Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tâm Kinh Bát Nhã (bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng)

19/07/202120:20(Xem: 918)
Tâm Kinh Bát Nhã (bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng)

 


Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ,

Bạch Sư Phụ, hôm nay là buổi giảng của Sư Phụ ở Trường Hạ Pháp Hoa, Adelaide, nam Úc, ngày 15-7-2021. Sư Phụ giảng chủ đề Tâm Kinh Bát Nhã.

Sư Phụ giải thích: Tâm Kinh là kinh phát xuất từ Tâm, từ Ruột, trong thời công phu khi ra kinh đều tụng Tâm Kinh Bát Nhã.
Ma Ha là lớn, là đại.
Bát Nhã là trí tuệ, đại trí tuệ.
Ba La Mật Đa, là đáo bỉ ngạn, là qua đến bờ bên kia, cũng như sau khi bố thí thì không còn thấy mình là người bố thí, không vướng mắc trụ vào sự bố thí thì mới qua bờ giải thoát, bờ của trí tuệ.

Tâm kinh là kinh cốt tủy của tâm, gồm 600 quyển có 5 triệu chữ, được pháp sư Huyền Trang cô động lại còn 260 chữ cốt lõi, là bản kinh tinh tuý của Bộ Đại Bát Nhã do Đức Thế Tôn thuyết giảng trong suốt 22 năm.
Sư Phụ có giới thiệu ông Chánh Trí (một phi công thuộc quân lực VNCH) đã phát tâm đọc trọn Bộ Đại Bát Nhã trong MP3 có lưu trữ trong trang nhà Quảng Đức.

Sư Phụ giải thích hai câu trọng yếu nhất của bài kinh:

“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách”

Dịch nghĩa:

“Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn”.


Sư phụ giải thích:

Bồ Tát Quán Tự Tại, về sự là chỉ cho Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nhưng về lý là chỉ cho sự tự tại, thong dong, vượt thoát mọi chấp ngã, chấp pháp của chính mình, hành giả đang thọ trì bản kinh Bát Nhã này.

Hành thâm, thực hành sâu xa.
Bát Nhã nghĩa là trí tuệ.
Ba La Mật Đa nghĩa là qua bờ bên kia (bờ giác, còn bờ bên này là chỉ cho luân hồi sanh tử, phiền não khổ đau)
Muốn qua bờ kia phải nhận thấy, phải soi thấu năm hợp thể uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đó là hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành, nhận thức ) đều không, không có mặt như những thực tại riêng biệt.

Sư Phụ giải thích thêm về ngũ uẩn của con người là do tinh cha huyết mẹ tạo thành phôi thai sau 24 giờ, từ đó thai bào phát triển thành thai nhi trọn vẹn trong thời gian 9 tháng 10 ngày. Ngũ uẩn vốn là không, nghiệp thức của cha mẹ đi vào thai nhi.

-Sắc uẩn, sắc thân gồm đất nước gió lửa. Đất là xương, là tóc. Nước là nước mắt, nước miếng...Gió là hơi thở, lửa là hơi ấm, thân nhiệt. Sắc thân vốn không thật có, mà là do từ cha mẹ hình thành.

-Thọ uẩn, cảm thọ vui buồn khổ, không vui không buồn không khổ...tự bản thân không có mà do từ cảm nhận bên ngoài tạo thành nghiệp.

-Tưởng uẩn là tri giác, tri là biết, giác là giác quan của mắt tai mũi lưỡi thân ý. Mắt thấy sắc khởi vọng tưởng phần lớn tự mình khổ đau, không làm chủ được mình. Sư Phụ kể thời Đức Phật có một ông lão đến xin Đức Phật giúp cho hết khổ. Đức Phật dạy, trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là cái nghe, không để một vọng tưởng nào trong cái thấy cái nghe thì không còn khổ.

- Hành uẩn là tâm hành, là sự hoạt động của tâm, bao trùm tất cả không gian và thời gian, ngay trong giấc ngủ tâm (51 tâm sở) cũng hoạt động (khiến có giấc mơ). Hành giả tu tập với 51 tâm sở này, tâm sở thiện thì phát triển, tâm sở bất thiện thì tận trừ, sẽ giúp mình vượt qua chướng khổ ách nạn.

51 tâm sở đó là:

*5 tâm sở biến hành: 5 tâm này biến đổi xảy ra khắp nơi, bất cứ lúc nào, ngay cùng 1 niệm khởi có đủ 5 loại tâm này:
1/Xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư : xảy ra trong giác quan
2/Tác ý: sự phát động của tâm, làm cho tâm hướng về
3/Thọ: cảm nhận vui, khổ, không vui, không khổ khi căn trần tiếp xúc
4/Tưởng: nắm bắt, nhận lấy được hình tướng của đối tượng
5/Tư: sai khiến tâm mình tạo tác, xúi giục ý mình hành động.


*5 tâm sở biệt cảnh: 5 tâm này mỗi món duyên mỗi cảnh riêng khác.
1. Dục: Mong muốn.
2. Thắng giải: Hiểu biết rõ ràng.
3. Niệm: Nhớ.
4. Định: Chuyên chú.
5. Huệ: Sáng tỏ.

*11 tâm sở thiện: 11 Tâm sở này thiện lành và làm lợi ích cho mình và người.
1. Tín: Tin. Tánh của Tâm sở này, tin chịu những gì có thật (chơn thật), Đức (hình dung), Năng (nghiệp dụng) và làm cho Tâm được thanh tịnh.

2. Tinh tấn: siêng năng đoạn các việc dữ, tinh cần làm các việc lành.
3. Tàm: Tự mình xấu hổ với những điều gì sai quấy đã làm
4. Quý: hổ thẹn với người khi mình phạm lỗi.
5. Vô tham: không tham lam, cảnh dục lạc trong tam giới.
6. Vô sân: Không sân hận khi đối với cảnh trái nghịch, không nóng giận.
7. Vô si: Không si mê khi đối với sự lý, hiểu biết rành rõ không mờ ám.
8. Khinh an: thân tâm nhẹ nhàng khoan khoái, xa lìa những gì nặng nề bực bội.
9. Bất phóng dật:phòng ngừa việc ác, làm việc lành và không phóng túng.
10. Hành xả: khi làm các việc phước thiện rồi, không chấp trước, khiến tâm an trụ nơi vô công dụng hạnh.
11. Bất hại: không làm tổn hại tất cả chúng hữu tình.


*6 căn bản phiền não:
1. tham
2. sân (giận)
3. mạn (kiêu căn)
4. vô minh (si);
5. Kiến (tà kiến);
6. Nghi.

