử của nhà họ Hoạn để một vị quan đầu triều; thượng thư bộ lại chịu hạ mình kết thông gia với một thương nhân, hay nói trắng ra là một lái buôn; lại nữa thuận nẻo gió đưa sao đám cưới rồi mà hai kẻ yêu nhau ấy; hai vợ chồng ấy quá đủ điều kiện để sống bên nhau thì hà cớ chi phải chịu cảnh người đầu sông, kẻ cuối sông như vậy? Phận cát đằng có hề nương tựa cây tòng, cây bách Thúc Sinh lúc nào đâu mà bảo là duyên đằng thuận nẻo. Phải chăng đó chỉ là một cuộc hôn nhân hình thức để cô tiểu thư họ Hoạn được tiếng có chồng, đám cưới xong Hoạn tiểu thư vẫn thong dong ở trong phủ đệ nhà mình, còn Thúc Sinh tức chàng Kì Tâm họ Thúc vẫn “…Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri”, hoàn cảnh không có gì trắc trở để đôi vợ chồng trẻ ấy không được sống bên nhau, nếu thực sự họ yêu thương nhau thì không ai làm như thế, vợ chồng gì mà một vài năm mới gặp nhau ít buổi. Vậy ta nghĩ sao về câu cổ thi dành tặng cho đôi lứa “nhất nhật bất kiến như tam thu hề”.
Về phần Thúc Sinh có thể một trong hai trường hợp:
1. Gia đình Thúc Sinh muốn dựa hơi chốn quan gia để có chút thơm lây và hãnh diện với đời.
2. Bản thân Thúc Sinh muốn được tham chính vào chốn quan trường bằng uy tín của nhà vợ. Còn với Hoạn Thư, Thúc Sinh chỉ có sợ nhiều hơn yêu.
Bây giờ, ta đặt vấn đề về Hoạn Thư và ta hỏi – Hoạn Thư có yêu chồng không? – Là đàn bà – tôi khẳng định: không có chút tình yêu nào Hoạn Thư dành cho Thúc Sinh cả, người xưa từng bảo: “Lấy chồng thì phải theo chồng, chồng đi hang rắn hang rồng cũng đi”, huống gì Hoạn Thư chỉ về Lâm Tri với cha con Thúc Sinh cho trọn niềm vợ hiền dâu thảo, mà cô tiểu thư này đâu có chịu làm. Chẳng bù cho các cô công chúa lá ngọc cành vàng của triều đại nhà Nguyễn ở Việt Nam, khi các công chúa “hạ giá”, tức là lấy chồng; họ đều vui vẻ về nhà chồng làm dâu làm vợ, điển hình như công chúa Đồng Xuân, con của vua Thiệu Trị, em út của vua Tự Đức, sau vì phạm lỗi nên vua Đồng Khánh đã ban cho tên Phục Lễ, vợ của phò mã Nguyễn Lâm. Công chúa Tịnh Hảo, vợ của phò mã Đặng Huy Cát, đều về quê chồng ở nông thôn làng Chí Long huyện Quảng Điền, làng Thanh Lương huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Họ cũng chăm sóc ruộng vườn khoai lúa như bao người phụ nữ đảm đang của giới bình dân, việc làm của các cô công chúa ấy là chứng minh cho tình yêu chồng vợ của người đàn bà Á Đông thuần túy.
Vậy tại sao Hoạn Thư không có hành động đẹp như trên? (tôi không dùng cụm từ “xuất giá tòng phu” nó quá tuyệt đối, sẽ không hợp lắm trong xã hội bây giờ).
Bằng vào những suy luận trên, tôi khẳng định một lần nữa là Hoạn Thư không có tình yêu với Thúc Sinh, chỉ có chút nghĩa vợ chồng “từ xa”.
Có người sẽ không đồng ý với lập luận trên và đặt câu hỏi:
- Không yêu sao lại ghen?
- Xin thưa, Hoạn Thư ghen đâu phải vì yêu mà chỉ muốn chứng tỏ quyền lực mình trước đối thủ, ghen để thỏa mãn sự chiếm hữu mang tính ích kỷ; rằng Thúc Sinh là của ta, ngươi không được đụng vào, đụng vào là dở sống dở chết đấy, và lúc nào Hoạn Thư cũng đóng vai của kẻ bề trên “…Ví bằng thú thật cùng ta/Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên…” Kẻ dưới - đây không phải ám chỉ tình địch mà là với Thúc Sinh đấy, bởi tất cả cơn cớ ấy đều do Thúc Sinh gây ra, nếu Thúc Sinh nghe lời Thúy Kiều kể hết sự tình “lỡ dại” của mình cho Hoạn Thư nghe thì bọn Ưng, Khuyển đâu có cơ hội đốt nhà bắt cóc Thúy Kiều, và Hoạn Lão phu nhân đâu có báo thù thay cho con gái mà đánh phủ đầu Thúy Kiều “…Nào là gia pháp nọ bay/Hãy cho ba chục biết tay một lần/A hoàn trên dưới dạ rân/Dẫu rằng trăm miệng khôn phân lẽ nào/ Trúc côn ra sức đập vào/Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh…”
Trận đòn làm cho Thúy Kiều chết đi sống lại của Hoạn Lão bà bà dành cho Thúy Kiều khiến Hoạn Thư phần nào hả dạ, vì trước khi cho Ưng, Khuyển đi bắt Thúy Kiều, Hoạn Thư đã quyết tâm “…Làm cho cho mệt cho mê/Làm cho đau đớn ê chề cho coi/Trước cho bỏ ghét những người/Sau cho để một trò cười về sau…”
Thành ra cái ghen của Hoạn Thư không có nỗi đau đớn khổ sở của một người đang yêu bị người yêu phụ bạc, không quay quắt, xốn xang, quên ăn, bỏ ngủ của kẻ bị phụ tình, mà chỉ duy nhất có sự tức tối vì cái vật sở hữu của mình bị kẻ khác qua mặt hớt tay trên, nên quyết quậy đảo phá phách cho đáng đời thằng chồng bội phản, những đòn vọt, những đối xử “….Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi”. Đúng ra là Thúc Sinh lãnh chịu nhưng vì bảo vệ cái gọi là gia phong, danh giá của nhà họ Hoạn và vì lòng tự tôn tự ái, Hoạn Thư giấu kín nỗi niềm cay đắng không để cho ai biết mình là kẻ bị bỏ rơi, nên thay vì hành hạ Thúc Sinh nàng đã bắt Thúy Kiều làm vật thế thân, nhưng lại làm như độ lượng lắm “…Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen/ Xấu chàng mà có ai khen chi mình…”
Đó chẳng qua là một cách nói để tự phỉnh phờ mình mà thôi! Suy cho cùng – trong vụ việc này; Thúc Sinh là kẻ thắng lợi, ngồi vắt chân trong tiệc tẩy trần một bên có vợ cùng đối ẩm, một bên có “hoa nô” hầu rượu, hầu đàn với cõi lòng tan nát “…Cùng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm..”
Đừng tin những giọt nước mắt của Thúc Sinh, gã đang khóc vờ đấy; Bởi vì tiệc rượu tan thì tiệc tình khai mạc “..Người vào chung gối loan phòng” còn thì giờ đâu mà nhớ đến “…Kẻ ra tựa bóng đèn chong canh dài..”
Đọc đến đoạn ấy tôi đau lắm, đau cho thân phân đàn bà nói chung và đau cho Thúy Kiều, đau cho cả Hoạn Thư, thật ra cả hai người đàn bà ấy đều đáng thương như nhau, đều là nạn nhân của kẻ chơi liều nói ngông, của kẻ quen thói bốc rời, đã từng ba hoa “…Trăm điều hãy cứ trông vào một ta..” Thế nhưng khi tai họa đến với người đã từng “…Trước còn trăng gió sau ra đá vàng..” thì gã tình nhân này phán một lời nghe mà nổi da gà vì sự tráo trở, trơ trẽn “…Liệu mà xa chạy cao bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi..”
Chao ôi! Một cuộc tình kết thúc không có hậu chút nào!
Nhưng, Hoạn Thư sau khi đã cùng mẹ bàn mưu tính kế để hãm hại Thúy Kiều; lòng tự tôn đã thỏa, cơn tam bành lục tặc đã được vỗ về yên giấc, thì lòng nhân hậu, bản chất và thiên lương của người đàn bà đã trở về, nàng âm thầm tạo cơ hội và giúp đỡ tư trang cho Thúy Kiều hộ thân; ngầm “mở cửa” cho Thúy Kiều ra khỏi Quan Âm các, ra khỏi vòng kiểm soát của nhà họ Hoạn, đó là cái nhân tốt, hạt mầm thiện mà người nghiên cứu Phật pháp Nguyễn Du đã cày ải vun xới thâm canh trên mảnh ruộng phước cho Hoạn Thư…
Nhân gieo thì quả giặt, quả tốt ở đây là lúc Thúy Kiều được Từ Hải giúp sức để ân đền oán trả, trong “phiên tòa xét xử” bà chánh án Thúy Kiều đã tuyên bố tha bổng tội nhân Hoạn Thư với suy nghĩ: “..Tha ra thì cũng may đời/ Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen/ Đã lòng tri quá thì nên/ Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay..” Đến đây ta thấy cái phi trượng phu của anh chàng họ Thúc khi Thúy Kiều: “…Cho gươm mời đến Thúc lang/ Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run..”
Người đọc phì cười cho sự hèn nhát của gã này, trong hoàn cảnh nào ta cũng thấy được sự hèn nhát của Thúc Sinh, con người chỉ biết ăn chơi giá áo túi cơm, động đến việc gì là co vòi thúc thủ, mà lạ thay gã này luôn được ưu ái, thay vì trách phạt kẻ bạc tình, thì Thúc Sinh lại được Thúy Kiều ban tặng “….Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân/ Tạ lòng để xứng báo ân gọi là..”
Lại suy cho cùng nữa; trong cuộc tình này chỉ có Thúc Sinh là người thắng cuộc, không biết lúc ở Lâm Tri, Thúc Sinh đã trả bao nhiêu bạc để chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh, sau khi được chiêm ngưỡng dung nhan “…..Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên..” và suốt một năm làm chủ nhân tòa thiên nhiên ấy, bây giờ lại được gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân thì quả là tên này nhận được món lãi quá hời. Chỉ thương cho Thúy Kiều – nhưng không sao, bao dung, nhân hậu, là tố chất của đàn bà mà!
Với một gã đàn ông như Thúc Sinh làm sao Hoạn Thư yêu được để mà ghen.

MỘT VÀI THẰNG CON CON SAU CHÂN NGỰA CỦA KIM TRỌNG


Chắc hẳn chúng ta ai cũng mừng, vì thấy trẻ con trong xã hội bây giờ được nhiều đãi ngộ từ gia đình đến cộng đồng đa số được học hành tử tế, được cha mẹ chăm bẵm từ miếng ăn giấc ngủ đến cái áo tấm quần, ngày ngày đi học chiều chiều đi chơi, vì vậy nghĩ lại mà thương cho con nít thời xa xưa bị thiệt thòi đủ thứ - đến miếng thịt chó mà cũng bị ăn giành (Con nít không được ăn thịt chó – Nguyễn Công Hoan).
Con nít ngày xưa là thành phần để phục vụ cho người lớn, quạt hầu cho người lớn ngủ đấm bóp tay chưng lưng cổ khi người lớn mỏi mệt, lau bàn quét bụi trong nhà, quạt lò nấu nước pha trà, thắp đóm châm thuốc cho người lớn phì phèo, ôm tráp điếu chạy theo hầu các vị đang ngồi trên võng hay trên lưng ngựa.
Khi đọc Truyện Kiều với :
“… Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng
Đề huề lưng túi gió trăng
Sau chân theo một vài thằng con con…”
Tôi hình dung ra cảnh hai thằng bé ấy đang vất vả ôm một tráp văn phòng tứ bảo và đồ nhật dụng chạy lút cút sau chân ngựa của cậu chủ hào hoa, tôi còn nghĩ là chúng nó khát nước và đói bụng nữa đấy – thấy thương quá phải không? Túi gió trăng cậu chủ mang là cái túi trừu tượng mà lại thong dong trên yên ngựa còn vật dụng thực thể lại ngự oằn lưng trên đôi vai bé nhỏ của hai chú tiểu đồng – có bất công không?
Khi tôi vừa đủ lớn để nghe được chuyện thi cử thời quân chủ xa xưa, rồi qua “Lều chõng” của Ngô Tất Tố, và “Bút nghiên” của Chu Thiên thấy mấy vị công tử con các vị Chánh Tổng, Lý trưởng ngất ngưởng khoác tay nải đi tung tăng còn các chú tiểu đồng gánh một gánh nặng nào lều nào chõng nào lương thực thực phẩm, áo quần chăn nệm chạy theo các sĩ tử đến bở hơi tai, tôi thương cảm quá.
Công lao là thế nhưng đến khi bảng hổ đề danh bái tổ vinh quy, xênh xang áo mão võng lọng rợp đường, chẳng nghe vị Trạng nguyên, Bảng nhãn nào nhắc đến công hãn mã của mấy chú tiểu đồng?!

