Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch Dành cả đời để Bảo vệ Nhân quyền, Hòa bình và Môi trường

16/04/202018:45(Xem: 619)
Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch Dành cả đời để Bảo vệ Nhân quyền, Hòa bình và Môi trường

Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch Dành cả đời để Bảo vệ Nhân quyền, Hòa bình và Môi trường

 Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch 1

 

Trưởng Cư sĩ Richard Reoch là cựu Giám đốc Truyền thông của Tổ chức Ân xá Quốc tế và hoạt động trong Chiến dịch Toàn cầu chống Tra tấn. Ông đã hợp tác với nhạc sĩ, ca sĩ, diễn viên người Anh Sting (Gordon Matthew Thomas Sumner CBE) và nhiều tổ chức nhân đạo, thành lập Quỹ Rừng mưa nhiệt đới  (Rainforest Foundation) để bảo vệ rừng mưa Amazon, bảo vệ các bộ lạc thiểu số tại khu vực Amazon. Ông là một trong những người quan tâm đến việc bảo vệ môi trường, đặc biệt về sự biến mất quá nhanh của các khu rừng mưa trên thế giới. 

 

Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch là một trong những ủy viên lâu năm trong phục vụ tổ chức Quỹ Rừng mưa nhiệt đới  (Rainforest Foundation). Hiện ông đang đảm nhiệm Chủ tịch nhóm công tác quốc tế của  đảo quốc Phật giáo Sri Lanka, một mạng lưới độc lập hỗ trợ hòa bình lâu dài ở quốc gia bị chiến tranh tàn phá.

 

Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch vốn sinh trưởng trong gia đình đạo Phật, từ những năm 2002 đến 2015, đảm nhiệm ngôi vị Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Shambhala, một trong những tổ chức Phật giáo lớn nhất trên thế giới. Từ những năm 1971-1993, ông làm việc tại văn phòng tổ chức ân xá quốc tế. Từ những năm 1980-1993, Giám đốc Truyền thông của tổ chức ân xá quốc tế và hoạt động trong chiến dịch toàn cầu chống tra tấn. Từ những năm 1996-2015, ông làm Ủy viên tổ chức Quỹ Rừng mưa nhiệt đới  (Rainforest Foundation).

 

Những năm 1994-1999, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch tiếp tục hoạt động về vấn đề nhân quyền, hòa bình, tham gia vào các tổ chức ở Bắc Ailen và tại Sri Lanka từ năm 1995 cho đến nay. Hiện nay, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch đặc biệt quan tâm, ủng hộ toàn cầu về truyền thông liên quan văn hóa, sự hiểu biết liên tôn, lên tiếng làn sóng thù hận và gia tăng bạo lực.

 

Cùng với cuộc đời và sự nghiệp của Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch trong công tác vận động công khai, ông đã nghiên cứu nghệ thuật cổ điển Trung Quốc của Thái Cực quyền (太極拳) và Trang Khí công (莊氣功) trong 30 năm với Sư phụ Lâm Thôn  (林村師父), được đào tạo là một học viên của hệ thống Chỉ áp (指壓) về khôi phục năng lượng và là tác giả của “Sống với Chết:Hướng dẫn đầy đủ về Người chăm sóc” (Living with Dying: A Complete Guide for Caregivers.).

                                                                                      

Cuộc đời Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch

 

Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch sinh tại Toronto, Canada vào ngày 23 tháng 08 năm 1948. Phụ thân là cụ ông Flora Jean Gay và Hiền mẫu là cụ bà Robert Campbell Reoch. Mẹ của ông là người gốc Canada. Năm 1932, bà từng là Thư ký của Hội nghị Liên minh Khối Thịnh vượng chung, Liên minh Hợp tác, được thành lập tại Calgary, như là một liên minh chính trị của nhóm tiến bộ, xã hội chủ nghĩa và lao động, kêu gọi cải cách kinh tế để giúp đỡ người Canada bị ảnh hưởng bởi phiền muộn. Nó đã trở thành Đảng chính trị xã hội chủ nghĩa đầu tiên với các đại diện được bầu trong Quốc hội Canada

 

Năm 1935, bà kết hôn với Robert Reoch, một nhà hóa học thực phẩm, người đã di cư đến Canada từ Blairgowrie, Scotland vào năm 1917.

 

Khi thế chiến thứ Hai bùng nổ, họ rút khỏi Nhà thờ Presbyterian Scotland ở Toronto. Điều này dẫn đến một cuộc tìm kiếm 15 năm cho một cộng đồng tâm linh mới.

 

Năm 1954, họ gia nhập Giáo hội Phật giáo Toronto, thuộc Tịnh độ Chân tông (the jōdo-shin-shū), tông phái Phật giáo Nhật Bản, một phần của Giáo hội Phật giáo Hoa Kỳ. Kết quả là con trai của họ, Richard Reoch khi đó đã lên 6 tuổi, cậu đã trở thành một trong những người phương Tây sớm nhất trong thế hệ mình để trở thành một phật tử thuần lương.

 

Thuở thiếu niên, ông học tiểu học và trung học và Đại học tại Toronto, nơi ông nhận được Huy chương vàng Nesbitt. 

 

Năm 1970, ông nhận bằng Cử nhân Văn học Anh văn và Văn chương của Trinity College, Đại học Toronto, từ năm 1970-1971, ông là Giám đốc Chương trình cộng đồng mở cửa sổ Windows (Open Windows Community Programme), một sáng kiến do Chính phủ tài trợ để giúp thanh thiếu niên trong thành phố.