*20 tùy phiền não
1/Phẫn: Nổi-xung khi gặp cảnh trái ý-thích. Nhiều khi phát ra bạo-ác.
2/Hận: Kết oán. Sau khi nổi-xung, giữ cái giận trong lòng. Kết oán làm tính. Có thể chướng bất hận. Nóng nảy, bức tức làm nghiệp.
3/ Phú: Che-dấu. Che-dấu tội mình làm, e mất cái lợi và tiếng khen. Có thể chướng bất-phú. Hối não làm nghiệp. Tức là sau bị ăn-năn và não không yên-ổn.
4/Não: Dữ tợn. Trước đã giận, bị người xúc-xiểm cho giận thêm. Dữ-tợn làm tính. Có thể chướng cái bất não. Độc-dữ làm nghiệp. Khi đã giận nhiều, tâm bèn hung-dữ phát ra táo-bạo và các lời thô-bỉ, độc hại.
5/Tật: Ganh-ghét. Chỉ theo cái danh-lợi của mình, chẳng chịu ai vinh hơn. Ganh ghét làm tính. Có thể chướng bất tật. Lo-rầu làm nghiệp. Người ganh-ghét, nghe thấy ai vinh hơn, ôm lòng lo lắng, chẳng yên-ổn.
6/Xan: bỏn-xẻn. Tham-đắm tiền của, không thể ban cho. Bỏn-xẻn làm tính. Có thể chướng bất-xan. Xẻn chứa làm nghiệp. Người bỏn xẻn tâm hay riết-róng và xẻn, chất chứa tiền của, không thể bỏ.
7/Cuống: Dối-trá. Vì muốn được lợi và tiếng khen, giả hiện ra có đạo-đức. Dối-trá làm tính. Có thể chướng bất-cuống. Tà-mạng làm nghiệp. Người kiểu-cuống lòng ôm giữ mưu-mô khác, phần nhiều hiện ra sự bất-thật.
8/Xiểm: bẻ cong. Vì dối người, giả lập cái nghi-dung khác. Xiểm-khúc làm tính. Có thể chướng bất xiểm. Người xiểm-khúc, vì dối ghạt người, chiều theo thời nghi, giả-lập phương-tiện, để lấy ý người, hoặc dấu lỗi mình, chẳng để cho thầy bạn chính-đáng dạy-bảo.
9/Hại: Làm hại. Đối với các hữu-tình, tâm không thương-xót. Tổn-não làm tính. Có thể chướng bất-hại. Bức-não làm nghiệp. Người có hại bức-não loài khác.
10/Kiêu: Ỷ mình. Đối với việc tốt, hay của mình, rất sinh nhiễm trước. Túy-ngạo làm tính. Có thể chướng bất kiêu. Người kiêu sinh-trưởng tất cả pháp tạp-nhiễm.
11/Vô Tàm: Không biết hổ, xét mình. Chẳng tự xét mình, khinh chống hiền-thiện làm tính. Có thể chướng ngại tâm. Sinh-trưởng ác-hạnh làm nghiệp.
12/Vô Quý: Không biết thẹn với người. Chẳng nhìn người, kính trọng cái bạo-ác làm tính. Có thể chướng ngại quý. Sinh-trưởng ác-hạnh làm nghiệp. Không biết thẹn vì đều xấu của mình.
13/Trạo Cử: Tâm lêu lổng. Khiến tâm đối với cảnh chẳng tịch-tĩnh làm tính. Có thể chướng cái hành-xả Sa-ma-tha làm nghiệp. Luận chỉ nói nó là tham phần. Nó bởi nhớ sự vui lúc trước mà sinh.
14/Hôn Trầm: Mờ tối, nặng-nề. Khiến tâm đối với cảnh không kham-nhiệm làm tính. Có thể chướng tu quán khinh-an làm nghiệp. Luận chỉ nói nó là si-phần. Mờ tối, trầm trọng là tướng-si.
15/Bất Tín: Không tin. Đối với sự-thật, đức-hạnh và tài-năng, chẳng ưa muốn. Tâm uế làm tính. Có thể chướng tịnh-tín. Đọa nương làm nghiệp. Người bất-tín phần nhiều hay lười nhác.
16/Giải Đãi: Lười-biếng. Đối với thiện và ác phẩm, trong việc tu và đoạn, lãng-đoạn, làm ính. Có thể chướng tinh-tiến. Thêm nhiễm làm nghiệp. Người lười nhác thêm nhiều nhiễm nghiệp.
17/Phóng dật: Buông-lung. Đối với tịnh và nhiễm phẩm, không ngăn nhiễm. Buông-lung làm tính. Chướng bất-phóng-dật. Thêm ác tổn thiện nương-dựa làm nghiệp.
18/Thất Niệm: không nhớ. Đối với các cảnh duyên, không thể rõ ràng ghi nhớ làm tính. Có thể chướng chính-niệm. Tản-loạn nương-dựa làm nghiệp. Người thất-niệm tâm hay tản-loạn.
19/Tán Loạn: lưu lãng. Đối với cảnh sở-duyên, khiến tâm lưu-lãng1 làm tính. Có thể chướng chính-định. Ác-tuệ nương-dựa làm nghiệp. Người tản-loạn phát ác-tuệ
20/Bất Chánh Tri: Hiểu biết sai-lầm. Đối với cảnh sở-quán, hiểu biết lầm3 làm tính. Có thể chướng chính-tri. Hủy-phạm làm nghiệp.

*4 Tâm Sở Bất Định:
4 tâm này (Hối, miên, tầm, từ) không nhất định thiện hay ác, nên bị gọi là bất định:
1/ Hối: Ăn năn, hối tiếc việc (thiện & bất thiện) đã làm
2/Miên: Buồn ngủ (khiến tâm không tự tại); thiện: ngủ đúng thời; bất thiện: đến giờ công phu hành trì..vẫn cứ nằm ngủ.
3/Tầm: Tìm kiếm hướng tâm đến giải thoát (thiện), hướng tâm đến mục tiêu làm tổn thương người khác (bất thiện)
4)Tư : xuy xét, toan tính khiến tâm bận-rộn trong tu tập giải thoát (thiện), xuy xét, toan tính khiến tâm bận-rộn trong việc hại người khác (bất thiện)


Thấy ngủ uẩn đều không thì không còn khổ, sanh già bệnh tử.


Đức Thế Tôn nói kinh Bát Nhã là giúp chúng sanh tự chấm dứt khổ từ nơi bản thân của mình bằng:
1- Văn tự Bát Nhã, luôn hành trì tụng niệm
2- Chiếu kiến Bát Nhã, luôn hành trì quán tưởng.
3- Thật tướng Bát Nhã, tự tại thong dong vượt thoát mọi ý niệm đối lập như sanh diệt, có không, thêm bớt, chủ thể đối tượng...và tiếp xúc được với thực tại bất sinh bất diệt, phi hữu phi vô...thực tại chính là thực tính của vạn pháp. Tuệ giác Bát Nhã là sự thật tuyệt đối, là tuệ giác siêu việt của Đức Thế Tôn.


Kính bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban giảng về Tâm Kinh rất tỏ rõ thực tướng Bát Nhã giúp vượt qua mọi khổ đau, thấy 5 uẩn đều trống rỗng, là cái không. Hình hài này là cái không, cái không cũng chính là hình hài này, điều này cũng đúng với cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. Giác ngộ điều ấy xong, Bồ Tát vượt qua mọi khổ đau ách nạn.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Cung kính và tri ơn Sư Phụ,
Đệ tử Quảng Tịnh Tâm
(Montréal, Canada).

BÁT NHÃ TÂM KINH (phần 2)

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ,

Bạch Sư Phụ, hôm nay (tối thứ sáu 16/7/2021) Sư Phụ giảng phần hai của bài Tâm Kinh Bát Nhã, ở Trường Hạ Pháp Hoa, Adelaide Úc.

Sư Phụ nhắc lại để diệt khổ phải có Chánh kiến ngũ uẩn là không, nếu không nhận ra được thì sự tu tập trở thành vô nghĩa.

Ngũ uẩn gồm có thân và tâm. Thân là sắc , tâm là thọ tưởng hành thức. Thân và tâm là nguyên nhân của khổ, khi hết khổ là nhập niết bàn. Mục đích của đường tu là hết khổ là nhập niết bàn, là giải thoát không còn sanh tử, không còn luân hồi.

Để có Chánh kiến ngũ uẩn là không, thì cần phải có trí tuệ Ba La Mật, trí tuệ đến bờ bên kia, trí tuệ giải thoát.
Đức Thế Tôn giảng Tâm Kinh Bát Nhã cho Ngài Xá Lợi Phất về sự, Xá Lợi là biểu trưng trí tuệ, về lý là cho tất cả chúng sanh, tử là hạt giống xá lợi, là giới định tuệ.

Sư Phụ có kể Sư Phụ có dự lễ tang Sư Ông Như Huệ, quan tài rất đẹp, tuy quan tài rất lớn nhưng rất nhẹ so với quan tài ở Việt Nam rất nặng nhân công khuân khó khăn nguy hiểm.

Sư Phụ giảng kế tiếp, Thể mọi pháp đều không.
Thể là ẩn bên trong, tướng là bên ngoài.
Thể có tính bất biến, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm.
Thể là tướng không bên trong của pháp, khi thấy được tướng không của pháp là thấy được pháp do duyên sanh là thấy được chân lý, là thấy được Như Lai, là thể tánh tịnh minh là chân tâm thường trú luôn hằng có bên trong của tất cả chúng sanh vạn loài.