TÌNH CHỊ DUYÊN EM HAY SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA THÚY VÂN


Đọc Truyện Kiều ai cũng thương cảm cho mối tình quá đẹp, quá lãng mạn với : “… Đài sen nối sáp lò đào thêm hương/ Tiên thề cùng thảo một chương/ Tóc mây một món dao vàng chia đôi/ Vừng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song/ Tóc tơ căn vặn tấc lòng/ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương…” nhưng rồi gia biến dồn dập Kim Trọng phải từ giã Kiều để về Liêu Dương thọ tang thúc phụ; cũng trong thời gian ấy, cơn đại biến ập đến gia đình Thúy Kiều; Vương ông thân phụ của nàng bị một tên lái buôn (gã bán tơ) gieo họa, nhà tan cửa nát dưới tay bọn ruồi xanh, sai nha của một quan huyện nào đấy mà lý lịch hành chánh tư pháp thật mơ hồ, chỉ biết vị quan phụ mẫu và bọn tay sai ấy đã hành hạ hai cha con Vương Viên ngoại và Vương Quan bằng gông cùm tra tấn cùng cực dã man
“…Già Giang một lão một trai
Một dây vô loại buộc hai thâm tình…”
Thúy Kiều là người con gái lớn quay quắt khi thấy cha và em trai bị oan khiên đành quyết định nhờ mối mai kiếm chỗ bán mình lấy bốn trăm lạng vàng hối lộ cho bọn cẩu quan để mua sinh mạng cho cha và em…
Nàng đau đớn khi bị tan vỡ tình yêu đầu đời giữa nàng và Kim Trọng; mới thề nguyền hẹn ước trăm năm mà phút chốc đã thành người phụ nghĩa, bên hiếu bên tình dằn vặt xót xa; trong tột cùng đau khổ, nàng đã nẩy ra quyết định và: “…Cậy em, em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa…” Trời ơi! Đạo lý Đông phương phải ngoảnh mặt trước cảnh người trên lạy kẻ dưới bởi ngộ biến tùng quyền.
Cảm thông với tình cảnh của chị mình Thúy Vân chấp nhận lời đề nghị thay đào đổi mận của Thúy Kiều, đến đây chúng ta thấy Thúy Vân không hời hợt, vô tình vô cảm như ý nghĩ chung của người đọc khi nghe Vân cự nự Thúy Kiều lúc hai người đứng trước mộ Đạm Tiên: “…Vân rằng “Chị cũng nực cười/ Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa…” Và Vân cũng không hề vô trách nhiệm khi gia đình gặp đại họa, có thể Vân đang âm thầm tìm một đối sách khả dĩ nhưng bởi dáng vẻ “trang trọng khác vời” và tính cách kín đáo “Hoa cười ngọc thốt đoan trang” nên nàng quyết định chậm hơn chị một bước chăng? Tự trong sâu thẳm của tâm tư Vân không phải:
“… Đặt mình xuống không biết chi trười đất
Ngáy thường nhiều hơn những giấc mơ
Nhà có chuyện, coi như người ngoại cuộc
Vẫn ăn no, ngủ kỹ như không…”
Đừng nghĩ vậy tội cho Thúy Vân lắm nhà thơ Vương Trọng à… (VT - MTTV – Nguyễn Du và Truyện Kiều, trang 143 - Lê Thu Yến)
Lần chị em Thúy Kiều, Thúy Vân, Vương Quan đi chơi nhân “Thanh minh trong tiết tháng ba” để có cuộc gặp gỡ giữa Kim Trọng Thúy Kiều để Kim Trọng bày tỏ: “Trộm nghe thơm nức hương lân/ Một nền Đồng tước khóa xuân hai Kiều…” Kim Trọng đã so sánh cái đẹp của chị em Thúy Kiều với cái đẹp của Đại Kiều, Tiểu Kiều ở Đông Ngô mà Tào Tháo đã xây đài Đồng tước với ước vọng sẽ đón được hai nàng Kiều về ở để thỏa mãn lòng ngưỡng mộ và để trả thù Ngô Tôn Sách và Châu Công Cẩn (Chu Du).
Trong hai chị em, Kim Trọng đã chọn Thúy Kiều và ngay lần gặp đầu tiên Thúy Kiều đã yêu Kim Trọng, có thế mới cả gan: “…Lần theo núi giả đi vòng/ Cuối tường dường có nẻo thông mới rào/ Xắn tay mở khóa động đào/ Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên thai/ Mặt nhìn mặt càng thêm tươi/ Bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên/ Sánh vai về chốn thư hiên/ Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông…” Tình yêu sâu như biển cao như núi, vậy mà Thúy Kiều đành cắn răng quay mặt để phó thác người mình yêu cho em gái…
Phần Thúy Vân khi đã thấu cảm tất cả sự và tình của chị, chẳng còn cách nào hơn – Vân xót lòng trình bày mọi chuyện với cả nhà, kỷ vật thề nguyện của Kim Kiều, Vân cũng đưa ra cho Vương ông Vương bà nhìn thấy tỏ tường, ta có thể hình dung quang cảnh bi thương của gia đình Vương Viên ngoại lúc ấy…
Tự nhiên có một người yêu từ trên trời rớt xuống, một văn bản bàn giao vô tự, tôi chắc Thúy Vân chẳng sung sướng gì khi phải chấp nhận một biện pháp tình thế mà Thúy Kiều áp đặt, vì sau lần gặp Kim Trọng trong buổi chiều thanh minh ấy; về nhà ta có đọc được dòng nào để thấy Thúy Vân nhắc đến chàng Kim – cái động thái “e lệ nép vào dưới hoa” chỉ là phản xạ của những cô gái có giáo dục, thế thôi.
Bảo rằng Thúy Vân lạnh lùng, vô trách nhiệm với gia đình trong cơn hoạn nạn là chúng ta đã suy nghĩ bất công với nhân vật nầy, trong việc bán mình chuộc cha của Thúy Kiều, Thúy Vân đã đóng góp một nửa công lao bởi Thúy Vân cũng đã “bán mình” cho Kim Trọng dẫu hai cách bán mình khác nhau, một bên lãnh hậu quả bi thương và một bên có hiệu quả trên bề mặt thực tế, còn chiều sâu tâm trạng của Thúy Vân đã có người đồng cảm, nói hộ nàng
“…Đau lắm chị ơi
Cả em và chị nửa đời dở dang
Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang
Đàn ông chỉ có một chàng thôi ư…?”
(Hoàng Dân – B.C.K.C. Nxb Văn học 2000)
Mười lăm năm cho hai thân phận – một thân phận bầm dập đoạn trường từ lúc: “Xiết bao kể nỗi thảm sầu/ Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi/ Kiệu hoa đâu đã đến ngoài/ Quản huyền đâu đã giục người sinh ly/ Đau lòng kẻ ở người đi/ Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm/ Trời hôm mây kéo tối rầm/ Rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương/ Rước nàng về đến trú phường/ Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong…” Thế là chấm hết cuộc đời trinh nữ giữ ngọc gìn vàng từ lúc Mã Giám Sinh đưa nàng về trú phường dang tay dập liễu vùi hoa; cửa địa ngục trần gian đã hé mở đọa đày Thúy Kiều cho lũ ngưu đầu mã diện hả hê, phán quan Diêm chúa tha hồ tra khảo tan nát từ xác đến hồn…
Còn Thúy Vân thì sao? Chúng ta nghe “Tâm sự nàng Thúy Vân”
“Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim

…Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên

…Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão dông…
Chị nhiều hờn giận yêu thương
Vầng trăng còn lắm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim
Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu!”
(Trương Nam Hương trong Nguyễn Du và Truyện Kiều…, Lê Thu Yến, trang 134-135)
Cảm ơn những vần thơ chia sẻ tâm trạng nàng Vân!
Thế đấy nếu không vì tình cốt nhục, ân nghĩa sinh thành thì liệu Thúy Vân có làm cái việc: “Lấy người yêu chị làm chồng/ Đời em thể thắt một vòng oan khiên…”
Lòng hiếu thảo của hai người con gái Vương ông tôi cho là bên tám lạng bên nửa cân.
Xin cảm tạ Thúy Kiều và xin biết ơn sự hi sinh thầm lặng vì Đạo Nghĩa của Thúy Vân!


QUAN CHỨC VÀ VƯƠNG ĐẠO


Từ ngàn xưa ở các triều đại quân chủ, xã hội có bốn thành phần: Sĩ, Nông, Công, Thương, cái thuở thái bình thịnh trị ấy, người người thượng tôn luật pháp.
Thành phần đầu tiên - tất cả đều lo dùi mài kinh sử, thập niên đăng hỏa, khi đỗ đạt bảng hổ danh đề; họ đều ôm hoài bão “Tiến vi quan, thối vi sư” một tâm niệm phụng sự ảnh hưởng từ nền giáo dục Khổng Mạnh – họ ra làm quan là trên vì Nước dưới vì Dân đem tài trí đức độ làm cho xã hội phồn vinh, dân chúng ấm no sung túc, nước có phép nước, nhà có phép nhà, xây dựng một đất nước, một xã hội, một dòng họ, một gia đình có đầy đủ: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, quần thể lãnh đạo ấy thật xứng đáng để thiên hạ tụng xưng “Quan ư Phụ mẫu chi dân” lấy Vương đạo, chính đạo để trị vì đất nước. Các bậc quan hiền tướng giỏi khi làm xong bổn phận với muôn dân, khi “Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo” họ rũ áo từ quan lui về quê cũ mở trường dạy học; đem lại sở học, kiến thức, đạo lý, đạo đức, trao truyền cho lớp lớp môn sinh; kế thừa công nghiệp của người đi trước, đào tạo tiếp nhân tài mai hậu đầy đủ phẩm chất để tiếp tục phụng sự quê hương.
Đời sống các trí sĩ hưu quan ấy thanh sạch và thanh bạch xiết bao, họ được người xung quanh tin yêu kính trọng bởi các vị ấy cư xử khiêm cung - gần gũi mọi giới đồng bào; với suy nghĩ “Quan nhất thời, dân vạn đại”
Đẹp thay chính đạo và Vương đạo của kẻ sĩ, của tiền nhân!
Có một vùng miền đất nước trên bản đồ địa lý châu Á mà thi hào Nguyễn Du giới thiệu mở đầu cho toàn thể khí hậu của “Đoạn Trường Tân Thanh”:
“…Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng…”
Thật là quá thương cảm cho tâm sự, tâm tình u uất của người viết – bởi ngòi bút không vâng theo ý nghĩ của chủ nhân (?!)
“Phẳng lặng” và “vững vàng” chỉ là những cụm từ giao đãi để bảo vệ cho sự an toàn của tác phẩm và tác giả, nói theo ngôn ngữ báo chí gọi là “lách” viết lách – viết là phải lách, nỗi khổ tâm của người cầm bút chân chính từ ngàn xưa cho đến mai sau.
Mỉa mai làm sao với cái gọi là “bốn phương phẳng lặng” của Minh triều – mà ngay giữa kinh thành đèn đuốc sáng choang; lại nẩy nòi ra một gã bán tơ ắc ê cùi bắp chui ra từ một ngõ ngách nào vu oan giá họa cho gia đình Vương Viên ngoại, vướng cái án “thằng bán tơ” mà phải đáo tụng đình, ngồi xử án là một vị quan huyện chẳng ai rõ tuổi tên, mọi tiếp xúc giữa bị cáo và chính quyền đều qua trung gian của “... Họ Chung có kẻ lại già” tên cò mồi họ Chung này làm ra vẻ xót thương Thúy Kiều “…Thấy nàng hiếu trọng tình thâm/ Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót thay/ Tính bài lót đó luồn đây/ Có ba trăm lạng việc này mới xuôi…”
Bốn phương có phẳng lặng không, xã hội có trong sạch không, khi đầy rẫy những tên lưu manh đội lốt công tử với: “…Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao/ Trước thầy sau tớ xôn xao…” lùng sục vào hang cùng ngõ hẹp để phỉnh dụ con gái nhà lương thiện đem về “nước trước bẻ hoa” xong tống vào nhà thổ giao cho những mụ đàn bà: “Thoáng trông lờn lợt màu da/ Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?...”
Mụ Tú bà lờn lợt màu da là đại diện cho tầng lớp đưa người cửa trước rước người cửa sau cùng những tên ma cô: “Chung lưng mở một ngôi hàng/ Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề…”
Ở những “ngôi hàng” ấy có bao nhiêu người con gái bị lũ ma cô dụ hoặc mang về “tiếp khách lấy lời mà ăn” có bao nhiêu tiếng nấc nghẹn, tiếng rên siết đau đớn, vì những trận đòn của mụ Tú Bà, có bao nhiêu nạn nhân của tên Sở Khanh tráo trở lật lọng theo mưu sâu kế hiểm của bọn buôn người…thì ở đâu ra sự “phẳng lặng” kia chứ?!
“Hai kinh vững vàng” ư?
Một triều đại thịnh trị an bình với bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng mà sao chỉ trong một năm trời Từ Hải đã đánh chiếm được năm huyện thành Nam Kinh dễ dàng như vậy và ngang nhiên lập “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà/ Đòi cơn gió táp mưa sa/ Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam/ Phong trần mài một lưỡi gươm/ Những phường giá áo túi cơm sá gì/ Nghênh ngang một cõi biên thùy/ Kém gì cô quả kém gì bá vương/ Trước cờ ai dám xem thường/ Năm năm hùng cứ một phương hải tần…”
Binh hùng tướng mạnh của triều đình nhà Minh đâu cả mà để ra cớ sự này?
Nếu “cái triều đại nhà Minh” đúng là một quốc gia thịnh trị an bình, với vua anh minh quan nhân từ liêm chính, đem tài sức trí tuệ phụng sự đất nước và trăm họ, giữ gìn biên cương lãnh thổ, canh phòng nghiêm ngặt thì Từ Hải làm gì có cơ hội để nghênh nganh một cõi biên thùy như vậy, và biết đâu ông sẽ đem thân ra phụng sự triều đình để trở thành một vị võ quan mẫn cán…
Khi vua nhà Minh ban ơn huệ là đẩy xe cho Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến đi đánh dẹp Từ Hải – Vị đại thần nầy thay vì rõ ràng minh bạch đấu sức đấu trí để chiến đấu và chiến thắng – thu phục Từ Hải về với triều đình thì gã Võ quan này lại dùng hạ sách là “đi đêm” mua chuộc Thúy Kiều bằng vật chất và những hứa hẹn; đánh trúng vào viễn cảnh sum hợp với cha mẹ gia đình mà nàng thèm khát bấy lâu: “…Nàng thì thật dạ tin người/ Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu…” Không những nàng xiêu mà nàng còn vận động cho Từ Hải cũng “xiêu” luôn! Và cái gì đến là phải đến: “Đang khi bất ý chẳng ngờ/ Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn/ Tử sinh liều giữa trận tiền/ Dạn dày cho biết gan liền tướng quân…” Từ Hải chết đứng giữa vòng vây vì nghe lời chiêu dụ của Thúy Kiều, quan tổng đốc đại thần Hồ Tôn Hiến chiến thắng Từ Hải nhờ núp váy đàn bà, sự chiến thắng này giá trị mấy phần trăm. Sự hành xử của Hồ Tôn Hiến có đúng với chính trị, chính đạo của một dũng tướng hay chỉ là hành động của phường bá đạo.
Ôi! Vương đạo – biết tìm đâu?!


THÚY KIỀU – ĐẠI DIỆN NHỮNG SỐ PHẦN BẤT HẠNH

Bạn đọc “Truyện Kiều” thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội ai ai cũng dành lòng thương cảm cho các nhân vật chính diện của tác phẩm – tiêu biểu là người con gái sắc tài; nhân vật chính mà Nguyễn Du đã lấy tên cô làm nguyên mẫu toàn truyện.
Có thật là “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” như phần đầu tác giả đã giới thiệu; dự báo cho mệnh nghiệp của Thúy Kiều...
Không “đứt ruột” sao được khi một người con gái; con nhà lương thiện đang hạnh phúc trong vòng tay cha mẹ, đang “...êm đềm trướng rũ màn che...” và đang mở lòng yêu, được yêu – tình yêu của đôi trai tài gái sắc – họ đến với nhau và thuộc về nhau trong một không gian đẹp và lãng mạn như thơ, thời gian lắng đọng đến yên ắng để nghe, để chứng kiến, để ghi nhận tình yêu họ dành cho nhau với tất cả sự thiêng liêng trân trọng: “Tóc tơ căn vặn tấc lòng/ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương...” Nhưng rồi lời thề nguyện không thành sự thật, tóc tang ập xuống đầu chàng; trước lúc về Liêu Dương thọ tang thúc phụ - Kim Trọng đã bịn rịn âu yếm căn dặn Thúy Kiều: “...Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời...” Qua lời dặn dò trên người đọc có suy nghĩ là Kim Trọng yêu bản thân mình nhiều hơn yêu Thúy Kiều.
Mà Thúy Kiều có gìn vàng giữ ngọc được đâu khi Kim Trọng mới: “...Buộc yên quảy gánh vội vàng/ Mối sầu sẻ nửa bước đường chia hai...” thì bão tố sấm sét đánh sập tổ ấm để Vương ông mắc vòng lao lý, gia cảnh tan tác: “...Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh/ Rụng rời khung dệt tan tành gói may/ Đồ tế nhuyễn, của riêng tây/ Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham...”
Cơn gia biến đã hoàn toàn thay đổi đời sống, thay đổi số phận – đang là một cô gái khuê các Thúy Kiều trở thành “vợ bé” của gã đàn ông man trá phỉnh lừa, gã buôn người mang lốt đại gia...
Một lũ hại người lương thiện toa rập hỗ tương nhau, từ thằng bán tơ đến bọn “Một ngày là thói sai nha/ Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền...”
Những tưởng bán mình làm vợ bé để cứu cha là đã trọn bề hiếu đạo, hi sinh tình yêu vì chữ hiếu là bổn phận của kẻ làm con, cứu vãn gia đình trong cơn ngoặt nghèo là đạo lý của kẻ làm người có lương tri tâm huyết – nếu sự việc chỉ dừng lại ở những điều vừa nêu ở trên thì “Đoạn Trường Tân Thanh” mức độ đứt ruột sẽ không quá nặng ký và dân tộc Việt Nam sẽ không có một thiên tuyệt bút để đời và loài người (một số nước) trên thế giới không có một tác phẩm vĩ đại để thưởng thức...
Mười lăm năm kể từ rời khỏi gia hương, đời Thúy Kiều bầm dập đủ trò ấm lạnh, nhục nhã với bao địa ngục trần gian đã đọa đày từ thể xác đến tâm hồn; một vị lão quan - đệ tử cửa Khổng sân Trình và là đồng hương của Nguyễn Tiên Điền đã kết án Kiều: “Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”, rõ khổ - Thúy Kiều nào có máu “tà dâm” – nếu có thì nàng đã thất thân với Kim Trọng trong lần gặp gỡ mà chàng Kim đã “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”, lúc tình yêu đằm thắm như vậy mà Thúy Kiều vẫn tỉnh táo phân trần mọi lẽ thiệt hơn với Kim Trọng và hứa hẹn: “Vội chi liễu ép hoa nài/ Còn thân ắt lại đền bồi có khi...” để Kim Trọng phải nể phục và ngợi khen: “... Thấy lời đoan chính dễ nghe/ Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân...”
Hành động vượt rào qua gặp kim Trọng của một đứa con gái con nhà nề nếp thì đáng trách thật, nhưng chúng ta hãy tha thứ cho nàng khi nghe nhà toán học, nhà vật lý học Pascal đã tuyên bố “Trái tim có những lý lẽ mà lý trí không dự phần” (Có thể tôi không trích đúng nguyên văn). Vì vậy ta quặn lòng khi Thúy Kiều ân hận: “Biết thân đến bước lạc loài/ Nhị đào thà bẻ cho người tình chung...” Đó là suy nghĩ rất đắng đót và cũng rất người khi Kiều nghĩ đến Kim Trọng.
Mười lăm năm lăn lóc tủi nhục tột cùng; nghiệp chướng trầm luân nghiệt ngã cho kiếp hồng nhan, trong đó có năm năm làm vợ Từ Hải, một người đã từng: “Năm năm hùng cứ một phương hải tần” trong thời gian ấy Thúy Kiều đã bằng lòng với số phận mình chưa? Đã thấy vinh hiển chưa khi thấy lính lác của Từ Hải: “... Đồng thanh cùng gởi: Nào là phu nhân/ Hai bên mười vị tướng quân/ Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu...” Và được Từ Hải bày biện cho một cuộc ân đền oán trả, với những ân tình và thù hận, oan có đầu nợ có chủ: “...Ba quân đông mặt pháp trường/ Thanh thiên bạch nhật, rõ ràng cho coi/ Việc nàng báo phục vừa rồi...”
Việc báo phục hình như chưa đủ - Sao Thúy Kiều không nhờ Từ Hải tìm “thằng bán tơ” – bởi chính gã này mới là đầu dây mối nhợ cho sự chìm nổi đau thương oan trái của Thúy Kiều, chính danh thủ phạm là gã ấy cộng thêm bầy quan nha rúc rỉa xương máu của lương dân...
Tháng năm nương náu trong sự bảo bọc của Từ Hải ở “phương hải tần” nọ, cái phương hải tần mà Từ Hải đắc ý khẳng định: “...Triều đình riêng một góc trời”. Thúy Kiều đâu có thật sự bình an tâm lý, nàng đau đáu niềm thương nỗi nhớ về cha già mẹ yếu và lo lắng cho hai em, băn khoăn không biết Thúy Vân có thực hiện được những điều ký thác của mình trước khi dấn thân vào miền luân lạc...
Cho nên khi Hồ Tôn Hiến cho người gặp nàng thuyết phục một viễn cảnh quá đẹp để quay về cố quận, nàng đã “thật dạ tin người” nhìn vào thân phận mình để thấy “...Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân/ Bằng nay chịu tiếng vương thần/ Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì...”. Bằng suy nghĩ ấy, nàng đã nhận lời ra sức vận động năn nỉ; vẽ ra cho Từ Hải thấy một bức tranh toàn diện cho sự trở về để “...Công tư vẹn cả hai bề/ Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương/ Cũng ngôi mệnh phụ đường đường/ Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha/ Trên vì nước dưới vì nhà/ Một là đắc hiếu hai là đắc trung/ Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng/ E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa...”
Bằng những lời gan ruột ấy, Thúy Kiều đã thành công – Từ Hải đã: “...Nghe lời nàng nói mặn mà/ Thế công Từ mới đổi ra thế hàng/ Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng/ Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh/ Tin lời thành hạ yên minh/ Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng/ Việc binh bỏ chẳng giữ giàng/ Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư...”
Với cái trò ma mãnh tiên lễ hậu binh – Hồ Tôn Hiến đã lừa được Từ Hải đem tấm thân vai năm tấc, thân mười thước ra vái chào quan Đại thần Hồ Tôn Hiến, và a lê hấp – Xong đời... Cái chết đứng của Từ Hải đã làm cho Thúy Kiều: “...Khóc rằng: trí dũng có thừa/ Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này!/ Mặt nào trông thấy nhau đây?/ Thà liều sống thác một ngày với nhau...” Nhưng oan gia nghiệp báo đâu đã buông tha kiếp phận hồng nhan, men chiến thắng đỏ ngầu đôi mắt – quan tổng đốc đại thần ra lệnh: “...Bắt nàng thị yến dưới màn/ Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu/ Một cung gió thảm mưa sầu/ Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay/ Ve ngâm vượn hót nào tày/ Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu...”
Và rồi cái gì xảy ra sau khi nhăn mày rơi châu; căn vặn lại lai lịch của khúc đàn bạc mệnh, để rồi: “...Nghe càng đắm, ngắm càng say/ Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình/ Dạy rằng: “hương lửa ba sinh/ Dây loan xin nối cầm lành cho ai”...”
Bắt vợ của kẻ bại trận làm hầu thiếp cho mình hình như là bản chất của đa số kẻ chiến thắng bất cứ chiến thắng bằng cách nào?!
Khi không ép buộc được người cô thế bèn nhân danh “...phương diện quốc gia” giả nhân giả nghĩa, ban phát ân huệ bằng cách gán ghép Thúy Kiều cho tên thổ quan dưới trướng mà thật tội nghiệp cho ông này tiếng có miếng không bởi khi “...Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền...” giữa cảnh trời cao đất rộng mênh mang ấy càng làm Thúy Kiều đau đớn khi nghĩ: “... Rằng “Từ công hậu đãi ta/ Chút vì việc nước mà ra phụ lòng/ Giết chồng mà lại lấy chồng/ Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời/ Thôi thì một thác cho rồi/ Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông...”
Hành động mượn nước sông Tiền Đường rửa sạch và chấm dứt nỗi oan khiên đã được danh sĩ Chu Mạnh Trinh chia sẻ trong bài đề tựa cho tập “Đoạn Trường Tân Thanh” với những câu rút ruột: “Tấm lòng này như tuyết như gương, mối sầu nọ qua ngày qua tháng, ngọc kia không vết, giá liên thành khôn xiết so bì, nước đã trôi xuôi, hồn cựu mộng vẫn còn vơ vẩn, bàn cho thật phải tình cũng nên thương”.... “Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu”.
Từ xưa nay giữa cõi dâu bể hí trường có biết bao nàng Thúy Kiều cũng mang lấy nghiệp vào thân như vậy???
Không phải riêng chi đàn bà mà cả đàn ông cũng là những chàng Thúy Kiều – Đại thi hào Nguyễn Du là một chàng Thúy Kiều điển hình ngoi ngóp giữa bể trầm luân – để an ủi người và tự an ủi mình cụ đã hạ bút: “...Tài tình chi bấy cho đời đất ghen...”


CỤ NGUYỄN DU VIẾT TRUYỆN KIỀU LÚC NÀO VÀ Ở ĐÂU

Tôi được duyên may làm quen với Truyện Kiều rất sớm như đã trình bày ở bài “Đọc Kiều thương khách viễn phương”
Qua một số tài liệu văn bản tôi được đọc từ mấy chục năm nay về cuộc đời, về thân thế và sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du và bằng ba ngàn hai trăm năm mươi bốn (3254) câu thơ lục bát đã đeo đuổi, đã ám ảnh trong lòng tôi suốt bao năm tháng và tôi muốn làm một điều gì để biểu tỏ lòng ngưỡng mộ kính yêu đối với tác phẩm, và với người đã tái sinh lại các nhân vật bất tử, điển hình là người con gái, người phụ nữ tài sắc và bất hạnh Thúy Kiều.
Trong các bài khảo luận nghiên cứu của các học giả cận đại và hiện đại đều đặt nghi vấn là Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long thống nhất sơn hà, hay sau khi ra làm quan với Nguyễn Triều, và viết trước khi đi sứ sang Trung Hoa hay sau khi đi sứ về, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra đáp án chính xác và điều nầy vẫn còn tồn nghi trong nền văn học cổ điển thời trung đại.
Có một vấn đề mà kẻ hậu học này cố tìm nhưng không thấy trong các bài viết là không ai đặt câu hỏi Nguyễn Du viết “Đoạn Trường Tân Thanh” ở địa điểm nào, chỉ đặt nặng thời gian mà không nhắc đến không gian, địa điểm tạo cảm hứng sáng tác cho nhà thơ.
Nhà công quán hay công vụ của Kinh thành Huế nơi dành cho chức sắc quan viên từ các nơi về lưu trú trong thời gian đương nhiệm, các tòa nhà ấy nằm rải rác xung quanh đường dẫn vào Đại Nội, nơi bộ máy quân chủ đang ngự trị - Từ vòng ngoài Tử Cấm Thành cho đến các vùng lân cận như Vỹ Dạ, Nguyệt Biều, Kim Long, Xuân Hòa, An Ninh Thượng, An Ninh Hạ, đều có các dinh thự, các tòa nhà xanh mát để phục vụ bá quan văn võ tùy theo phẩm trật (cửu phẩm quan giai), một trong những ngôi nhà ấy là nơi cư ngụ của quan Đông các học sĩ tước Du Đức Hầu và sau này là Hữu Tham Tri bộ lễ, tức nhà thơ Nguyễn Du vào thập niên những năm 1882 của thế kỷ XIX.
Ra làm quan và dưới sự chỉ dụ của Vua Gia Long, Nguyễn Du đã đảm nhận nhiều chức vụ như Tri phủ Thường tín ở tỉnh Hà Đông rồi đến năm 1806 làm Đông Các học sĩ, năm 1809 làm Cai bạ ở tỉnh Quảng Bình, ông là một vị quan mẫn cán thanh liêm. Về Kinh đô Huế, vào năm 1813 ông được tấn phong chức Cần Chánh điện học sĩ và được Vua Gia Long cử làm chánh sứ đưa cống lễ sang triều đại nhà Thanh ở Trung Hoa.
Kẻ hậu học này có suy nghĩ và suy đoán là trong thời gian công cán ở Trung Hoa, ông đã gặp được quyển tiểu thuyết “Kim Vân KIều Truyện” của Thanh Tâm tài nhân, năm 1814 về lại Kinh đô Huế ông đã đọc, đã nghiền ngẫm và trong khung cảnh hữu tình với buổi sáng sương lam, buổi chiều tím sẫm, màn đêm về giữa: “Hương Giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu” để cảnh mộng mị biến thành tình và tình tạo nên tứ để Nguyễn Du tái sinh lại các nhân vật của “Kim Vân Kiều Truyện” thành “Đoạn Trường Tân Thanh” với ba ngàn hai trăm năm mươi bốn (3254) câu lục bát suốt thời gian rảnh rỗi việc quan nha.
Tôi cũng nghĩ rằng trước năm 1802 ông cụ đã vân du suốt dải sông Lam và chín mươi chín ngọn Hồng lĩnh ở góc trời quê kiểng thì ở tại đất kinh đô văn vật có núi Ngự sông Hương – gót phiêu bồng lãng tữ của người thơ đa cảm đa sầu, đa đoan đa hệ hụy nầy cũng đã lang thang khắp vùng miền “Nghêu ngao vui thú yên hà”, chắc đã từng xuôi về Vỹ Dạ để ngắm vi lô san sát và vườn cau xanh ngát một màu, lên Nguyệt Biều để thấy một bầu trăng mát lạnh, “long lanh đáy nước in trời”, đứng trên cầu Bạch Hổ nhìn cồn bắp Giả Viên để thấy trời mây màu nguyệt bạch đang lững lơ trôi vào cõi vô cùng; tôi cũng nghĩ rằng nhà công vụ ông đang lưu trú thuộc miệt Kim Long. Kim Long với bao phủ đệ huy hoàng, với bao trai thanh gái lịch, với tình với cảnh đẹp mơ màng như sương khói buổi đầu thu, ở đây ông có thể thả chiếc thuyền con trôi nhẹ trên con sông thơm mùi thạch xương bồ huyền hoặc, đến bến đá chùa Thiên Mụ, neo thuyền thả bộ vào chùa bước lên Đại hùng bửu điện, đảnh lễ Tam bảo với tất cả lòng thành rồi men theo hậu liêu ra đồi Hà Khê nhìn lên núi Triệu Linh với ngổn ngang gò đống; nơi yên nghỉ của bao lớp con dân các làng lân cận, từ đồi Hà Khê muốn lên núi Triệu Linh cũng phải băng qua một dòng Tiểu Khê, tất cả các bức tranh sống động ấy đã được đưa vào phần đầu tác phẩm với “...Ngổn ngang gò đống kéo lên”, với “...Nao nao dòng nước uốn quanh”.
Trong không gian trong lành của tháng ba: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi...”. Một mùa xuân của năm nào sau 1814, Nguyễn Du đã chấp bút dọc dài cuộc sáng tác cho đến câu cuối cùng của tuyệt phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” trên mảnh đất vừa khắc khe lễ giáo vừa lãng mạn ân tình vào tháng nào, năm nào. Chúng ta khó biết được, nhưng nhà văn Thanh Lãng trong tác phẩm “Bảng lược đồ văn học Việt Nam” trang 679 dòng thứ 6 – cho rằng: “Nguyễn Du viết Kiều vào khoảng vài ba năm trước khi chết, tức vào hồi 49 đến 53 tuổi, nghĩa là khi ông ta đã nhìn và cảm tất cả...”
Có lẽ chúng tôi đồng ý với suy nghĩ của nhà văn Thanh Lãng.
Trải qua những cuộc bể dâu như cụ Phạm Đình Hổ đã đặc tả trong “Tang Thương Ngẫu Lục” Tố Như tiên sinh đã thấy bằng mắt, đã nghe bằng tai, đã thấu cảm mọi sự, mọi việc bằng trái tim đã bị nhiều lần thương tổn, tất cả, tất cả đã được cụ chuyển tải bằng những câu thơ lục bát đầy máu lệ khóc cho người và khóc cho mình, khóc cho một xã hội mà vua chỉ là một bù nhìn chúa thì hoang dâm vô đạo, quan quân thì dựa hơi chủ nhũng nhiễu dân tình, dân chúng đói rách trong khi chủ tớ loạn thần tiệc tùng ngập ngụa thức uống đồ ăn...
Khóc cho thân phận mình - thuở ấu thơ đã thiếu tình thương cha mẹ, lớn lên tới tuổi yêu đương đã bị thất tình rồi thất chí phải sống đời du mục lang thang mất mười năm săn bắn nhì nhằng ở sông Lam núi Lĩnh, bệnh hoạn nghèo khổ; tinh thần suy yếu thể chất gầy gò, đến lúc được Vua Gia Long trọng dụng mời về hợp tác với triều đình, những tưởng vinh thê ấm tử, phu quý phụ vinh, ai ngờ cũng nghèo xác nghèo xơ – nghèo vì tấm lòng thanh sạch thanh liêm, nghèo đến nỗi vợ con thiếu cơm thiếu áo bụng đói thân lạnh ở quê nhà, còn ông thì đau ốm liên miên, cộng thêm đói lạnh, suy nghĩ bao cuộc hí trường mà tóc bạc trước tuổi, ông đã từng than: “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc. Nhất thân ngọa bệnh Đế Thành đông”
Vào giai đoạn cuối đời, ông được vinh thăng nhiều chức vụ, nhưng chỉ nhận chức Lễ bộ Hữu tham tri và ở tại Kinh đô cho đến ngày từ trần là ngày 16 tháng 9 năm 1820 tức là ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn niên hiệu Minh Mệnh hưởng dương 56 tuổi.
Ngày từ biệt cõi đời không có vợ con bên cạnh, chỉ có một người em và một người cháu vì họ cũng đang làm quan tại Kinh đô, thi hài được an táng tại đồng Bàu Đá cạnh hồ Bầu Đá thuộc làng An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Bây giờ là làng An Ninh Thượng, thuộc phường Hương Long, thành phố Huế)
“...Theo gia phả mộ Nguyễn Du cải táng 2 lần, lần thứ nhất vào tháng 5 năm Kiến Phúc nguyên niên (1884) người con thứ hai của cụ là Nguyễn Ngũ rước di hài từ An Ninh Thượng về yên táng tại chỗ đất cạnh Từ đường, còn chỗ mới là mới dời tới vào năm Bảo Đại nguyên niên (1926)...”
(Theo Nguyễn Đức Tánh, Tạp chí Nam Phong số 135 tháng XI-XII năm 1925)
Thể phách Nguyễn Du đã trả về cho cát bụi nhưng tinh anh cụ vẫn bất tử với thời gian.