Sư Phụ có nhắc đến thiền sư Động Sơn Lương Giới, Sư Phụ có giảng 10-2020, thuở nhỏ, Sư theo thầy tụng kinh Bát Nhã đến câu “vô nhãn nhĩ tĩ thiệt thân ý”. Sư chợt lấy tay rờ mặt hỏi thầy:
- con có mắt, tai, mũi, lưỡi cớ sao trong kinh nói không?
Ông thầy bảo: - ta chẳng phải thầy của ngươi. Ông gởi Sư đến Ngũ Tiết làm lễ thiền sư Linh Mặc xin xuất gia. Về sau, Sư được tổ Quy Sơn giới thiệu đến thiền sư Vân Nham.
Đến thiền sư Vân Nham, Sư hỏi: vô tình thuyết pháp, người nào được nghe?
Ngài Vân Nham bảo: - vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe.
Sư hỏi: - Hoà Thượng nghe chăng?
Ngài Vân Nham bảo: - ta nếu nghe, người đâu thể được nghe ta thuyết pháp.
Sư thưa: -con vì sao chẳng nghe?
Ngài Vân Nham dựng phất tử, hỏi: - lại nghe chăng?
Sư thưa:-chẳng nghe
Ngài Vân Nham bảo: - ta thuyết pháp mà ngươi chẳng còn nghe huống là vô tình thuyết pháp.
Sư hỏi :- vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì?
Ngài Vân Nham bảo:- Đâu không thấy kinh Di Đà nói: nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm Pháp?
Ngay câu này Sư bèn tỉnh ngộ, làm kệ:
...... Vô tình thuyết pháp bất tư nghì....
Sư thưa: ....như trong đống rác lượm được hòn Ngọc sáng.

Sư khi xuất gia có viết thơ cho mẹ, nếu không thấy đạo thì không về thăm mẹ, xin mẹ xem như đã chết rồi. Sư xuất gia là muốn đền ơn sâu dày của cha mẹ bằng công đức xuất gia. Kinh nói: “một đứa con xuất gia chín họ đều sanh lên cõi trời “.


Sư Phụ giải thích,
không hề có vô minh, không có hết vô minh. Do từ vô minh nên trôi lăn trong sanh tử luân hồi. Khi vô minh diệt thì ái diệt, khổ diệt...không còn tái sanh, đến chỗ rốt ráo. Các pháp tu là phương tiện, là toa thuốc chửa bệnh, bệnh tham chửa bằng bố thí, bệnh sân dùng từ bi nhẫn nhục đối trị, bệnh sân quán tính nhẫn nại...những nghịch cảnh là những thử thách trên đường tu.

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay Sư Phụ ban giảng bài kinh Bát Nhã Ba La Mật rất tỏ rõ giúp chúng con có được chiếc bè qua sông, là linh chú tuyệt đỉnh, có năng lực tiêu trừ tất cả mọi khổ nạn.

Cần thần chú Bát nhã: Yết đế Yết đế, Ba La Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề
Tát bà ha

Nghĩa:

Đi qua, đi qua, qua bờ kia, qua đến bờ kia, vui quá.



Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Cung kính và tri ơn Sư Phụ,
Đệ tử Quảng Tịnh Tâm
(Montréal, Canada).









Vài điều cảm nhận

khi dự thính bài pháp thoại

Tâm Kinh Bát Nhã qua hai ngày  15/7 -16/7/2021

tại Trường Hạ Pháp Hoa . 




Tuy không có đại duyên dành thời gian mười năm để nghiên cứu và diễn giải Tổng Luận như Lão Cư Sĩ Thiện Bửu đã được TT Thích Nguyên Tạng trân trọng giới thiệu trên Trang Nhà Quảng Đức cũng như Tôi chưa hề ao ước rằng mình sẽ có cơ hội đóng góp những nghiên cứu về giáo lý nhất là Kinh Bát Nhã Ba La Mật dù ngay những năm đầu khi bắt đầu trở về toàn thời gian trong ngày cho việc tu học Giáo Pháp của Đức Bổn Sư . ...dường như tôi rất yêu thích bản tâm kinh này .

Trong trí óc nhỏ nhoi , non kém Tôi chỉ biết trước đây đã có rất nhiều học giả danh tăng đã làm công việc ấy rồi nên Tôi chỉ cố gắng ghi chép lại những điều mình cảm nghiệm qua rất nhiều pháp âm từ Đại Lão HT Thích Thanh Từ, Đức HT Tuyên Hoá, Ngài Từ Thông, Minh Sư HT Viên Minh, Đức Ngài Thích Nhất Hạnh ...để rồi đam mê và sung sướng vì dần dần thấy ra được điều chân thật lại rất đơn giản một khi mình .......thường xuyên suy nghiệm lại nội tâm của bản thân mình !

Hôm nay , tại Trường Hạ Pháp Hoa cũng là lần thứ hai ...chỉ trong một năm do đại dịch phong tỏa và giản cách Tôi lại có cơ hội được nghe TT Thích Nguyên Tạng ( lần thứ nhất vào ngày 26/7/2020 về Cốt Tủy Bát Nhã Kinh) trình bày những cô đọng đã được đúc kết qua 260 chữ của Bát Nhã Tâm Kinh



Trộm nghĩ :

Học kinh sách ( ngôn ngữ của Chư Phật) hãy đọc như một người vừa bị mất tất cả trong cuộc sống và bổng nhiên bất thần lại tìm được một kho tàng trân báo vô lượng nằm ngay trước mắt mình ...nhất là khi đọc được trang sách vi diệu của lòng mình và đã tỉnh thức nhờ một lời trong bài pháp thoại .



Kinh điển viết hơn nghìn cuốn sách

Không bằng nói vài lời

Cho người trong cõi mộng

Tỉnh Thức thấy tuyệt vời ...



Tôi đã từng xem đâu đó câu thơ này và chợt nghiệm thấy rất đúng khi nghe lại bài pháp thoại về Tâm Kinh Bát Nhã do TT Thích Nguyên Tạng thuyết giảng lại qua hai buổi tại Trường Hạ Pháp Hoa , lạ kỳ thay dường như những gì của bao năm tiềm tàng ....giờ đã thể hiện rõ ràng hơn, có lẽ .... nhờ Tôi đã giảm bớt rất nhiều trong việc suy diễn mọi việc bằng cái Tưởng của mình !

Đạo vốn thường tự nhiên

Biết tuỳ duyên thuận pháp

Không tạo tác đảo điên

Hồn nhiên sống đạo Thiền

(H T Viên Minh)



Không cần cầu an lạc

Chỉ cần thấy Khổ , Không

Sống vị tha vô ngã

Sinh tử vẫn thong dong

( H T Viên Minh )



Kính xin được ghi nhận với lòng chân thành đa tạ vì quý Ngài đã khai mở cho Tôi thọ nhận được lời dạy của Đức Phật " Cuộc đời là Không Thật " khi Đức Phật đã kết thúc kinh Kim Cang bằng bốn câu kệ rất sâu sắc như sau:



“Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.”

(bài kệ không chỉ hay vì ý nghĩa diệu huyền mà còn nổi tiếng bởi văn từ tinh nhã. )



Dịch nghĩa:

Tất cả pháp hữu vi,

Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

Như sương, như chớp loé,

Hãy quán chiếu như thế



và " Tự Tánh của Vạn Pháp chỉ giống như Hư Không lúc nào cũng thanh tịnh và trong sạch " mà TT Thích Nguyên Tạng đã ngâm lại bài kệ của Ngài Từ Đạo Hạnh .

( Được biết : Sau khi đã ngộ, Ngài Từ Đạo Hạnh có một bài thơ (kệ) Hữu -Không rất nổi tiếng nói về vấn đề bản thể luận và nhận thức luận của mình về vũ trụ: vấn đề hữu / không, to be or not to be


Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không.


Dịch nghĩa:

Bảo có, bụi cát đều có
Bảo không, hết thảy đều khôngt
Có, không ví như nước phản chiếu mặt trăng
Chớ chấp có, phủ nhận không, vì cả hai đều không phải là thực tại tuyệt đối thường hằng



HT Thanh Từ dịch thơ:

Có thì muôn sự có
Không thì tất cả không
Có, không trăng đáy nước
Đừng mắc có cùng không.