MÃ GIÁM SINH, TÚ BÀ, SỞ KHANH – TỒN TẠI MỌI THỜI ĐẠI

Những gương mặt trên đã được Thi hào Nguyễn Du khắc họa và đặc tả ngắn gọn nhưng thật sắc nét qua ngòi bút thiên tài...
Gã ma cô Mã Giám Sinh giấu mình trong lớp đại gia công tử “...Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” chuyên đi lùng sục hang cùng ngõ hẹp để dụ dỗ phỉnh phờ đưa con gái nhà lành vào chốn bán phấn buôn hương – nơi có mụ Tú Bà “Thoáng trông lờn lợt màu da...” đang ngồi vắt nóc ở “ngôi hàng” mà bọn họ đã “chung lưng” dàn dựng, mụ ta ra oai quát nạt và đánh đập, chiêu dụ truyền nghề “Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” để “Sáng đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh”
Một Sở Khanh với “Hình dung chải chuốt áo khăn dịu dàng” mang dáng dấp của một bạch diện thư sinh miệng Phật tâm xà, mưu mô gian xảo lừa tình gạt tiền, đẩy bao người con gái đầu xanh tuổi trẻ vào bùn nhơ tanh tưởi của kiếp gái lầu xanh...
Ba gương mặt tiêu biểu cho ngàn ngàn gương mặt trục lợi, làm ăn trên máu xương, nước mắt của con nhà lương thiện lỡ bước sa chân “Đời xưa mấy mặt, đời nay mấy người” – thời đại nào cũng có những hạng người vô sỉ ấy mà càng lúc họ càng ngụy tạo tinh vi hơn, hóa trang khéo léo hơn, ngoại hình đẹp đẽ hơn, áo khăn chải chuốt hơn, mày râu nhẵn nhụi hơn và ngón nghề cũng điêu trá hơn bậc tiền bối dưới thuở Minh Triều – Vì thế mới lừa bịp được bao kẻ nhẹ dạ lạc lòng.
Ngày xưa Sở Khanh đi ngựa truy phong để làm phương tiện hành nghề, còn Sở Khanh của thời đại @ hôm nay toàn đi xe hơi đời mới, Tú Bà thì lộng lẫy sang trọng như một mệnh phụ phu nhân để dễ bề tiếp cận mục tiêu...
Bọn chúng sống nhởn nhơ nhàn hạ, rủng rỉnh bạc tiền trên nước mắt và máu...
Tệ nạn nầy biết khi nào chấm dứt?!

VÀI VẾT XƯỚC NHỎ TRONG KHỐI NGỌC LỚN: TRUYỆN KIỀU

Tố Như ơi! – Tam bách dư niên...
Dù chưa đủ nhưng muôn lòng đã khóc
Con trân trọng dâng Người niềm cảm xúc
Mười lăm năm – mấy đoạn trường
Thanh Hiên hỡi! Sóng Tiền Đường lặng chưa?
Giọt buồn đẫm áo sau xưa...

Sóng Tiền Đường đã thôi chao chác khi sư bà Giác Duyên cho người giăng lưới vớt Thúy Kiều lúc nàng nhảy sông tự tử vì nỗi đau: “Giết chồng mà lại lấy chồng / Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời...”
Sư bà Giác Duyên đã đưa Thúy Kiều về thảo am để: “Một nhà chung chạ sớm trưa / Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng...” Đời sống ở am tranh của hai thầy trò mới thanh cao nhẹ nhàng làm sao; với gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng, người đọc hình dung niềm an lạc của Thúy Kiều khi đã chấm dứt nỗi đoạn trường mười lăm năm luân lạc; nhục nhằn với thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.
Sư bà Giác Duyên với Thúy Kiều chỉ là quan hệ tình người nên ra tay tế độ vớt kẻ trầm luân (lần đầu ở Chiêu Ẩn am), thứ đến mới có quan hệ thầy trò – thầy trò này hiểu theo nghĩa chung giữa một bậc xuất gia với người trần tục chứ không theo nghĩa là bổn sư với đệ tử vì không thấy sư bà làm lễ quy y để truyền Tam quy Ngũ giới cho Thúy Kiều.
Với Thúy Kiều, sư bà Giác Duyên là một ân nhân của đời nàng, sư bà thương cảm hoàn cảnh Kiều và Kiều kính yêu sư bà vô hạn; hai bên đối xử với nhau bằng niềm thương kính vô ngôn và họ sống bên nhau rất êm đềm hạnh phúc, vì vậy khi đọc đến hai câu:
“... Một nhà chung chạ sớm trưa
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng...”
Tôi bị chững lại vì trộm nghĩ trong bối cảnh sống chung của hai người rất yên vui thanh tịnh như vậy sao Nguyễn Tiên Điền lại hạ bút bằng động từ ghép “chung chạ” e không hợp với văn cảnh chăng? Bởi chung chạ người ta thường dùng cho những trường hợp xấu – ví dụ: Hai người đó sống chung chạ chớ có lễ nghi cưới hỏi gì đâu, hoặc: Mấy ông bà ấy buôn bán chung chạ như vậy sẽ có ngày mất lòng nhau vì chia chác không đồng đều lợi tức, vân vân và vân vân...

Vậy thì trong khung cảnh u nhàn giải thoát của sư bà Giác Duyên và Thúy Kiều mà cho là chung chạ có hợp tình hợp lý hay không?
Chúng tôi, là một kẻ hậu học đẻ muộn sinh sau đã được học, và đọc, đã yêu truyện Kiều và vô cùng kính quý Người đã sinh thành ra nó (theo thiển nghĩ của tôi).
Và cũng vì yêu quý và yêu kính tác gia Truyện Kiều nên suốt từ hơn hai trăm năm đã có bao nhiêu bậc sĩ phu thức giả quan tâm nghiên cứu, phân tích, bình luận tất cả những ưu khuyết của tác phẩm giá trị này.
Trong ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu ở Truyện Kiều, Nguyễn Tiên Điền đã ba lần dùng cụm từ chung và chạ (lần thứ ba tôi đã đề cập ở trên).
Lần thứ nhất là lúc Thúy Kiều xót xa sau khi nghe Vương Quan “đọc lý lịch trích ngang” của Đạm Tiên, nàng đã bất bình đặt nhiều câu hỏi:
“... Nào người phượng chạ loan chung”
Đó là cách dùng hợp lý trong văn cảnh, trong tình cảnh của một cô gái bán phấn buôn hương với không biết bao nhiêu khách mua hoa, ở đây ông cụ đã dùng thuật đảo ngữ chung chạ thành chạ chung...
Lần thứ hai sau khi bị thằng bán tơ gieo họa, nàng phải bán mình cho Mã Giám Sinh trên danh nghĩa là vợ bé “cam bề tiểu tinh...” vậy sau một hồi bị Tú Bà lục vấn nàng mới phân trần:
“... Đã điều nạp thái vu quy
Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi...”
Hai lần cụm từ “chung chạ” và “chạ chung” đặt đúng chỗ!
Ở phần nội dung toàn tác phẩm có một vài chi tiết, một vài cụm từ có thể làm người đọc chưa thỏa mãn, nhưng vì yêu quý chín mươi chín phần trăm cái sáng giá của một thiên tuyệt phẩm nên các bậc thức giả bỏ qua, họ chỉ đặt vấn đề những cái lớn lao của tác phẩm, cái mà người ta gọi là tầm vĩ mô.
Chỉ có NGTC tôi là một đứa con nít già nhiễu sự; mang tội bất kính với đại thi hào của dân tộc và thế giới, là tò mò vạch lá tìm hoa và với ba ngàn hai trăm năm mươi bốn đóa kì hoa dị thảo ấy, tôi thấy có vài đóa bị sâu đục thân phá hoại, làm ảnh hưởng đến sự toàn bích của cả một rừng hoa muôn tía nghìn hồng.
Ta thấy khí hậu Khổng Mạnh lan tỏa ngập tràn trong gia đình quan nhất phẩm đại thần họ Hoạn; nề nếp danh gia “Thiên Quan trủng tể có bài treo trên” vì thế ta bỗng bực bội khi đọc đoạn đối thoại giữa Hoạn Thư và Thúc Sinh:
“... Tiểu thư trông mặt hỏi tra
Mới về có việc chi mà động dung...”
Và Thúc Sinh trả lời:
“... Sinh rằng hiếu phục vừa xong
Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên...”
Người đọc ngạc nhiên khi thấy Hoạn Thư ban cho Thúc Sinh một lời khen:
“... Khen rằng hiếu tử đã nên”
Từ ngàn xưa, quan niệm của người Á Đông theo nho học, Hoạn Thư con dâu trưởng của Thúc ông và vợ của Thúc Sinh là một người đàn bà vô trách nhiệm và cực kì bất hiếu với gia đình chồng; có ai đời lễ mãn tang mẹ chồng mà cô này không về lo liệu lại thong dong ngồi ở nhà đợi chồng về tra gạn và phán một câu khen của kể bề trên như vậy, trong khi quan điểm xã hội thuở ấy, đàn ông là số một – bởi vậy khi giới thiệu số con của nhà viên ngoại họ Vương, Vương Quan là con út vẫn được đứng trên hai chị:
“... Một con trai thứ rốt lòng
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia...”
Dẫu biết là Thúc Sinh nói dối với Hoạn Thư, đâu phải buồn vì vừa mãn tang mẹ mà buồn vì gặp lại Thúy Kiều trong hoàn cảnh dở khóc dở cười, nhưng người đọc phải hiểu thế nào trên mẫu đối thoại của văn cảnh thực tế (?).

Rồi cái “hoạt cảnh” Từ Hải chủ trương chuyện đền ân báo oán cho Thúy Kiều là ông cho đi mời sư bà Giác Duyên, mụ quản gia và truy nã Hoạn Thư, Thúc Sinh, Mã Giám Sinh, Tú bà, Sở Khanh, Bạc bà, Bạc Hạnh, Khuyển, Ưng; chỉ với hơn mười con người không có một tắc sắt trong tay mà Từ Hải phải huy động đến:
“... Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao
Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Tri...”

“... Quân trung gươm lớn giáo dài
Vệ trong thị lập cơ ngoài song phi
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi
Bác đồng chật đất tinh kì rợp sân
Trướng hùm mở giữa trung quân...”
Một cuộc ân đền oán trả mang tính thù hận cá nhân có gì mà Từ Hải phải quan trọng hóa sự việc và phung phí nhân lực vật lực đến vậy???
Đọc chín câu thơ trên nghe ngời ngời chính khí, nếu giàu tưởng tưởng người đọc sẽ hình dung ra một vị lương tướng của triều đình thời thịnh trị đang duyệt binh cơ đấy (?!).
Có thể tôi là kẻ không lượng sức mình, ý kiến ý cò tào lao, nhưng biết làm sao được – bởi thiết nghĩ Truyện Kiều là tài sản phi vật thể vô giá của đất nước và mỗi công dân Việt Nam; vậy bản thân kẻ viết bài này cũng có dự phần quyền lợi và nghĩa vụ - con cả cha chung mà, thành ngữ ta có câu “cha chung không ai khóc” ứng dụng vào trường hợp này câu trên không đúng bởi vì hơn hai trăm năm qua có rất nhiều rất nhiều cây bút đã đóng góp nụ cười và tiếng khóc, hôm nay kẻ tiểu sinh này cũng xin phép cả và thiên hạ, và anh linh của Tố Như tiên sinh để đóng góp một giọt nước mắt muộn màng.

VÔ CÙNG

Tố Như ơi! Tam bách dư niên...
Dù chưa đủ nhưng muôn lòng đã khóc
Con trân trọng dâng Người niềm cảm xúc
Mười lăm năm... mấy đoạn trường
Thanh Hiên hỡi! Sóng Tiền Đường lặn chưa?!
Giọt buồn đẫm áo sau, xưa
Tầm Dương bến lạnh chèo khua mỏi mòn
Thuyền neo đất Trích héo hon
Tiểu Thanh đoản mệnh, tỳ bà lỗi cung
Nguyễn ông, Bạch lão (*) nâng chung
Ngất ngây đến tận vô cùng nỗi đau
Từ xưa, nay, đến mai sau
Tài hoa sóng bước bạn bầu oan khiên!
(*) Bạch Cư Dị
THƯƠNG LẮM THÚY KIỀU ƠI!

Thúy Kiều trọng hiếu bỏ quên thân
Quên cả tơ duyên chuyện Tấn Tần
Họ Mã mua người ngồi vắt vẻo
Thúy Kiều bán mạng đứng chôn chân
Bốn trăm lạng – nát – đời khuê nữ
Thân ngọc vàng – tan – mộng quý nhân
Dầu dãi tháng ngày bao tủi nhục
Thương đời tài sắc vướng phong trần

Thương Kiều tài sắc vướng phong trần
Nếm đủ cay nồng giữa thế nhân
Mánh khóe lọc lừa – phường bán thịt
Mưu mô sâu hiểm bọn vương thần
Nghĩa ân Từ Hải đền chưa trọn
Nghiệp chướng Tiền Đường rửa sạch trong
Lòng đã yên bởi tròn hiếu đạo
Hay còn vướng chút khách vong thân?

CẦM SẮT LỠ LÀNG

Kim từ cất bước Liêu Dương
Hộ tang thúc phụ dặm trường chia phôi
Hiếu ân đạo cả đền bồi
Ngờ đâu đôi lứa khúc nôi thế này...
Duyên tình vừa ngấm men say
Tờ mây chưa ráo ghi ngày tương giao
Tóc mây thệ ước hôm nao
Còn thơm hương xạ phút trao câu thề
Trăm năm hẹn chữ phu thê
Trai tài gái sắc đề huề nhân duyên
Tóc tơ mong vẹn ước nguyền
... “Gìn vàng giữ ngọc”... cho yên lòng ... người
Nào hay trâm gãy bình rơi
Nỗi oan Viên Ngoại kêu trời thấu chăng
Ngổn ngang sóng nổi đất bằng
Hiếu.. tình... hai nẻo trở trăn ... lòng nàng
Đành sao cửa nát nhà tan
Đành sao... cha mẹ... côn quang nhục hình...
Phận con đạo hiếu thâm tình
Kiều nhi cam chịu bán mình chuộc cha
Kim lang ơi! Vạn dặm xa
Biết chăng oan khốc cửa nhà tiêu tan
Phút đâu vỡ ngọc rơi vàng
Kiếp nào trả được muôn vàn ái ân...
Giờ đây kẻ Sở người Tần
Mặt sao giáp mặt phân trần thiệt hơn
Tỏ bày trong đục nguồn cơn
Đôi ta vì hiếu phải quên duyên tình
Em vì nặng nghĩa thân sinh
Chàng vì thúc phụ tử sinh quê người
Gia hương đạo lớn nghìn đời
Lỡ làng cầm sắt... ngậm cười... biết sao?

HÈN

“Liệu mà xa chạy cao bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi”
Lời nghe sao quá nực cười
Ươn hèn quá rõ con người Thúc Sinh
Sao từng thề thốt đinh ninh
Mà nay rũ áo ngậm thinh... mặc nào...
“Bốc trời” hoa nguyệt ào ào
“Trăm điều hãy cứ trông vào một ta”
Rõ ràng là thói ba hoa
Gió mưa ái dục mù lòa phút giây
Cầm bằng là chuyện bèo mây
Sóng triều cao thấp kệ thây Thúy Kiều

Dục tình ngộ nhận là yêu
Trăng hoa ngộ nhận là điều trăm năm
Tin lòng trọng nghĩa nên lầm
Một lời bảo vệ ngậm tăm... ngồi nhìn
Khó khăn chi chuyện giải trình
Đốn thì phải vác phận mình đàn ông
Cớ sao thin thít thông đồng
Vắt chân làm chủ nhân ông nghe đàn
Năm cung thống thiết thở than
Mà người trên tiệc cứ trơ gan nhìn
Đặt bày khóc, đặt bày xin
Nước mắt cá sấu ai tin được nào

Hoạn Thư và cả Thúy Kiều
Nạn nhân của kẻ chơi liều nói ngông
Ghen tuông là cách yêu chồng
Đàn bà ai chẳng ở trong vòng này
Thiệt thà Sinh cứ giải bày
Như Kiều từng dặn sẽ hay nhường nào
Tình nhà phân định thấp cao
Hoạn Thư đâu đến nỗi nào ác tâm
Để mang tiếng với ngàn năm
Con nhà thi lễ hung hăng hại người
Sự tình dở khóc dở cười
Thư Kiều chung chịu chín mười nỗi đau
Bạc tình bất trí Kỳ Tâm


HỒI KẾT CUỘC

Mười lăm năm vẹn sự tình
Tiền Đường mạch nước tịnh bình Quán Âm
Nhục vinh mấy nẻo phù trầm
Làu làu rửa sạch trong ngần giá gương
Vén mây đầu ngõ tan sương
Đoàn viên cho bõ dặm trường chia xa
Thung huyên hòe quế một nhà
Thần hôn nâng giấc tịnh trà ngát hương
Trải qua bao nỗi đoạn trường
Hồn trinh còn chút tâm vương thệ nguyền

Phúc từ khoác áo Trạc Tuyền
Nhân gieo quả gặt Giác Duyên đợi chờ...
Thực đây mà ngỡ như mơ
Kim Kiều tái ngộ còn ngờ chiêm bao
Tiền Đường sóng nước lao xao
Trôi phăng bụi bặm ngọt ngào hương xưa
Đẹp gì nài gió ép mưa
Cho thêm thẹn mặt sớm trưa với đời
Cầm thi giao hảo tuyệt vời
Tạ lòng tri ngộ vạn lời vô ngôn.

SAO NỠ QUÊN MỘT TẤC LÒNG

Ơi! – Này người khách viễn phương
Tuyệt vời thay giữa mù sương ta bà
Chút tình trong ngọc trắng ngà
Chưa trao đổi chẳng la cà nhục thân
Xe châu nếp tử mộ phần
Chu toàn cho kẻ chưa lần tương giao
Chỉ nghe “nức tiếng” má đào
Tìm thăm cho thỏa nét hào hoa, chơi...
Nào ngờ “trâm gãy bình rơi”
“Buồng không lạnh ngắt” bời bời xót xa
“Đã không duyên trước chăng mà”
Sắm sanh hậu sự gọi là duyên sau


Tình sao đẹp tựa trân châu
Yêu mà như vậy cao sâu mấy tầng
Đẹp sao giữa cõi phù vân?!
Đạm Tiên ơi chút phước phần chiều hôm
Qua bao cay cực dập dồn
Kẻ tung người hứng nát hồn ca nhi
Vẫn còn được khách yêu vì
Viễn phương khách ấy nên ghi bảng vàng...
Mà sao độc giả bàng quan
Không lời nhắc đến qua ngàn trang văn


LỜI KẾT CHO CUỘC TÌNH GIỮA TÁC PHẨM VÀ NGƯỜI ĐỌC

... “Của tin gọi một chút nầy làm ghi...” Vâng! Ghi và nhận; nhận những tâm sự đắng đót, những câu thơ rút ruột, rút lòng đau thương tuyệt đỉnh của tác gia Nguyễn Du... Và ghi lại những cảm xúc, những đồng điệu, đồng tình, đồng cảm của người đọc (NGTC) với tác phẩm văn học cổ điển của cụ bằng tất cả tấm tình kính ngưỡng tôn vinh.
Cũng cần thưa với cụ rằng – Con là một cây bút hậu sinh trình độ và khả năng rất chi hạn hẹp, nhưng vì yêu quý văn chương nói chung và yêu quý Truyện Kiều nói riêng; nên xin mạn phép thưa trình với cụ một đôi điều tâm đắc và ... “Có gì một đúng mười sai”, xin được cụ “.... Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên...”
Còn với tất cả bạn đọc xa gần, những bạn bè bằng hữu, những vị thức giả đã và đang quan tâm về tác gia và tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” Ninh Giang Thu Cúc tôi xin được nhận những đóng góp chỉ giáo đúng sai bằng sự cầu thị.
Muôn vàn cảm tạ.
Ninh Xuân Thư Trang, trọng thu Mậu Tuất


PHẦN PHỤ LỤC
MẤY DÒNG SỬ THI


Phần này tác giả lược trích một số bài thơ về một mảng danh nhân của đất nước, đã được xuất bản hơn năm mươi năm qua trong các tác phẩm của Ninh Giang Thu Cúc như là một sự ôn cố, một lời nhắc nhủ đối với tự thân về lòng biết ơn công nghiệp của tổ tiên một thời dựng nước...
Trân trọng.


HAI BÀ TRƯNG

“Bà Trưng quê ở Châu Phong”
Đọc câu thơ cổ nghe lòng nao nao
Dân ta rất đỗi tự hào
Trai hùng gái đảm cùng vào sử xanh
Chí cường trí sáng tâm lành
Thù chồng nợ nước sẵn dành hai vai
Chị, em đem hết sức tài
Đánh tan Tô Định, dẹp loài Hán gian
Mê Linh dựng cõi bình an
Hát Giang tô đậm thêm trang sử vàng
Mồng 6 tháng 2 âm lịch (1961)


BÀ TRIỆU
(Triệu Thị Trinh)

“Muốn coi – lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”
(Ca dao)

Quyết lòng diệt giặc xâm lăng
Bành voi nữ tướng tung hoành
Dẹp chuyện tình riêng chẳng tưởng
Vì dân chiến đấu không ngừng


Tâm niệm “Đạp luồng sóng dữ”
Cùng anh đánh đuổi quân Ngô
Dành lại đất trời Lạc Việt
Ham chi “tì thiếp” cho người
Hô hào toàn dân khởi nghĩa
Đuổi quân tàn bạo – bắc phương
Ngày đêm nằm gai nếm mật
Đâu sờn chí Triệu Trinh Nương...
Huế, năm 1961


NHỚ Ỷ LAN

Tự hào con cháu của bà Trưng
Ngôn hạnh công dung đẹp quá chừng
Trung hậu đảm đang đời rõ mặt
Nhu hòa nghĩa khí tiếng vang lừng
Ngoại giao gặt hái bao thành quả
Nội trị vun trồng đức thịnh hưng
Xuân đến thắm nhuần ơn Tổ phụ
Toàn dân vui trẩy hội tưng bừng


CÔ GÁI HÁI DÂU VƯỜN THỔ LỖI

Vua Lý ngự du một buổi chiều
Hoàng bào ôm ấp trái tim yêu
Hành cung siêu loại sau màn gấm
Chợt thấy nương dâu thoáng dáng kiều

Thôn nữ e dè khép nép duyên
Quân vương rung động - nét trinh nguyên
“Nạp phi” lệnh phán truyền trăm họ
Thiên Tử từ đây gặp vợ hiền

Một lòng vì nước, sống vì dân
Canh cửi tầm tang chẳng ngại ngần
Khuya sớm quên mình là quý nữ
Được vua sủng ái giữa triều thần

Rồi một ngày kia vua thân chinh
Tháng hai năm Dậu biệt thành, kinh
Cầm quân ra trận vì dân nước
Đem lại non sông buổi thái bình

Vương hậu Ỷ Lan – nhiếp chính vương
Thay vua điều khiển – quốc gia – yên
Tài hoa đức độ ngời gương sáng
Nước thịnh dân yên ấm mọi miền

Phụ nữ như Người đáng ngợi ca
Lễ nhân nghĩa khí vọng gần xa
Ngàn năm tên tuổi còn lưu giữ
Hậu duệ trời Nam tưởng niệm bà


CHUYỆN TÌNH
CỦA LÝ THÁNH TÔNG VÀ Ỷ LAN

Một vùng Kinh Bắc lịch thanh
Một cô thôn nữ tóc xanh má hồng
Vườn dâu xanh mướt ven sông
Dáng ai thoăn thoắt gánh gồng tầm tang

Quân vương rung động bàng hoàng
Nghe lời ứng đối đoan trang ý tình
Rạch ròi trôi chảy phân minh
Dung nhan diễm lệ băng trinh ngọc vàng
Tựa mình dưới bóng hoàng lan
Dịu dàng nghiêm cẩn đài trang hơn người

Tình yêu sét đánh lưng trời
Mặc nhiên như đã bao lời trao nhau
Tạ từ khung cửi vườn dâu
Kiệu vàng nhập điện tròn câu xướng tùy
Nhân từ dung mạo uy nghi
Thánh Tông đẹp dạ yêu vì tấn phong
Lần theo thứ bậc hanh thông
Sinh con nối dõi – Nhân Tông sau này

Điều binh ngự giá thân chinh
Mở mang bờ cõi nhân sinh rộng dài
Minh quân quyết định một mai
Ỷ Lan nhiếp chính tương lai nước nhà


Kinh quyền nhu nhuyễn ôn hòa
Ngoại giao nội trị tay bà đảm đang
Kiệm cần canh cửi nông tang
Cung phi mỹ nữ lo toan thực hành
Dốc lòng chăm sóc dân lành
Người người no ấm đồng xanh lúa vàng
Một lòng bảo vệ giang san
Khiêm cung dè sẻn chẳng cần phô phang
Rằng ta lá ngọc cành vàng
Rằng ta cực phẩm cao sang chức quyền
Tháng ngày lao động cần chuyên
Trong ngoài trăm họ bình yên vui vầy

Thánh Tông thất trận lui binh
Nửa đường nghe tiếng hoảng kinh quay đầu
Trận tiền quyết chiến mưu cầu
Bình Chiêm xứng mặt hát câu khải hoàn
Ngỏ hầu báo đáp công nàng
Tình riêng nợ nước vẹn toàn thủy chung
Yêu như thế - đẹp vô cùng
Nâng nhau lên bậc anh hùng nữ vương
Nghìn thu thơm tiếng hiền lương
Ỷ Lan thái hậu ngát hương Lý triều
Nữ lưu nước Việt yêu kiều
Đức tài đảm lược nhiều điều giá gương.