( Đây là bài thơ vừa bàn về bản thể luận vừa về nhận thức luận.

Hai câu thơ đầu là một giả thiết: Có thì đến cái nhỏ nhất (hạt bụi) cũng có, mà không thì đến cái lớn nhất (tất thảy) đều là không.

Tiếp đến là một hình ảnh-ẩn dụ “trăng đáy nước” để nói đến vấn đề có, không vì nó vừa là thực vừa là ảo. Nó tùy thuộc vào cái (nhận) “thức” của con người)


Bài thơ chỉ vẹn vẻn 20 chữ mà từ hữu / không được nhắc đi nhắc lại tới 9 lần. Điều này chứng tỏ hữu / không chỉ là tương đối: Một sự chuyển vận, thay thế không ngừng. Đã vậy, đừng mắc vào có và cũng đừng mắc vào không. Hãy cứ sống đi.)



Cũng xin kính được mượn lời của Ni Sư Thích Nữ Trí Hải để nói về chữ Không.:



" Sắc, Không trong Bát nhã là hai khái niệm mà người đời và triết học Tây phương đều cho là hai cực đoan tiêu diệt lẫn nhau, như vật chất và tinh thần, có và không vân vân. Nhưng với cái thấy của Phật thì sắc và không “duyên sinh” lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau, nên không phải là hai chuyện khác nhau, do vậy bài Tâm kinh có câu: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc“, (vật chất chẳng khác chân không, chân không chẳng khác vật chất). Để nhấn mạnh thêm sự “không khác”, câu sau còn nói: “sắc tức thị không, không tức thị sắc“ (Vật chất chính là chân không, chân không chính là vật chất). Có người đưa ra thuyết lượng tử của vật lý hiện đại để chứng minh lời Phật, trích dẫn nhà vật lý David Bohm nói vật chất khi phân tích tới cùng thì thành một cái vừa động vừa tĩnh, chợt biến chợt hiện, khi thì như ánh sáng, khi thì như năng lượng, và cho rằng khám phá này rất gần với thuyết sắc không của nhà Phật. Nhưng ta không cần đợi khám phá khoa học mới thấy “Sắc, không” vốn đi liền nhau không rời.

Thực tế ta không bao giờ nói “không” về một cái chưa từng có, ví dụ ta chỉ nói “hôm nay trời không mây” chứ không nói “đất không mây”, vì mây chỉ có ở trên trời. Như vậy, có ở đâu thì không ở đấy. Một người ham sách thì than phiền “lâu nay tôi không có sách đọc”, người ham tiền sẽ nói “lâu nay tôi không làm ra tiền”. Bởi thế, mỗi cái không nói lên một cái có khác nhau.

Không mà Phật dạy trong Bát nhã được gọi là Chân không vì nó không tất cả những cái có theo tiêu chuẩn phàm phu chúng ta đã nói trên, nhưng từ Chân không đó mà có tất cả mọi sự từ vật chất đến tinh thần. Chân không ấy có những đặc tính là: trước hết, nó luôn luôn đi liền, tàng ẩn trong mọi sự vật. Đặc tính thứ hai là nó không biến đổi, sinh diệt như sự vật. Đặc tính thứ ba và cuối cùng, là nó vượt ngoài mọi khái niệm mô tả của chúng ta như sạch dơ, to nhỏ, nhiều ít, v.v.."



Và như thế ....kính mời các bạn cùng tôi ghi lại những gì đã thu thập qua âm hưởng bài giảng về TÂM KINH BÁT NHÃ các bạn nhé ...

Trong lời mở đầu Giảng Sư đã giới thiệu Bộ Kinh Bát Nhã gồm 5 tập với 100 phẩm và 5 triệu chữ đã ghi lại những gì trong suốt 22 năm được Đức Phật khai thị và đã được dịch từ Phạn sang Hán ngữ với tài biên dịch của Ngài Cưu Ma La Thập, Pháp Sư Tam Tạng Ngài Huyền Trang .

Riêng HT Thích Trí Nghiêm với bản Hán Ngữ của Ngài Huyền Trang đã dịch ra Việt Ngữ trên 25 tập và đã được phổ biến tại hải ngoại và quê nhà từ 2005 , nhân dịp này Giảng Sư cũng tán thán công đức của những đạo hữu đã cộng tác trên trang nhà Quảng Đức như bạn Quảng Thiện Duyên Hoàng Lan nhiều tháng trời layout và Sư Huynh Chánh Trí Khưu văn Nghĩa diễn đọc qua MP3 ròng rã nhiều năm liền để cống hiến cho đại chúng mà quý đạo hữu này tôi đã từng diện kiến, hoặc chung một đạo tràng !



Qua lời Giảng Sư mà chúng ta cũng biết được các Thiền viện của HT Thích Thanh Từ trong các thời công phu sau rốt là Tụng Bát Nhã Tâm Kinh vì đây là một đoạn văn thật cô đọng gồm 260 chữ nhưng nói lên hết tinh yếu về Thực Tại tiêu biểu của Vạn Pháp

" Tất cả đều Vô Tự Tánh và Vô Tướng " nhờ có được Trí Tuệ Bát Nhã mới quán chiếu được Ngũ Uẩn, 18 giới, duyên sinh , vô minh đều không thật có ...để rồi Tâm hành giả sẽ không còn bị ngăn ngại bởi sợ hãi, điên đảo mộng tưởng và sẽ thành tựu Vô Thượng Niết Bàn ( đáo bỉ ngạn ) qua đến bờ bên kia BA LA MẬT ( hoàn bị tuyệt đỉnh )



Cũng như các Học giả và các Giảng Sư danh tiếng đã chỉ dạy Bài kinh 260 chữ này lại Chủ Yếu và Nòng cốt nhất chỉ trong những câu đầu tiên như sau :

"QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA, THỜI CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG ..ĐỘ NHẤT THIẾT KHỔ ÁCH

SẮC BẤT DỊ KHÔNG , KHÔNG BẤT DỊ SẮC , SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC ..Thọ , Tưởng, Hành, Thức ....diệt phục như thị "

Và giờ pháp thoại đầu tiên của ngày 15/7 /2021 được giải thích một cách chu đáo và tôi rất tâm đắc vì đã nhận ra bao năm tu học về Duy Thức cuối cùng đã nhận ra được sự tương tác của Căn trần thức tạo thành một chuỗi do 51 b Tâm Sở là ) làm nền tảng phát sinh ta sự vận hành của Ngũ Uẩn , mà con người là sản phẩm của Ngũ Uẩn này


Chợt liên tưởng đến lời dạy của Cổ Đức " Đạo là duyên cho người chí thành - Muốn cầu được Đạo thì phải hiểu Đạo nhưng Đạo không phải do Cầu mà chỉ cần có thời gian để gột rửa tất cả mọi kiến chấp do vọng tưởng đảo điên- .TÂM TA BAO LA TRÙM KHẮP TRONG CHÂN KHÔNG , mọi hiện tượng hình tướng trong chân không đều là pháp hữu vi, vì thế TÂM TA KHÔNG LAY ĐỘNG "



Nào hãy cùng đi vào từng chữ trong đoạn trên với Giảng Sư bạn nhé ,

QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT ( dù Quán Tự Tại thường được xem là biểu tượng của Đức Quan Thế Âm về Sự nhưng về Lý đã bao hàm một ý nghĩa khác

QUÁN là soi chiếu

TỰ TẠI là trọn vẹn với chính mình , thong dong với cái hiện hữu ở đây và bây giờ

HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA ( đã đạt tới cái trí tuệ để thấy được cốt lõi mà Đức Phật muốn khai thị cho chúng sinh ) và thấy được cái Diệu Hữu trong Chân Không . Cũng được Giảng Sư giải thích Bát Nhã tường tận qua 3 nghĩa : Văn Tự Bát Nhã - Chiếu Kiến Bát Nhã - Thực Tướng Bát Nhã )

THỜI CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG ( chính là lấy Cái Trí Tuệ thâm sâu, này mà chiêm nghiệm và soi rọi lại thì liền thấy Ngũ Uẩn giai không có nghĩa là tất Cả đều đo tâm sở hành điều động, chi phối, vẽ vời thêm thắt và đó cũng chỉ là Ảo tưởng vọng động biến kế sở chấp tạo ra

Nên nhớ Ngũ Uẩn gồm ( SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC ) mà Ngũ uẩn là sản phẩm của gen đi truyền từ cha mẹ kèm theo nghiệp thức của mình đi theo với A lại Da Chính những chủng tử vô minh có trong A lại Da thức đã làm che khuất TÁNH GIÁC của mình .