CẢM ĐỀ: “NGUYỄN THỊ LỘ” TRONG TÁC PHẨM “NỮ SĨ VIỆT NAM” CỦA NHƯ HIÊN NGUYỄN NGỌC HIỀN

Sắt tài oằn gánh chiếu gon
Vần thơ xướng họa thắm dòn lương duyên
Tóc tơ đã đẹp hương nguyền
Liễu bồ chút phận trinh nguyên nụ hồng

Kinh luân nặng túi tang bồng
Chung dòng bút mực vun trồng nghĩa nhân
Sắt son trọn đạo Quân, Thần...
Thủy chung phu phụ ấm phần gia hương
Quyết lòng bảo vệ kỷ cương
Vì dân vì nước vẹn đường thảo ngay


Bỗng dưng vạ gửi tai bay
Đất trời mù mịt quắt quay nỗi niềm
Lệ Chi Viên – mối oan khiên
Muôn lòng phẫn nộ: vỗ yên... dễ nào...
Triều đình ong kiến lao xao
Tranh danh đoạt lợi gây bao bão bùng
Phu thê cam phận cô trung
Pháp trường ngẩng mặt ung dung thọ hình
“Liên minh ma quỷ” rập rình
Thỏa lòng đố kỵ đồng tình khuyển, ưng
Áo xiêm mũ mão lùng nhùng
Ngôi cao ngồi tót tưng bừng đăng quang


Hiền nhân danh sĩ hàm oan
Niềm đau chất ngất tiếng than ngút trời
Thương Bà, thương lắm Bà ơi
Muôn lòng hậu thế lời lời kính dâng
Bao kẻ sĩ có lương tâm
Đang làm những việc phải cần làm ngay
Rõ điều oan khuất bấy nay
Trả Bà danh tiết bao ngày mây che

(Trong bài cảm đề này, khổ thơ cuối Ninh Giang Thu Cúc viết tặng thầy Hoàng Đạo Chúc và các quý vị đã bỏ công sức tìm tòi tôn tạo lại nơi thờ phượng Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ, và đã đóng góp tim óc tâm huyết để làm sáng tỏ nghi án)

THĂNG LONG - TRÁI TIM MỞ NGÕ...
(Tưởng niệm Minh Quân Lý Thái Tổ (1010 – 2010)

Dời đô... sách lược... trí tài
Lý Công... định đất lâu dài: Đế kinh
Bá quan văn võ thuận tình
Muôn dân đồng điệu đinh ninh một lòng
Dưới trên đoàn kết cầu mong
Quốc gia thịnh trị - Thăng Long vững bền

Kinh đô từng bước đi lên
Qua bao biển động gập ghềnh chông gai
Người người cống hiến đức tài
Dựng xây Tổ quốc tương lai rỡ ràng
Việt Nam sông gấm núi vàng
Ba miền chung họ Hồng Bàng Lạc Long


Tính từ “hạ chiếu...” nghìn năm
Nghìn nghìn năm nữa tình thâm giống nòi
“Đồng bào” – hai tiếng thương hoài
Đồng bào – chẳng có nước nào gọi nhau
- Chỉ có nước Việt ấm câu
Ruột mềm máu chảy tình sâu nghĩa dày

Nuôi cơ thể sống từng ngày
Trái tim Tổ quốc đong đầy yêu thương
Tuần hoàn lưu dẫn mười phương
Việt Nam lớn mạnh trên đường bang giao
Việt Nam ơi! Thật tự hào
Thăng Long ơi! Có nơi nào đẹp hơn?!

ĐI GIỮA LÒNG HÀ NỘI
(Viết cho 1000 năm Thăng Long)

Tôi đi dưới trời Hà Nội
Ngẩng đầu ngưỡng vọng tiền nhân
Một thời định đô mở cõi
Thái bình ấm no muôn dân

Mười phương hướng về Hà Nội
Trái tim Tổ quốc hào hùng
Ngược xuôi tuần hoàn chung thủy
Dòng dòng đỏ thắm kiên trung


Nghìn năm sóng triều hưng phế
Bền lòng bảo vệ giang san
Sá chi... tang điền... dâu bể
Hồ Gươm Tháp Bút hiên ngang.

Thăng Long sáng ngời muôn thuở
Hà Thành định vị niềm tin
Vạn lòng tri ân tiên tổ
Trang vàng lịch sử còn in.

THĂNG LONG
(Chào đón 1000 năm Thăng Long Hà Nội)

Bay lên cùng bạn hữu
Vỗ cánh đến năm châu
Tin son hòa vận hội
Gieo cây đời mai sau
Nghìn năm nghìn năm trước
Nghìn năm nghìn năm sau
Trăm con từ một bọc
Máu thịt quyện tình sâu
Núi màu màu xanh thắm
Biển lớp lớp bạc đầu
Đất đời đời chung thủy
Người bên người thương nhau.


CẢM ĐỀ: “LỄ NGHI HỌC SĨ NGUYỄN THỊ LỘ VỚI THẢM ÁN LỆ CHI VIÊN”
(Kính tặng chủ biên Hoàng Đạo Chúc và Hội đồng biên khảo)

Chiêu tuyết công dày nhóm sĩ phu
Trả bà danh tiết sáng muôn thu
Bắc Hà nhiều khách đầy tâm huyết
Hà Nội bao người trọn đạo sư
Thảm án ngậm ngùi đau hậu thế
Chi Viên uất ức buốt gia tư
Thầy Hoàng Đạo Chúc cùng thân hữu
Công lý kêu cầu – huyết lệ thư

Lệ thư tha thiết giải trình mong
Đồng cảm gần xa quyết một lòng
Góp sức chung tay hoàn nghĩa cả
Xây nền hiếu thuận vị non sông
Ra công tôn tạo vùng hương hỏa
Dốc chí đi về chốn tịnh không
Đất cũ Khuyến Lương đền điện mới
Uy linh học sĩ rạng trời đông

TÀI... HỌA...
(Kính dâng anh linh Nữ quan Nguyễn Thị Lộ
- phu nhân của Gián nghị Đại phu thừa chỉ Nguyễn Trãi)

Cô thần nuốt hận nghìn năm
Tiên vương hỡi có thấu chăng nỗi này
Công chưa định – “tội” đã đầy
Đỉnh chung mờ mắt một bầy sói lang
Mưu ma chước quỷ sẵn sàng
Dã man gắp lửa bỏ sang tay người
Xót xa trăm họ rối bời
Thương Người đức hạnh vận thời dở dang
Tài hoa nghiệp dĩ đeo mang
Kinh luân một gánh Ngọc Vàng sánh đôi


Cùng nhau thề nguyện một lời
Mong đem trí lực dâng đời óc tim
Làm cho trăm họ ấm êm
Ngoại giao – nội trị - vững bền – thẳng ngay
Bởi lòng đố kỵ xưa, nay
Thị Anh – bè lũ – đêm ngày mưu toan
Đặt điều giá họa vu oan
Án kêu ba họ - bầu đoàn – tru di
“Lệ Chi Viên” hận còn ghi
Cỏ cây hoa lá sầu bi úa màu
Một trời mây nước đỏ au
Máu loang uất khí đất đau nỗi niềm
Bõ bèn chi chút áo xiêm
Hậu triều ban bố - ân triêm đền bồi

Tân quân liệu có phục hồi
Hoàn sinh ba họ ngút trời oan sai
Minh oan cho bậc sắc tài
Tôn xưng tiết hạnh cho Ai thỏa lòng
Tư Thành dẫu có thành tâm
Vẫn chưa làm được điều cần thiết kia
Oan, ưng, phải rạch ròi chia
Chớ đừng lấp lửng giữa bia miệng đời
Kỳ oan phong vận Người ơi
Tài đi theo họa, kêu trời thấu chăng?
Hậu sinh nhiều kẻ bất bằng
Cảm thương Thị Lộ nên trăn trở hoài

NỖI ĐAU NGHÌN NĂM
(Kính dâng danh nhân văn hóa Ức Trai Nguyễn Trãi)

Tài trí Ức Trai tỏa rạng ngời
Tâm công sách lược hiến dâng đời
Bình Ngô một áng lưu muôn thuở
Gia huấn trăm câu đọng ý lời
Nghĩa lớn đượm nhuần tâm nhớ mãi
Tình sâu oan khuất dạ nào nguôi
Nổi chìm ba họ đau lòng nước
Riêng bậc kinh luân khó ngậm cười

SẮC TÀI HỆ LỤY
(Viết tặng cuộc tình đẹp và bi tráng
của Lễ Nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ)

Lệ Chi Viên ừ Lệ Chi Viên
Trăm họ lòng đau vọng cửu tuyền
Thương bậc trung thần lâm kiếp nạn
Tiếc người đức hạnh vướng oan khiên
Côn Sơn mây phủ hờn non nước
Lều Cỏ sương mờ lạnh bút nghiên
Mấy thuở sắc tài ngoài hệ lụy
Nghìn thu sấp ngửa cuộc phong yên.


NGẬM NGÙI OAN SAI

Côn Sơn mây trải niềm đau
Lệ Chi Viên máu đỏ au tim hồng
Trung thần dạ thẳng lòng trong
Đâu ngờ kế hiểm mà đong sự đời
Oan khiên chót vót cao vời
Pháp trường ba họ kêu trời khản hơi
Lá hoa lã tã rụng rơi
Sông sôi máu lệ núi phơi gan bầm

Uất căm bè lũ quyền thần
Hại người tài đức trí nhân trọn bề
Triều đình ong kiến u mê
Thị Anh lấp liếm tỉ tê Pháp đình
Người thương nhu nhược làm thinh
Kẻ gian cơ hội rập rình mưu toan
Khuyển Ưng áo mão hân hoan
Đăng quang ngất ngưởng ân oan phớt lờ...
Nỗi đau hậu thế vô bờ
Ngậm ngùi dâng nén hương thơ gửi Người.

TỎ THÀNH TÂM

Thành Nam đến viếng dạo đầu năm
Đất võ trời văn ánh nguyệt rằm
Phát tích Trần Gia vinh đế nghiệp
Phạt Nguyên Hưng Đạo sáng danh thần
Thiên Trường lịch sử luôn tô đậm
Vạn Kiếp cơ đồ dậy tiếng tăm
Tướng giỏi vua hiền sông núi đẹp
Hậu sinh ngưỡng vọng tỏ thành tâm.

ĐẠO ĐỜI SÁNG MÃI TRẦN GIA
(Họa thơ Hoài Yên)

Diên Hồng hội nghị triệu lời bàn
Quyết đánh tan tành lũ ác gian
Tôn trọng quyền dân cơn hiểm họa
Xiển dương chánh pháp phút đăng đàn
Truyền ngôi trở gót lên Yên Tử
Hành đạo khai sơn độ quốc an
Nhất Tổ Trúc Lâm danh tỏ rạng
Hậu sinh ngưỡng vọng đến muôn ngàn


Hậu sinh ngưỡng vong đến muôn ngàn
Vua sáng tôi hiền, đất nước an
Hưng đạo bình Nguyên từng nếm mật
Quốc Công thưởng tướng trỗi cung đàn
Trần Gia dựng nghiệp bao công sức
Nam Định cơ đồ vững thế gian
Đời Đạo đức lành bền gốc rễ
Bút nghiên sử sách thỏa lời bàn.


TÌM VỀ LINH ĐỊA
(Kính tặng đền thờ Khánh Vân
Lục Ngạn – Bắc Giang)

1.
Nhàn du ngâm vịnh bút thơ đề
Thả gót hành hương bước dọc đê
Ôn lại tháng ngày tranh đấu cũ
Mở trang lịch sử đọc say mê
Tiến quân Hùng Thắng phò Hưng Đạo
Đuổi lũ Nguyên Mông giữ đất quê
Dân tộc ghi ơn bia đá tạc
Khánh Vân linh địa nhớ tìm về


2.
Hịch chống Nguyên Mông ngọc bút đề
Bạch Đằng uốn khúc dọc ven đê
Đại vương thao lược tìm mưu sĩ
Tiểu tướng luyện rèn chống giặc mê
Hùng Thắng hậu quân theo Tiết Chế
Trung thần danh sáng tỏa trời quê
Việt Nam muôn thuở ngời trang sử
Linh địa lòng nhân hướng vọng về.


TRÔNG VỀ CỐ QUẬN
(Kính tặng nữ sĩ Xuân Đài
– hậu duệ danh sĩ Nguyễn Công Trứ)

Danh thơm còn mãi tỏa ngàn khơi
Ngay thẳng hiên ngang đứng giữa trời
Tiền Hải * công người ai dám sánh
“Kim Sơn” ** nghĩa lớn dạ nào vơi
“Hàn nho... vị phú” *** lưu muôn thuở
Hồng tuyết phong vân vọng mấy đời
Bia đá ghi ơn: Uy Viễn tướng
Hậu sinh ngưỡng vọng biết bao lời

(*) & (**) Tiền Hải, Kim Sơn: hai huyện này do cụ Nguyễn Công Trứ dồn dân lập ấp (tỉnh Thái Bình)
(***) Tác phẩm của Nguyễn Công Trứ

... Quyết liều mong vẹn chữ tòng
Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e
Còn trứng nước thương vì đôi chút
Chữ tình thâm chưa thoát được đi!
Vậy nên nấn ná đôi khi
Hình dường còn ở, hồn thì đã theo...
(Trích Ai tư vãn)


NGỌC HÂN CÔNG CHÚA
(1771-1799)

“Ai tư vãn” khóc người bạc mệnh
Nếp sô gai sương phụ thờ chồng
Lệ rơi đẫm ướt non sông
Tây Sơn Bình Định – lòng dân tôn thờ

Dồn thương nhớ ngẩn ngơ sớm tối
Trách duyên trời ngắn ngủi tấc gang
Thương yêu cách biệt dở dang
Lỡ làng thân thiếp cơ hàn trắng tay

Cơn bạo bệnh cắt ngay mạng sống
Để cơ đồ vừa mới vinh danh
Âm dương cách trở thôi đành
Thờ chồng thủ tiết một vành khăn tang
Thân góa bụa dắt dìu con mọn
Đường xông pha tránh nạn lưu đày
Cầu mong ít rủi nhiều may
Quân vương chàng hỡi có hay cảnh nầy


Thân thiếp chịu tháng ngày tất tả
Lại thương con vất vả đói nghèo
Cảnh tình sao quá gieo neo
Thà xin tuẫn tiết để theo hầu chàng
Còn hơn sống võ vàng thương nhớ
Lệ đầm khăn sớm tối nào khuây
Mỏi mòn vọng tưởng đêm ngày
Quân vương Người hỡi có hay cảnh nầy


HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Ô Lý hai châu rộng cõi bờ
Thân ngà vóc ngọc thoắt bơ vơ
Chân trời góc bể ôm thương cảm
Cố quận tình quân có đợi chờ
Đổi nét yêu kiều lấy nước non
Hai châu Ô Lý – tấc lòng son
Tình riêng u ẩn cam đành chịu
Đêm đến đêm đi cứ mỏi mòn
Cố Lý xa vời mãi nhớ trông
Chế Mân chìu chuộng vẫn hoài công
Lòng đau con trẻ xa vương phụ
Bởi trả ân tình với núi sông.
Ngày về dự lễ khánh thành Đền Huyền Trân Công chúa

BÙI THỊ XUÂN
( ? - 1802)

Nữ kiệt Tây Sơn một thuở nào
Khuôn phò Nguyễn Huệ lập công cao
Bình Khê quê mẹ còn lưu dấu
Bước bước Người đi rực chiến bào

Đến hồi chung cuộc vẫn ung dung
Tiết nghĩa cô thần một tấc trung
Phơi trải lòng son cùng nhật nguyệt
Trăng rằm sáng mãi để soi chung.

MẪU HẬU NGUYỄN THỊ ĐỊNH
(Cùng theo vua Duy Tân đi đày ở đảo Reunion)

Mẹ vua cam chịu cảnh lưu đày
Vì bởi thương con gánh đắng cay
Đất Việt đau lòng giờ tống biệt
Trời Tây cảm cảnh bước vơi đầy

Thù nhà nợ nước thân trôi nổi
Thao thức bao đêm lạnh bóng gầy
Năm tháng nào quên tình cố quận
Ở đi hai chữ quặn niềm Tây...


BÀ MAI THỊ VÀNG
(Hoàng quý phi của nhà vua yêu nước Duy Tân)

Yêu nước thương dân lại bị đày
Anh hùng thất thế uổng oan thay
Xuống thuyền nuốt lệ nhìn non nước
Ốc đảo Rê-uy-ni-ông (Reunion) lạnh tháng ngày

Vua trẻ Duy Tân được vợ hiền
Theo chồng chia sẻ nỗi truân chuyên
Chân trời góc bể thân đày ải
Trọn đạo tòng phu trọn ước nguyền

“Đá dù nát – vàng, chẳng phai
Tử sinh vẫn giữ lấy lời tử sinh”
Hồi hương vẫn trọn ân tình
Ôm lòng thủ tiết đinh ninh một lời.

TƯỞNG NHỚ BÀ ẤU TRIỆU LÊ THỊ ĐÀN
(Nữ đồng chí Duy Tân Hội -
do nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu tổ chức)

Vì non nước chẳng ngại ngần
Nữ nhi tình nguyện góp phần “Duy Tân”
Hiểm nguy sá kể tấm thân
Bắc Nam hoạt động bao lần vào ra
Bạc tiền thư tín gần xa
Lãnh phần giao nhận điều hòa chi thu
Sinh viên – cơm áo đông du...

Thực dân Pháp bắt cầm tù
Đêm ngày tra tấn đầu bù tóc rơi
Kiên gan chẳng hé nửa lời
Bảo toàn bí mật – một đời hi sinh
Cho tổ chức được yên bình
Cho đồng chí được trọn tình vì nhau
Một mình xin chịu đớn đau
Cho tròn danh tiết xưa sau một lòng
Lụa đào một dải thắt xong
Cam bề tuẫn tiết thoát vòng khảo tra
Vuông tròn nợ nước thù nhà
Tiếng thơm muôn thuở đàn bà Việt Nam

TRI ÂN NỮ SỬ ĐẠM PHƯƠNG
(Người sáng lập “Nữ Công Học Hội” 17/05/1926 – một tổ chức phụ nữ tiến bộ đầu tiên tại Tp. Huế, Việt Nam)

Bởi tâm nguyện đàn bà tự lập
Khỏi mang danh sống bám theo chồng
Vững vàng đứng giữa non sông
Nghiệp nghề nắm chắc gieo trồng thiện duyên
Hô hào phụ nữ ba miền
Giúp nhau học tập cần chuyên từ này
Người khởi xướng Đạm Phương Nữ Sử
Sáng lập nền Học Hội Nữ Công
Hô hào trên dưới một lòng
Dựng xây tổ chức nữ công học đường

Cùng nhiều bậc nữ lưu mực thước
Nắm tay nhau tiến bước vững vàng
Hội trưởng Hội phó đàng hoàng
Người nào việc nấy rõ ràng phân minh
Đào tạo nhiều lớp học sinh
May, đan, thêu, dệt, chương trình sít sao
Mứt bánh các loại ngọt ngào
Thực hành thành thạo vui nào vui hơn
Đôi dòng ghi khắc công ơn
Đạm Phương Nữ Sử giản đơn mấy lời

TƯỞNG NHỚ NHẤT CHI MAI
(1934 – 1967)
(Tức nhà giáo yêu nước Phạm Thị Mai đã tự thiêu ở Sài Gòn để đòi hòa bình cho dân tộc và nhân loại)

Thắp lửa đốt mình chống chiến tranh
Nguyện xin đổi lấy mạng dân lành
Nguyện xin cơm áo ngàn con trẻ
Nguyện đổi nụ cười cho tuổi xanh


Ba mươi tuổi lẻ chị hinh sinh
Mong mỏi non sông được thái bình
Lý tưởng – là con dân nước Việt
Sống tròn khí tiết - chết đoan trinh

Lửa tuệ bùng lên đốt xác thân
Để đòi quyền sống của muôn dân
Để cầu hạnh phúc cho nhân loại
Ngọn lửa tin yêu sáng thế trần


... Mẹ già phơ phất mái sương
Con thơ măng sữa, vả đương bù trì
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
Miêng hài nhi chờ bữa mớm cơm
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân...
(Trích CPN bản của Vân Bình Tôn Thất Lương dẫn giải chú thích – NXB Tân Việt)

NỮ SĨ ĐOÀN THỊ ĐIỂM
(1705 – 1746)

Nhất Điểm anh hoa sáng giữa đời
“Tài tình thiên cổ lụy” Người ơi
Khúc “Ngâm Chinh Phụ” nghe đòi đoạn
Tuyệt tác còn lưu với đất trời


BÀ HUYỆN THANH QUAN

Đèo Ngang dừng bước ngắm trời mây
Lữ khách buồn nghiêng vóc liễu gầy
Điếm cỏ nhớ người neo cố quận
Cầu sương thương phận động niềm tây
“Cung trung giáo tập” ơn nhuần gội
Nữ sử cần chuyên đạo lý xây
Khuê phụ tài hoa danh tỏ rạng
Văn đàn tên tuổi mãi còn đây

ĐỨNG BÊN HỒ HỒ XUÂN HƯƠNG
Ở ĐÀ LẠT

Sao nữ hoàng thơ ngự chốn nầy
Đồi cao lũng thấp nắng đùa mây
Sương chan má phấn hờn thu quạnh
Gió tạc da ngà lạnh ngất ngây

Chút phận hẩm hiu trầu chẳng đượm
Hồng nhan tri kỷ - biết ai đây
Gồng mình nửa gánh đau duyên phận
Phơi trải lòng son mặt nước đầy

TRẦN BÌNH TRỌNG

Một câu nói muôn sau truyền tụng mãi
Tướng nhà Trần chỉ thẳng mặt Thoát Hoan
Giữa trùng vây giặc bắt, dụ đầu hàng
Phong chức tước cùng bạc vàng châu ngọc
Trần Bình Trọng oai hùng cao giọng:
“Ta thà làm quỷ nước Nam...”
Tham chi tướng Bắc để cam phận hèn


VUA QUANG TRUNG

Áo vải cờ đào dựng nước
Lẫy lừng sự nghiệp Quang Trung
Mồng năm tháng Giêng Kỷ Dậu
Giặc Thanh chủ tớ kinh hoàng
Sầm Nghi Đống chết vội vàng
Gã Tôn Sĩ Nghị tìm đàng thoát thân
Nguyễn Huệ trao tặng Ngọc Hân
Cành đào tươi rói mừng xuân thái bình

TRẦN QUỐC TOẢN

“Phá giặc mạnh đền ơn nước”
Lá cờ thêu sáu chữ vàng
Mười sáu tuổi Trần Quốc Toản
Hiến mình vì nước vang danh

PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG

Giặc Ân tràn sang cướp nước
Thần đồng Phù Đổng vươn vai
Sừng sững chàng trai tuấn tú
Nhổ tre đuổi giặc chạy dài

ĐINH TIÊN HOÀNG

Cậu bé chăn trâu: Bộ Lĩnh
Bông lau tập trận trên sông
Lớn lên phất cờ dẹp loạn
Mười hai sứ quân tan hàng
Nhà Đinh bắt đầu khởi nghiệp
Nửa dòng sử Việt còn vang


LÊ LỢI

“Lũng Nhai” (1) ăn thề khởi nghĩa
“Lam Sơn” (2) tụ hội anh hùng
Đêm ngày nằm gai nếm mật
Quyết lòng diệt lũ nhà Minh
Chiến công lừng vang sử sách
Việt Nam bao bậc tài danh
Bảo toàn giang sơn bờ cõi
Ngoại xâm đừng hòng vào đây!

(1) Nơi nghĩa quân Lê Lợi ăn thề
(2) Quê hương anh hùng Lê Lợi


NGUYỄN TRÃI

“Bình Ngô đại cáo” diệt xâm lăng
Trung nghĩa lòng son sáng tựa rằm
Trời Việt sao Khuê ngời khí tiết
Chết mà sống mãi đến muôn năm

TRẦN QUỐC TUẤN
(Hưng Đạo Vương)

“Hịch tướng sỹ” nức lòng cả nước
Hưng Đạo Vương thao lược trí tài
Nguyên Mông thảm bại chạy dài
Nhà Trần đại thắng ca bài tự do
Bởi quân, tướng lòng lo diệt giặc
Không rẽ chia bỏ mặc việc công
Cùng nhau bảo vệ non sông
Ngoại bang kính sợ con Rồng cháu Tiên


PHẠM NGŨ LÃO

Bên đường ngồi lo vận nước
Mặc quan, mặc tướng đi qua
Roi quất vào đùi đau điếng
Chẳng thèm cất tiếng kêu la

Hưng Đạo ghìm cương hỏi chuyện
Việc nhà, việc nước gần xa
Lược thao côn quyền binh pháp
Luận bàn thông suốt tài ba

Người xưa cầu hiền giữa chợ
Chung tay xây dựng nước nhà.


NHỚ NGƯỜI MỞ CÕI
(Kính dâng anh linh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh )

Xuyên suốt nửa vòng đất nước
Trười quê hương đâu cũng đẹp như thơ
Nơi ruộng nước nơi đồng khô màu mữo
Cánh cò bay trắng tỏa điểm mây lơ
Hồn phiêu lãng chợt rung lên cung bậc
Nhạc giao thoa cảnh trí với tâm tình
Mặt trời lên rạng rỡ buổi bình minh
Cây xanh tốt rung rinh sương thắm lá.

Thuở mở cõi cha ông từng vất vả
Khơi nguồn sâu – gieo hạt để nên rừng
Ngàn gian lao vẫn buộc bụng thắt lưng
Bền gan chịu để tô bồi sông núi
Cho con cháu ngàn đời không hổ tủi
Ngẩng cao đầu bước tiếp gót tiền nhân
Góp mồ hội xây dựng cuộc tồn sinh
Giữ bờ cõi – đền ơn Người mở cõi.
Gương tranh đấu không một giờ mệt mỏi
Tổ tiên mình tuyệt diệu đến vô song...