Lại nữa

- Sắc cấu tạo bởi Đất , Nước, Gió , Lửa hình thành tấm thân hình tướng này

-Thọ là những cảm giác nhận được như vui , buồn khi các cơ quan tiếp xúc với cảnh bên ngoài .

Đây là một cảm nhận thể hiện phát sanh hoàn toàn tự nhiên nhưng chúng ta lại cảm thấy qua lập trường quan niệm ý chí chẳng hạn như khi mắt thấy ánh đèn chói quá ta cảm thấy khó chịu , cái khó chịu ấy không đến từ con mắt ...mà do nơi mình cảm thấy mắt đau ...đó là Khổ thọ . Thọ có lạc thọ , khổ thọ và xả thọ

Tưởng (Tri giác , cái biết của các giác quan mắt tai, mũi , lưỡi, thân ý) nhưng phần lớn đều do vọng tưởng

Hành ( Tâm hành ) qua sự hành động của Tâm theo sự điều khiển của 51 tâm sở :

5 tâm sở biến hành ( Xúc, Tác, Thọ, Tưởng, Tư )

5 tâm sở biệt cảnh ( Dục , Thắng Giải, Niệm. định, Tuệ, )

11 tâm sở Thiện ( Tín, Tàm, Quý, Vô tham, Vô sân, Vô si, tính tấn, khinh an, bất phóng dật,hành xả , bất hại )

6 Căn bản phiền não ( Tham, Sân, Si, Mạn Nghi, Kiến

20 Tuỳ phiền não ( Phẩn, Hận , Phú, Não, Tật, Xan, Cuống, Xiểm, Hại Kiêu, Vô Tàm, Vô quý, Trạo cử, Hôn trầm, giải đãi, bất tín, phóng dật, thất niệm tán loạn, bất chánh tri)

4 tâm sở bất định ( Hối, Miên, Tầm, Tứ,

Như vậy Hành là Nhân chính tạo ra ngũ uẩn mới tạo ra vòng luân hồi sinh tử !

Thức ( cái biết, sự phân biệt điều hành qua 8 Thức Tâm vương ( Tiền ngũ thức : nhãn thức. Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức- Ý thức- Mạt Na Thức - A lại Da thức )



ĐỘ NHẤT THIẾT KHỔ ÁCH

Sở dĩ có Khổ là do Mạt na thức chấp vào cái Tôi, cái của Tôi vv.v dù trong Khổ Đế có 8 cái khổ của sinh linh hiện hữu . ( Sinh , già , bịnh chết là khổ Ái biệt ly là khổ , oán thắng hội khổ, cầu bất đắc khổ và ngũ uẩn xí thanh khổ )

Vì vậy khi chưa thấy được cái hoàn hảo trong sự bất toàn tức là trong tâm vẫn còn cho là , phải là , sẽ là....thì còn khổ đau phiền muộn

Phật đã khai thị cho chúng ta như thế , nếu ta có được cái trí tuệ bát nhã thì sẽ hoàn toàn giải thoát mọi vướng mắc khổ đau ( KHỔ ÁCH do khổ khổ , hoại khổ , hành khổ) .

Hãy như Ngài Thái Hư tìm được chiếc thuyền bát nhã ( văn tự bát nhã ) mà không chịu cố gắng ra sức chèo ( Chiếu kiến bát nhã ) thì mãi mãi không bao giờ đến được bờ kia ...

Chịu Khổ để thấy Khổ

Thấy khổ mới biết tu

Nếu chưa thấy Khổ đế

Sống một đời như mù

( HT Viên Minh )



Bài viết tạm kết thúc và sẽ ghi tiếp vào ngày sau 17/7 /2021

Huệ Hương

Melbourne 16/7/2021



Bài viết tiếp tục ghi lại sau buổi pháp thoại tối 16/7/2021

Như đã được giới thiệu trong ngày đầu , Giảng Sư lại nhắc nhở với chúng đệ tử lại một lần nữa rằng : Cấu trúc của bài Bát-nhã Tâm Kinh, trong vòng 260 chữ, mà nội dung và giá trị trị liệu của kinh rất cao sâu.

Người học kinh Phật theo phương tiên phải tự mình suy ngẫm về Sự và Lý trong từng mỗi chữ mỗi câu vì Giá trị của Tâm Kinh rất sâu sắc, càng ngắn gọn chừng nào thì lại càng khó ngần ấy về phương diện văn học và triết lý.

Đừng bao giờ đặt ra với tham vọng quá lớn là chứng đắc được những điều mà bản kinh hàm chứa, nhưng ít ra, học tập, nghiên cứu, suy tư Tâm Kinh phải là một ước nguyện rất chân thành.

Ta hiểu Tâm Kinh ở góc độ tương đối với chiều sâu và việc sử dụng sự hiểu biết ấy ở phương diện nào là có giá trị ở phương diện ấy. Chừng đó thôi cũng đã cảm thấy thỏa mãn lắm rồi cho người sơ tâm đi vào Phật Pháp.

Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị nghĩa là sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

- Sở dĩ nói “sắc tức thị không, không tức thị sắc" vì nhiều người tưởng không là không có gì hết, nhưng không ở đây chính là "đương xứ tức không" hay "cái đang là". “Không” có nhiều thứ:

+ Cái không do vô thường,

+ Cái không do sinh diệt,

+ Cái không do duyên giả hợp.

+ Cái không do “nó như nó đang là" (không phải do tưởng là, cho là, muốn phải là và mong sẽ là... Tưởng tạo ra tướng, nên gọi là tướng do tưởng sinh. Trên thực tế thì “thực tướng vô tướng” nên mới gọi là “đương xứ tức không”. Nhìn thấy một vật như nó đang là, tức trả nó về cho chính nó, chứ không qua tưởng của mình. Khi không bị tưởng dánh lừa thì mới thấy đúng thực tánh của pháp).

+ Cái không cuối cùng là do Tâm rỗng lặng trong sáng. (Đức Phật dạy "Khi Tâm thanh tịnh thì thấy các Pháp đều thanh tịnh". Nói cách khác, khi Tâm “không” thấy các pháp cũng “không”, đồng thời cũng thấy pháp "như nó đang là" tức không mà có, có mà không.

Thành ra không mà có, có mà không là vậy.



Giảng sư đã minh chứng bản thân Giảng Sư nghiệm được lẽ này khi tiễn đưa linh cửu của Sư Ông Thích Như Huệ đến lò hỏa táng chỉ vài phút thôi.... hình hài Sư Ông đã thành tro cốt .



Lạ kỳ thay bài học mà Sư Phụ Viên Minh tôi từng giảng lại phù hợp ngay tại lúc này khiến tôi vội vàng giở lại cẩm nang mình ghi lại ...mời các bạn cùng xem nhé !

Tuy nói sắc không có tướng (chủ quan) mà vẫn có thực tướng (khách quan), vì vậy mới nói “thực tướng vô tướng”.

Ví dụ một người ghiền thuốc thì điếu thuốc có đối với y. Người không hút thuốc thì điếu thuốc không đối với y dù điếu thuốc vẫn có đó. Nhưng đối với người ghiền, cái có của điếu thuốc thực ra không phải là những gì mà điếu thuốc thật sự có. Cái có của y chỉ là kết quả của tiến trình phức tạp tâm - sinh - vật lý chủ quan diễn ra nơi y.

Như vậy, sắc ấy không khác không, sắc ấy là không. Sắc ấy rõ ràng là không tướng, chỉ có ảo tướng chủ quan do anh dựng lên làm anh đau khổ, não phiền mà thôi.

Vậy có hai cái có và hai cái không.

Hai cái có là:

- Một cái có của thế giới khách quan tự nhiên do duyên khởi hay y tha khởi.

- Một cái có thuộc thế giới chủ quan do tâm lý tạo tác (hữu tướng).

Hai cái không cũng vậy:

- Một cái không tức là không có, không hiện hữu.

- Một cái không là không hình thành bởi thế giới ý tưởng chủ quan (vô tướng). Nếu cái không này do trí tuệ soi thấy thì đây chính là cái không bát-nhã.



Cái chính của thấy "không", như trong kinh Bát Nhã “chiếu kiến ngũ uẩn giai không". Ngũ uẩn giai không mà vẫn có, nên nói "sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc" là vậy. Do đó, trong tu hành thấy ra sự thật là chính, còn mọi sự mọi vật có hay không chỉ tuỳ duyên mà nói

Vậy quán không là thấy ra cái không có tướng ý niệm

Đó là sắc không. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều không như vậy theo nguyên lý:

Thực tướng = vô tướng

(sắc, thọ, tưởng, hành, thức) (không)



Và cứ như thế Giảng Sư đã tiếp tục :



* Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng: Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm



Phật gọi tên Ngài Xá Lợi Phất vì Ngài đại diện cho Trí Tuệ bậc nhất trong Tăng Đoàn Đức Phật , nhưng về Lý chúng ta cũng phải hiểu ngầm rằng , một khi chủng tử mình đã trong sáng thanh tịnh như Ngọc Xá Lợi ( Relics ) thì ta sẽ có trí tuệ để nhận được điều sẽ được Phật dạy về chân lý rằng "Trong thực tướng hay không tướng thì không có ý niệm sanh, diệt, cấu, tịnh, tăng, giảm. Có vô minh, ái dục mới có tưởng-hành tạo tác, có tạo tác thì có tướng sinh-diệt, cấu-tịnh, tăng-giảm theo tâm lý chủ quan. "



* Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới: cho nên trong không không có ý niệmvề 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức ), về 18 giới (6 căn + 6 trần + 6 thức). Khi tuệ không quán chiếu thì tất cả pháp này đều được trả về bản nguyên “thực tướng vô tướng” của chúng. Cho nên, ở đây chữ “vô”không có nghĩa phủ định tiêu cực “không có” mà phủ định này chính là xác định: “Đương xứ tức không” vì chân không chính là diệu hữu. Vậy vô có nghĩa là “pháp trụ pháp vị”,

TT Nguyên Tạng đã lồng vào vài thí dụ về sự chứng ngộ của Ngài Động Sơn và chỉ cho ta chiêm nghiệm "Tướng không của pháp vượt ngoài ý niệm sinh diệt, sống chết, nhưng vẫn có thực tánh sinh diệt, vì đó là bản chất của pháp hữu vi mà Dịch Lý gọi là “sinh sinh chi vị dịch”. Cho nên con người có sinh thì đương nhiên có chết.

Chỉ có pháp vô vi mới thực sự không sinh không diệt, nhưng vì không sinh nên không diệt "

“Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không”.



Đừng như Người đi chùa một thời gian chỉ chấp không thì sẽ thê thê , thảm thảm

Thà chấp có như núi tu đi .....và sau đó để thấy KHÔNG ở đây không có nghĩa là trường tồn bất biến theo ý niệm thời gian của thường kiến luận.

* Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, vô lão tử, diệc vô lão tử tận: trong không không có vô minh cũng không có chuyện chấm dứt vô minh. Không có lão tử cũng không có hết lão tử, tức không có 12 nhân duyên



Ở đây Phật đã phá luôn các pháp tu vô minh trong thập nhị nhân duyên do nó , từ nó mà có

Thiền sư Vĩnh Gia nói:

“ Vô minh thực tánh tức Phật tánh

Huyễn hoá không thân tức Pháp thân”.

Phật tánh chính là tánh giác, tánh biết trung thực không mê. Xưa nay tánh biết ấy chỉ có một, không hai, nhưng khi mê gọi là vô minh, khi giác gọi là tánh giác hay Phật tánh. Khi giác thì té ra đâu có vô minh, mà đã không có vô minh thực sự hiện hữu thì làm chi có chuyện hết vô minh, vô minh chỉ là huyễn thuật, ảo hoá thôi mà.

Tuy vậy, đối với chúng sinh, vô minh quả thật là kinh khiếp. Nó tạo ra tam giới, tạo ra ba cõi sáu đường, tạo ra thiên đàng, địa ngục. Nó tạo ra chuỗi dài vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu… trong luân hồi sinh tử.

Và ta từng đã học " Người mà thấy Pháp duyên khởi là thấy được Chân Lý , là thấy Như Lai" ( thể tính tịnh minh )

* Vô Khổ Tập Diệt Đạo, vô trí diệc vô đắc: chúng ta sống trong thế giới ảo hoá của vô minh (Tập đế) nên thấy có luân hồi sinh tử (Khổ đế).

Khi trí tuệ soi thấy vô minh không thật có thì Tập đế cũng chỉ là ảo hóa của hành, không thật có. Nói cách khác, không có vô minh – hành thì toàn bộ tập khởi sinh tử của Tập đế không có, do đó không có phiền não khổ đau: Khổ đế chỉ là những ảo giác không thực. Đạo đế rốt ráo chính là trí tuệ này và Diệt đế chính là cái không của vô minh – hành



Như đã nói trên từ những bài giảng của Sư Phụ Viên Minh tôi có nhiều điểm phù hợp với lời giảng của Thầy hôm nay nên dường như cảm nhận lần này lại có nhiều trùng hợp quá ...như thí dụ sau

Ví như người ghiền rượu (tập đế) chịu bệnh tật (khổ đế), khi cố gắng cai rượu (đạo đế) để hết ghiền, hết bệnh (diệt đế). Nhưng với người không ghiền rượu (vô tập) thì cũng không có bệnh do rượu gây ra (vô khổ), không cần phải cai (vô đạo) và không ghiền nên không cần hết ghiền (vô diệt)

" Tuy nhiên còn chúng sinh là còn Tứ Đế. Khi đã hoàn toàn giác ngộ giải thoát thì chẳng có khổ, tập, diệt, đạo gì cả.

Tứ Thánh Đế chỉ có đối với chúng sinh, chứ không phải đối với các bậc đã hoàn toàn Giác Ngộ."

- Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đoả y Bát Nhã Ba-La-Mật Đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn: Tâm có ngăn ngại là tâm còn có ranh giới vì còn cái Ngã, còn giới hạn hay là khi còn có Ý thức thì còn phân biệt còn ngăn ngại. Còn bây giờ tâm Bồ Tát hoàn toàn ở chỗ Như Như bất động nên không còn ngăn ngại chướng ngại gì hết. Đây là một người vẫn còn sống trong cuộc đời cũng gặp nhiều cảnh trái ngang không vừa ý, nhưng đối với người ở trong Tâm Như rồi thì tất cả đều thông suốt đều êm xuôi, không có gì ngăn ngại bước đường tu tập của họ.

Tâm không còn chướng ngại nên không còn sợ hãi. Đối với người đời khó có ai nói là mình không sợ gì hết. Thực sự, chúng ta sợ đủ thứ, trong đó sợ chết là cái sợ kinh khủng nhất. Bây giờ tu tập rồi mình cũng bớt lo, bớt sợ, bằng cách phải tỉnh thức, phải có Trí tuệ hiểu tất cả bản thể đều trống không. Khi mình không tác ý, thì mình không nói đó là chết, đó là sinh, đó là già. Khi mình tác ý ra, mình gán cho cái tên, từ cái tên đó mình mới sợ.