TÁC PHẨM CHÍNH CỦA NINH GIANG THU CÚC
* Đã in:
1. Hoài Niệm, thơ – Sở VHTT Bình Định 1995
2. Thức Tìm, thơ – NXB Thuận Hóa 1997
3. Lục Bát Dâng Đời, thơ – NXB Thuận Hóa 1998
4. Tôi Mời Tôi Cạn Chén Đầy, thơ – NXB Trẻ 1999
5. Nẻo Về, thơ Đường luật – NXB Thuận Hóa 1999
6. Miền Xưa, thơ – NXB Trẻ 2002
7. Bờ Neo, thơ – NXB Trẻ 2003
8. Phiên Bản, thơ - tiểu luận, NXB Trẻ 2004
9. Chung Lối, thơ Đường Luật – NXB Hội Nhà văn 2009
10. Phao Cứu Nạn, thơ – NXB Văn Hóa Sài Gòn 2010
11. Vọng, thơ Đường luật – NXB Hội nhà văn 2013
12. Chân dung một nhà văn nữ, chân dung văn học – NXB Thanh niên 2005
13. Nữ sĩ Tuệ Mai thân thế và sự nghiệp, tiểu luận – chân dung văn học, NXB Thanh niên 2005
14. Hành trình thơ của một Công Tằng Tôn Nữ, chân dung văn học – NXB Văn hóa Sài Gòn 2009
** Chưa in:
1. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính, tiểu luận.
2. Nữ lưu miền Hương Ngự, giới thiệu chân dung văn học
3. Minh Quân-Thùy An - song hành cùng tuổi thơ, giới thiệu chân dung văn học
4. Sống vì người, tập truyện đạo giới thiệu chân dung Cư sĩ Phạm Đăng Siêu
5. Tiếng gọi, tập truyện ngắn
6. Sông Văn núi Võ một hồn thơ, tiểu luận văn học
*** In chung:
1. Đôi miền hoa rêu (4 tác giả), thơ – NXB Thuận Hóa 1998
2. Miền tương ngộ (10 tác giả) – NXB Thuận Hóa 2010
3. Nguồn suối tình thương, tập thơ và truyện ngắn in với Hạnh Phương – NXB Thanh niên 2011
*** Có mặt trong:
1. Bộ sách biên khảo: Nữ sĩ Việt Nam cổ cận hiện đại của nhà văn Như Hiên, giới thiệu 138 gương mặt nữ sĩ từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ XX, NXB Văn học.
2. Bảy trăm năm thơ Huế của Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (1306 – 2006), NXB Thuận Hóa.
3. Hai mươi năm tạp chí Sông Hương (Phần thơ), NXB Văn học.
4. Hai mươi năm tạp chí Giác Ngộ (Phần thơ)
5. Tuyển thơ Mười bốn năm Nguyệt san Áo trắng
6. Dạ thưa xứ Huế, tuyển những bài thơ hay viết về Huế (Công ty Văn hóa Trí tuệ Việt)
7. Vua Phật Trần Nhân Tông (Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Phật Giáo)
8. Từ điển nhân danh và địa danh văn hóa Việt Nam do Giáo sư Thanh Vân và nhà thơ Như Hiên soạn (năm 2005)
9. 1000 Nhà thơ Huế đương thời (Tập 1), NXB Hội Nhà Văn.
10. Thơ ca miền Trung Việt Nam, Giáo sư Lương Trọng Minh biên soạn
11. Phật giáo con đường hướng về tương lai (Truyện ngắn) - NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
12. Sắc hương hoa bút (Tuyển thơ báo Giác Ngộ)
13. Nguyễn Trãi hợp tuyển, NXB Hội Nhà Văn
14. Việt Thi Thiên Tải, NXB Hội Nhà Văn
15. Nghìn năm thương nhớ, NXB Hội Nhà Văn
16. Nước non một dải, NXB Hội Nhà Văn
17. Trời một phương, NXB Hội Thanh Niên
18. Bút xưa (Thơ Đường luật), NXB Thời Đại
19. Hương cổ tích (Điếu văn), NXB Thời Đại
20. Về nguồn, NXB Văn học
21. Thơ Nguyên Tiêu Bình Định, Sở Văn hóa Thông tin Bình Định
22. Mười năm văn xuôi Bình Định, NXB Thông tấn
Và góp bài gần một trăm tuyển tập thơ văn cả nước.

Mục lục
LỐI VÀO 3
ĐỌC KIỀU: THƯƠNG “KHÁCH VIỄN PHƯƠNG” 5
MỘT CẶP “SÁU TÁM” 16
ĐỆ NHẤT TÀI HOA 16
KIM TRỌNG, THÚY KIỀU, KHÁCH VIỄN PHƯƠNG, TỪ HẢI 18
HOẠN THƯ GHEN VÌ YÊU??? 31
MỘT VÀI THẰNG CON CON SAU CHÂN NGỰA CỦA KIM TRỌNG 38
TÌNH CHỊ DUYÊN EM HAY SỰ HI SINH THẦM LẶNG CỦA THÚY VÂN 40
QUAN CHỨC VÀ VƯƠNG ĐẠO 46
THÚY KIỀU – ĐẠI DIỆN NHỮNG SỐ PHẦN BẤT HẠNH 51
CỤ NGUYỄN DU VIẾT TRUYỆN KIỀU LÚC NÀO VÀ Ở ĐÂU 58
MÃ GIÁM SINH, TÚ BÀ, SỞ KHANH – TỒN TẠI MỌI THỜI ĐẠI 64
VÀI VẾT XƯỚC NHỎ TRONG KHỐI NGỌC LỚN: TRUYỆN KIỀU 66
VÔ CÙNG 72
THƯƠNG LẮM THÚY KIỀU ƠI! 73
CẦM SẮT LỠ LÀNG 75
HÈN 77
HỒI KẾT CUỘC 80
SAO NỠ QUÊN MỘT TẤC LÒNG 82
LỜI KẾT CHO CUỘC TÌNH GIỮA TÁC PHẨM VÀ NGƯỜI ĐỌC 84
PHẦN PHỤ LỤC 85
MẤY DÒNG SỬ THI 85
HAI BÀ TRƯNG 87
BÀ TRIỆU 88
NHỚ Ỷ LAN 90
CÔ GÁI HÁI DÂU VƯỜN THỔ LỖI 91
CHUYỆN TÌNH 93
CỦA LÝ THÁNH TÔNG VÀ Ỷ LAN 93
CẢM ĐỀ: “NGUYỄN THỊ LỘ” TRONG TÁC PHẨM “NỮ SĨ VIỆT NAM” CỦA NHƯ HIÊN NGUYỄN NGỌC HIỀN 97
THĂNG LONG - TRÁI TIM MỞ NGÕ... 100
ĐI GIỮA LÒNG HÀ NỘI 102
THĂNG LONG 104
CẢM ĐỀ: “LỄ NGHI HỌC SĨ NGUYỄN THỊ LỘ VỚI THẢM ÁN LỆ CHI VIÊN” 105
TÀI... HỌA... 107
NỖI ĐAU NGHÌN NĂM 110
SẮC TÀI HỆ LỤY 111
NGẬM NGÙI OAN SAI 112
TỎ THÀNH TÂM 114
ĐẠO ĐỜI SÁNG MÃI TRẦN GIA 115
TÌM VỀ LINH ĐỊA 117
TRÔNG VỀ CỐ QUẬN 119
NGỌC HÂN CÔNG CHÚA 120
HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA 123
BÙI THỊ XUÂN 124
MẪU HẬU NGUYỄN THỊ ĐỊNH 125
BÀ MAI THỊ VÀNG 126
TƯỞNG NHỚ BÀ ẤU TRIỆU LÊ THỊ ĐÀN 127
TRI ÂN NỮ SỬ ĐẠM PHƯƠNG 129
TƯỞNG NHỚ NHẤT CHI MAI 131
NỮ SĨ ĐOÀN THỊ ĐIỂM 133
BÀ HUYỆN THANH QUAN 134
ĐỨNG BÊN HỒ HỒ XUÂN HƯƠNG 135
Ở ĐÀ LẠT 135
TRẦN BÌNH TRỌNG 136
VUA QUANG TRUNG 137
TRẦN QUỐC TOẢN 138
PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG 139
ĐINH TIÊN HOÀNG 140
LÊ LỢI 141
NGUYỄN TRÃI 142
TRẦN QUỐC TUẤN 143
PHẠM NGŨ LÃO 144
NHỚ NGƯỜI MỞ CÕI 145
TÁC PHẨM CHÍNH CỦA NINH GIANG THU CÚC 147

Vi tính bản thảo: Thảo Nguyên, Thư Sinh
Chân dung tác giả: (Ảnh: Hạnh Phương)
Bìa: Phan Trường Nghị
Sửa bản in: NGTC




***
facebook

youtube

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/04/2022(Xem: 261)
Chúng tôi là những nữ sinh vào lớp đệ thất khi trường Lê Quí Đôn Nha Trang mới mở. Thầy Võ Hồng dạy hai môn Vạn vật và Việt văn, Thầy cũng là người chỉ đạo coi sóc lớp tôi. Thầy thường chạy chiếc velo đen, cao người, thật hiền và rất tế nhị. Thầy biết hết lý lịch và tánh tình từng học sinh trong lớp.
26/04/2022(Xem: 188)
Lão trượng qua cầu Hoài sao chẳng tới Chân vẫn bước mau Tâm như hư thái
12/04/2022(Xem: 241)
Môn học về tiếng mẹ đẻ của một dân tộc là giá trị tiêu biểu về tính nhân văn của con người và đất nước đó. Thử mở chương trình học về ngôn ngữ bản xứ của các nước có gia tài đồ sộ về ngôn ngữ và văn chương sẽ thấy rõ ràng sự nhất quán về danh xưng của môn học tiếng mẹ đẻ từ cấp tiểu học đến đại học của xứ đó: Trung Văn (中文), Anh Văn (English), Pháp Văn (Française)... Việt Văn (Ngữ Văn)! Các danh xưng Trung Văn, Anh Văn, Pháp Văn… đều có lịch sử suốt nhiều trăm năm; chỉ riêng lịch sử Ngữ Văn thì phải tính bằng số chục.
11/04/2022(Xem: 335)
Các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cho rằng Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ niên hiệu Vĩnh Bình đời Hán Minh Đế (58-75) căn cứ vào sự kiện vua nằm mộng thấy một người thân vàng ròng bay vào cung điện. Có vị cận thần tâu đó là đức Phật ở xứ Thiên Trúc - đấng Giác ngộ trên cả trời người. Vua liền sai người đến Tây Vực tìm cầu Phật pháp. Thật ra, Phật giáo vào Trung Quốc trước cả đời Hán Minh Đế. Lúc bấy giờ, Đạo giáo đang rất thịnh hành. Thời điểm này, Phật giáo chỉ thuần là một loại tôn giáo tế tự, học thuyết đặc thù của Phật giáo chỉ là quỉ thần báo ứng, gần với thuật cúng tế, bói toán của Trung Quốc. Vì thế, tăng sĩ Phật giáo cùng hoạt động song hành với các đạo sĩ của Đạo giáo. Tín đồ Phật giáo yêu chuộng cả đạo sĩ của Đạo giáo, nên cả hai đều hoạt động mạnh mẽ trong hoàng tộc, chứ không ảnh hưởng lớn đến dân chúng.
09/04/2022(Xem: 1505)
Mục đích của cuộc thi giải thưởng là khuyến khích việc sáng tác cá nhân, xuất phát từ nguồn cảm xúc đối với các việc xảy ra trong đời sống xã hội hàng ngày, được miêu tả, bằng nhận thức, lý giải và thái độ ứng dụng sống động qua những lời dạy của Đức Phật. Các thể tài có thể gợi ý như là chuyện công ăn việc làm, chuyện gia đình, học đường, chuyện về đại dịch hay chuyện trong nhà ngoài phố.v.v.. Bài tham dự có thể trình bày dưới nhiều hình thức như tác phẩm nghệ thuật, truyện ký, truyện ngắn, tạp bút, thơ… Người viết hoàn toàn tự do chọn đề tài, miễn có liên quan đến tư tưởng Đạo Phật và nội dung có thể chuyển tải được cách ứng dụng giáo lý vào đời sống hàng ngày.
01/04/2022(Xem: 395)
Nếu có những khúc ngâm đoạn trường trong văn học thi ca làm cho người đọc qua nhiều thế hệ trải mấy nghìn năm vẫn còn cảm xúc đòi đoạn thì Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc là hai khúc ngâm tiêu biểu trong văn chương Việt Nam; cũng như Trường Hận Ca, Tam Lại Tam Biệt và Tần Phụ Ngâm được xem là “tam bi hùng ký” trong văn chương Trung Quốc thời Hậu Đường. Người Việt yêu thi ca thường ưa chuộng dư âm cùng ý vị lãng mạn và bi tráng giàu kịch tính hơn là vẻ bi phẫn và hùng tráng của hiện thực máu xương trong thi ca đượm mùi chinh chiến. Tâm lý nghệ sĩ nầy giúp lý giải một phần câu hỏi còn nằm trong góc khuất văn học là tại sao cho đến nay, hơn cả nghìn năm sau, tác phẩm Tần Phụ Ngâm vẫn chưa có người dịch ra tiếng Việt.
20/03/2022(Xem: 1089)
Những tưởng Ninh Giang Thu Cúc sẽ gác bút sau tập nhận định “Đọc Kiều Thương Khách Viễn Phương” nhưng nào có được - bởi nghiệp dĩ đeo mang nên mới có Kiều Kinh gởi đến quý vị. Với tuổi tác và bệnh trạng – tác giả muốn nghỉ viết để duy dưỡng tinh thần, trì chú niệm kinh và chung sống an yên cùng căn bệnh nghiệt ngã là xẹp cột sống lưng... Thế nhưng; với tiêu chí – còn thở là còn làm việc, tác giả không cam chịu là người vô tích sự vì thế NGTC vẫn viết (dù trong tư thế khó khăn) mong đóng góp chút công sức nhỏ nhoi cho nền Văn học nước nhà.
24/02/2022(Xem: 1412)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
13/02/2022(Xem: 1072)
Gần đây khi nhận được những tập kỷ yếu về các chuyến hành hương (từ các địa điểm tâm linh) gửi tặng từ TT Thích Nguyên Tạng, một lần nữa tôi mới chợt nhận ra tại sao một người tu hay bất cứ một người phàm phu nào cũng cần phải cầu nguyện cho mình có đủ Tam Phước ( Phước vật - Phước đức và Phước Trí ). Trộm nghĩ khi có đủ tam phước rồi thì làm việc gì cũng thành tựu vì đã sử dụng đúng thái độ và cách cư xử của ta trong cuộc sống . Và hạnh phúc là mục đích chính của con người, tiêu biểu cho sự phát triển đầy đủ các đức tính đạo đức của con người ...Nhất là trong Triết lý Phật giáo, hạnh phúc là chủ đề rất quan trọng nghĩa là muốn có hạnh phúc thì phải có bình an ( vật chất lẫn tinh thần ) và nhất định là hạnh phúc này phải phát xuất từ giá trị cuộc sống với sự hoàn thiện nhân cách và luôn giữ 3 nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh.
13/02/2022(Xem: 1048)
Hiện nay chúng ta đang có 2 cách tính thời gian theo : Âm Lịch và Dương Lịch. Phương Tây và nhiều nước trên thế giới sử dụng Dương Lịch, lịch này tính theo chu kỳ tự quay xung quanh trục mình của Trái Đất và Trái Đất quay xung quanh mặt trời. Trong khi đó cách tính Âm Lịch sử dụng Can Chi, bao gồm thập Can và thập nhị Chi. Trong đó, 10 Can gồm: Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ được tạo thành từ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. 12 Chi được lựa chọn từ các con vật gần gũi với con người hoặc thuần dưỡng sớm nhất. Có một sự khác nhau trong 12 Chi giữa Âm Lịch Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam,.... đó là Chi thứ 4 là con Mèo hay con Thỏ. Ở Việt Nam, 12 con giáp gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, tương ứng với 12 con vật : Chuột, Trâu, Hổ, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó, Lợn. Khi ghép lại sẽ tạo thành 60 năm (bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12) từ các tổ hợp Can - Chi khác nhau, gọi chung là Lục Thập Hoa Giáp.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
80,902,190