Bằng Trí tuệ, cái gì mình cũng thấy đó là quy luật khách quan, muốn hay không đều phải chịu, và khi mình hiểu bằng Trí tuệ thì mình không khổ, không sợ, thì đó là mình đã thoát ra khỏi quy luật sinh tử rồi. Khi không còn sợ hãi nữa thì "xa rời mộng tưởng", mình sợ là tại vì mình mộng tưởng, tưởng tượng thôi. Có nhiều khi nỗi sợ của mình không có thật mà mình cứ tưởng ra hay vẽ ra để mình sợ hãi. Nên khi tu tập có Trí tuệ mình sẽ vượt qua cái sợ tức là Vô uý. Khi không tác ý, tưởng tượng vẽ vời hay tác ý về những hiện tượng thế gian, lúc đó không còn xử dụng tâm thế gian nữa mà mình đang ở chỗ Tâm Như rồi thì gọi là Niết Bàn.

Cứu cánh là ở chỗ cuối cùng mình chứng nghiệm được trạng thái tâm vắng lặng, tịch diệt gọi là Niết Bàn, cho nên trạng thái Niết Bàn chính là trạng thái Tâm Như, Như Như bất động. Khi còn sống gọi là Hữu Dư Y Niết bàn. Khi ra đi không còn thân nữa thì gọi là Vô Dư Y Niết Bàn. Như vậy mình hiểu Niết Bàn không phải là nơi chốn nào xa xôi, nó là trạng thái Tâm Như của mình thôi.

Giảng sư đã mượn lời Sư Ông Làng Mai để giải thích chữ Diệu Tâm trang Pháp Hoa đè cương của thiền Sư Thanh Đàm như sau :

Diệu Tâm là Chân Tâm sáng suốt tròn đầy , Chân Tâm này không thể đạt tới bằng suy tư hay bàn luận

- Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-Bồ-Đề: A-nậu-đa-la Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề phiên âm từ Anuttara-Sammà-Sambodhi. Có ý nghĩa là Vô Thượng Chánh đẳng giác (sự giác ngộ không ai hơn). Bodhi là Giác ngộ, là Bồ đề, tức là quả vị Phật, mà Đức Phật tự xưng mình là Như Lai (Tathàgata). Do danh xưng Tathàgata, chúng ta biết rằng, muốn đạt được quả vị toàn giác phải đi qua Tâm Như, phải kinh nghiệm Tâm Như, và từ đó các vị Tổ thuộc hệ Phát Triển chủ trương mười phương thế giới chư Phật, đồng thời các vị Phật đều có danh hiệu Như Lai. Qua câu này mình biết phần quan trọng của bài kinh là nói đến Chân Như.

Tam thế chư Phật là Phật đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều y theo Trí tuệ siêu vượt này đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.

- Cố tri Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư: Như vậy phải biết Trí tuệ kiện toàn này giống như mật ngôn vĩ đại nhất, sáng suốt nhất, cao thượng nhất, không có cái nào cao hơn. Nó trừ tất cả mọi thứ khổ trong đời, và nó là cái thực tại tối hậu không hư dối.



Như vậy bài Bát Nhã Tâm Kinh muốn nói đến 2 chủ đề lớn là Không và Chân Như. Chủ đề Không đưa đến thoát khổ. Chủ đề Chân Như đưa tới Trí tuệ kiện toàn. Đó là căn cứ nơi sự kiện lịch sử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đã chứng ngộ cái Chân Như đó, Trí tuệ phát sinh giải thích tất cả những bí ẩn thầm lặng của con người và vũ trụ.

Còn đoạn cuối cùng với câu thần chú, thật ra cũng không phải là thần chú, đó chỉ là một câu tiếng Pàli bày tỏ niềm vui tán thán của người đã đạt được sự giác ngộ, đã tới được bến bờ bên kia: "Gate Gate paragate parasangate Bodhi svara" , chỉ vì câu này viết sau mấy chữ thần chú... nên vô tình người ta tưởng nó huyền bí, chứ nó không có ý nghĩa huyền bí, vì chỉ có nghĩa rằng " Đã tới rồi, đã tới rồi, tới bờ bên kia, bờ Giác ngộ rồi, Vui quá !



Lời kết

Con đường tâm linh là một con đường dài thăm thẳm, đi từng bước, đòi hỏi nhiều điều kiện. Chúng ta còn ở "bờ bên này", điều kiện đầu tiên là tỉnh ngộ để hướng cuộc đời đi vào ngã tâm linh. Tỉnh ngộ là sức mạnh quyết định mục tiêu mình sẽ đến, nhưng phải có quyết tâm để không chùn bước bỏ cuộc trên đường đi.

Đọc Tâm kinh chúng ta thấy các vị Tổ đã trình bày ngay cái chỗ cuối cùng, ngay nơi đến của người tu tức là trong trạng thái Tâm Không và Tâm Như. Hai trạng thái cùng giống nhau ở chỗ. là chỗ không lời.

Tâm này là nguồn gốc của Chư Phật mà cũng là Phật Tánh của chúng ta ( nguyên không có tướng trạng như hư không mà từ đó mọi tướng trạng đều có thể xuất hiện )Tâm vốn là Chân Không là biển Giác là Mẹ trí tuệ của tất cả Như Lai



Kính đa tạ Giảng Sư trong nhiều năm đã nuôi một hoài bảo làm sao cho hàng chúng đệ tử nắm được cốt lõi bài kinh mà chư Tổ muốn gửi gắm cho hàng hậu học và từ đó rút ra bài học chính của bài kinh này để tu tập chứ đừng đã leo được lên thuyền có mái chèo mà vẫn thụ động nhìn trời mây quên mất việc phải chèo thuyền để về bến !

Kính xin mượn vài dòng thơ để cúng dường đến đại chúng và cung kính đáp lại hai bài hát thâm trầm thi vị , ý nghĩa mà Giảng Sư đã hát tặng đại chúng " TRĂNG RẰM THÁNG TƯ " và " NỖI BUỒN VU LAN "



Kính đa tạ Giảng Sư với hai giờ pháp thoại

Hoan hỷ ngập tràn theo bài pháp chuyên sâu

Cốt lõi để tìm đến bờ giác nhiệm mầu

Phước duyên nào ...giữa kiếp đời ngũ trược?



Phải chăng dù hoàn cảnh nào...

...ý chí quyết tâm là được !

Lại nương nhờ Giáo Hội chăm sóc lưu tâm

Giúp hàng hậu học từng ao ước nguyện thầm

Tự mình đốt đuốc theo dấu chân Bậc Đại Giác !



Thế kỷ hiện đại xuất hiện nhiều anh tài uyên bác !

Xứng với danh tên Trưởng Tử Như Lai

Yếu nghĩa Bát Nhã sâu sắc được triển khai

Nhận ra rồi.....

... thăng trầm cuộc đời không còn vướng mắc !




Kính tán thán Ngọc Ma Ni nơi Giảng Sư trong vắt !

Nhưng ánh chiếu ...rọi đến tâm người thính văn

Mầu nhiệm thay ảnh hưởng tác dụng như thần

Sách tấn ....

được hành giả Tu Đạo liễu thông đạt Chân lý !




Lời ...không diễn tả được sự ngưỡng phục trong ý!

Kính chúc Quý Giảng Sư pháp thể khinh an

Gieo rắc ... Đức Đạo Sư lời kinh giáo, pháp vàng

Chiếu kiến được Thực Tướng Bát Nhã, thuyền về Bến !!!!


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát .

Huệ Hương 

Melbourne 17/7/2021




facebook-1



***
youtube

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/07/202110:05(Xem: 678)
Kính dâng Thầy bài thơ trình pháp tóm tắt những gì con đã nghe và thu nhận được qua bài pháp thoại và mục vấn đáp tuyệt vời hôm nay để từ đó chúng đệ tử biết được thêm Thầy đã lãnh hội được từ Sư Ông Thích Như Ý, Sư Phụ Chơn Kiến và Sư Huynh Thích Tâm Hải về Quy Sơn Cảnh Sách và lại được hữu duyên cùng Cố Hội Chủ GHPGVNTN tại hải ngoại Úc và Tân Tây Lan -Thích Như Huệ trà đạo mỗi buổi sáng mà nhắc lại từng ý nghĩa câu văn trong Quy Sơn Cảnh Sách . Kính đảnh lễ Thầy, kính tán dương công Đức và kính tri ân Thầy, HH
31/07/202111:25(Xem: 535)
Chủ đề: Thiền Sư Thảo Đường, Sơ Tổ Thiền Phái Thảo Đường tại VN Đây là Thời Pháp Thoại thứ 266 của TT Nguyên Tạng từ 6.45am, Thứ Bảy, 31/07/2021 (22/06/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 04:45pm (giờ Montreal, Canada) - 10:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com/channel/UCxfUXUxU65FtOjrehu9zMMw Facebook: https://www.facebook.com/ThichNguyenTang/ https://www.facebook.com/quangducwebsite Website: https://quangduc.com Tel: 03. 9357 3544 Email: quangduc@quangduc.com
29/07/202109:47(Xem: 662)
Chủ đề: Thiền Sư Thiền Lão (Đời thứ 6, dòng Vô Ngôn Thông) Đây là Thời Pháp Thoại thứ 265 của TT Nguyên Tạng từ 6.45am, Thứ Năm, 29/07/2021 (20/06/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 04:45pm (giờ Montreal, Canada) - 10:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com/channel/UCxfUXUxU65FtOjrehu9zMMw Facebook: https://www.facebook.com/ThichNguyenTang/ https://www.facebook.com/quangducwebsite Website: https://quangduc.com Tel: 03. 9357 3544 Email: quangduc@quangduc.com
03/01/201915:37(Xem: 3011)
Cư sĩ Nguyên Giác vừa cho xuất bản cuốn Kinh Nhật Tụng Sơ Thời mà theo sự nghiên cứu của các học giả đây là những lời dạy (kinh ) cổ xưa nhất của Đức Phật được các đệ tử ghi lại bằng thơ và học thuộc lòng vì lúc đó chưa có chữ viết. Theo Thư Viện Hoa Sen, căn cứ vào các nguồn sử liệu Tích Lan, thì những lời dạy của Ngài được viết thành văn vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch để hình thành kinh điển Pali. Tác giả dẫn chứng kinh điển này có thực khi “Trong Kinh Sona Sutta (Kinh Ud 5.6), có nói về Kinh Nhật Tụng 16 Chương mà ngài Sona đọc, khi được Đức Phật yêu cầu đọc Phật Pháp, trích dịch: “Đức Thế Tôn mời Thượng tọa Maha Sona, và nói, "Tỳ khưu, tôi muốn ông đọc lên Chánh Pháp. Xin vâng lời, Thượng tọa Maha Sona đọc toàn bộ 16 chương Atthaka Vagga.” Bản Anh dịch Kinh Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya Chương 005. Mahāyaññavaggo, Kinh 5.10 Nandamātāsuttaṃ) của Ni Trưởng Sister Upalavanna cũng có một kinh ghi rằng nữ cư sĩ Velukantaki Nanda mỗi rạng sáng đều tụng đọc lớn tiếng nhóm 16 k
27/12/202018:29(Xem: 1872)
11.Tổ Phú-Na-Dạ-Xa ( Punyayasas ) 💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Chủ Nhật, 13/09/2020 (26/07/Canh Tý) Mê ngộ như ẩn hiển, Minh ám bất tương ly, Kim phó ẩn hiển pháp, Phi nhất diệc phi nhị . Mê ngộ như ẩn hiện, Tối sáng chẳng rời nhau, Nay trao pháp ẩn hiện, Chẳng một cũng chẳng hai . Nam Mô Đệ Thập Nhất Tổ Phú Na Dạ Xa Tôn Sư 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼 Múi giờ : pháp thoại mỗi ngày của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am ( giờ Melbourne, Australia) - 01:45pm (giờ Cali, USA) - 04:45pm (giờ Montreal, Canada) - 10:45pm (giờ Paris, France) - 03:45am (giờ Saigon, Vietnam) 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 https://www.facebook.com/quangducwebsite
04/12/202009:22(Xem: 1627)
39/Thiền Sư Tào Sơn Bổn Tịch (840-901) (Vị Tổ Thứ Hai của Thiền Phái Tào Động) Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng từ 6.45am, Thứ Sáu, 16/10/2020 (30/08/Canh Tý): 🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻 Khô mộc long ngâm chân kiến đạo Độc lâu vô thức nhãn sơ minh. Hỉ thức tận thời tiêu tức tận Đương nhân na biện trọc trung thanh. Cây khô rồng ngâm thật thấy đạo Đầu lâu không thức mắt rạng ngời. Hỉ thức hết thời tin tức lặng Người này đâu biện đục trong trong. (Bài kệ của Thiền Sư Bổn Tịch do HT Thanh Từ dịch) 💐🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌼🌺🍀💐🌼 Múi giờ : pháp thoại mỗi ngày của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 03:45pm (giờ Montreal, Canada) - 09:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 https://www.facebook.com/quangducwebsite
11/12/202019:18(Xem: 2060)
TÔN GIẢ MA HA CA DIẾP, ĐỆ NHẤT ĐẦU ĐÀ 💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌷🌸🏵️🌻 🌷🌸🏵️ Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Chủ Nhật, 30/08/2020 (12/07/Canh Tý) Đức tướng đoan nghiêm như kim tụ Đầu đà khổ hạnh tự chung thân Thân truyền Như Lai chánh pháp nhãn Kê túc sơn trung đãi Từ Tôn. Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đầu Đà Đệ Nhất Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả Đức tướng đoan nghiêm sáng như vàng Suốt một đời khổ hạnh đầu đà Thế Tôn thân truyền chánh pháp nhãn Trong núi Kê-túc đợi Từ Tôn Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đầu Đà Đệ Nhất Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼 Thời pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về 10 vị đại đệ tử Phật và chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam… 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 https://www.facebook.com/quangducwebsite
17/12/202020:42(Xem: 1696)
TÔN GIẢ A NAN , ĐỆ NHẤT ĐA VĂN 💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Năm 03/09/2020 (16/07/Canh Tý) Đa văn chúng trung xưng đệ nhất Chứng đạo thân ly tứ oai nghi Kiết tập Như Lai chánh pháp tạng Vĩnh tác nhơn thiên độ thế sư. Nam Mô Đa Văn Đệ Nhất Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả. Nghe nhiều nhớ kĩ nhất tăng đoàn Chứng đạo tự như bốn oai nghi Kết tập Tạng Kinh không thiếu sót Vĩnh viễn làm Thầy độ nhân thiên Nam Mô Đa Văn Đệ Nhất Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả. 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼 Thời pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về 10 vị đại đệ tử Phật và chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam… 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃
17/12/202015:42(Xem: 1789)
ĐỆ TAM TỔ : THƯƠNG NA HÒA TU 💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ bảy, 05/09/2020 (18/07/Canh Tý) Thông đạt phi bỉ thử Chí thánh vô trường đoản Nhữ trừ khinh mạn ý Tất đắc A-La-Hán. Dịch : Thông suốt không kia đây Chí thánh không hay dở Ngươi trừ tâm khinh mạn Chóng được A-La-Hán. Nhất Tâm Đảnh Lễ Nam Mô Thương Na Hòa Tu Đệ Tam Tổ Sư 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼 Thời pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về 10 vị đại đệ tử Phật và chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam… 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 https://www.facebook.com/quangducwebsite Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com/channel/UCxfU...
06/01/202120:14(Xem: 1513)
14. Tổ Ca Na Đề Bà (Kanadeva) 💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Năm, 17/09/2020 (01/08/Canh Tý) Bổn đối truyền pháp nhơn, Vị thuyết giải thoát lý, Ư pháp thật vô chứng, Vô chung diệc vô thủy. Xưa đối người truyền pháp, Vì nói lý giải thoát, Nơi pháp thật không chứng, Không chung cũng không thủy. Nam Mô Đệ Thập Ngũ Tổ Ca Na Đề Bà Tôn Sư 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼 Múi giờ : pháp thoại mỗi ngày của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 01:45pm (giờ Cali, USA) - 04:45pm (giờ Montreal, Canada) - 10:45pm (giờ Paris, France) - 03:45am (giờ Saigon, Vietnam) 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 https://www.facebook.com/quangducwebsite