 

Năm 1971, ông chuyển đến London, Vương quốc Anh để làm việc tại Văn phòng Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI-một tổ chức phi chính phủ quốc tế, đặt ra mục đích bảo vệ tất cả quyền con người đã được nêu ra trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các chuẩn mực quốc tế khác). Ông là thành viên của Văn phòng Tổ chức Ân xá Quốc tế, Giải Nobel Hòa bình trong 23 năm. Khi bắt đầu vào công việc, số người ủng hộ chiến dịch này đã lên đến hàng chục nghìn, chủ yếu ở châu Âu. Bây giờ nó là một phong trào toàn cầu với hơn 7 triệu người, vận động trên toàn thế giới để bảo vệ nhân quyền toàn cầu. 

 

Bắt đầu từ năm 1971, trong thư viện của Ban Thư ký Văn phòng Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI) tại Londdon, Vương quốc Anh, ông đã tham gia vào đội ngũ nhân viên vào năm 1972, với tư cách là trợ lý nghiên cứu cho các tổ chức đầu tiên báo cáo về tra tấn và tham dự Hội nghị boe Tra tấn ở Pari năm 1973.

 

Năm 1974, theo yêu cầu của Tổ chức Ân xá Quốc tế Ấn Độ, ông đã khởi xướng chương trình phát triển châu Á của tổ chức này. Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch, người tổ chức Hội nghị cho Quốc gia Ân xá ở khu vực Nam Á tại New Dlhi năm 1975 và Hội nghị Khu vực châu Á Thái Bình Dương lần thứ nhất tại Gotemba, Nhật Bản năm 1976. Ông thành lập Dịch vụ Ấn phẩm Nam Á tại Colombo, Sri Lanka từ những năm 1975-1989 và Giám sát việc thành lập Dịch vụ Phân phối châu Á tại Hồng Kông vào năm 1989.

 

Năm 1978, ông được bổ nhiệm với cương vị Giám đốc Báo chí của Tổ chức Ân xá Quốc tế. Năm 1989, trên cương vị Giám đốc Báo chí và chịu trách nhiệm Ấn phẩm về thông tin công khai toàn cầu của tổ chức: Ông Đại diện cho tổ chức giới báo chí; Chỉ huy các Văn phòng tại London, Colombo, Hồng Kông, Madrid, Paris, San José; các đơn vị dịch thuật và các nhân viên báo chí ở 50 quốc gia – một vị trí mà ông đã nắm giữ trong suốt 13 năm cho đến năm 1993. Sau đó, ông đã phối hợp các cơ quan đại diện của tổ chức Tổ chức Ân xá Quốc tế vào Hội nghị Thế giới của Liên Hợp Quốc năm 1993 về Quyền con người ở Vienna đã dẫn tới việc tạo ra vị trí của Cao ủy Nhân quyền LHQ.

 

Trong bộ phim tài liệu BBC, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch “Ân xá! Khi họ được Tự do”, được thực hiện vào năm 2011 cho kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Tổ chức Ân xá Quốc tế...

 

Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu

 

Tháng 03 năm 1998, ông đã tham gia với tư cách là chuyên gia về truyền thông về chiến dịch quan sát bầu cử cho cuộc bầu cử Tổng thống Không Đặc quyền tị Armenia, do Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, tổ chức các thể chế dân chủ và nhân quyền (ODIHR). Tiếp đó, ông đã được yêu cầu vào năm 1999 chỉnh sửa "Ngăn ngừa tra tấn", Cẩm nang chính thức cho Cán bộ thực địa của OSCE.

 

Các dự án khác và vị trí về quyền con người

 

Từ năm 1993 đến năm 2003, ông đã tham gia vào một loạt các sáng kiến nhằm bảo vệ nhân quyền trên bình diện quốc tế. ông là Đại diện của Tổ chức Y tế về Chăm sóc nạn nhân Tội Tật (bây giờ là Tự do khỏi Tra tấn) đối với Dự án Phòng Ngừa Tra tấn của Ủy ban Nhân quyền Quốc gia Ấn Độ và Hội đồng Anh (2002-2003).

 

Năm 2001, ông tạo điều kiện cho Cuộc Tổng kết Lập kế hoạch Chiến lược của Hội đồng Dân quyền Tự do Dân chủ, Dublin, Cộng hòa Ireland, Ailen và từ năm 1999 đến năm 2009, ông là người hỗ trợ cho việc Tham vấn Kế hoạch của Ủy ban về Quản lý Tư pháp, ở Bắc Ailen.

 

Năm 1998, ông từng là chuyên gia về Nhân quyền Độc lập gắn với Bộ đánh giá Phát triển Quốc tế của Chính phủ Vương quốc Anh của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế và các hoạt động của Liên Hiệp Quốc về Người tỵ nạn ở các khu vực xung đột ở Srilanka.

 

Năm 1997, ông là người đánh giá cho Quỹ Westminster về Nghiên cứu Điều 19 và báo cáo về Tự do Ngôn luận và Truyền thông tại Belarus, Điều tra vai trò của giới truyền thông trong các cuộc bầu cử quốc gia và cuộc trưng cầu Hiến pháp.

 

Năm 1996, ông là người hướng dẫn cho "Hội thảo khu vực về quyền của phụ nữ là nhân quyền", Diễn đàn Châu Á về Quyền con người và Phát triển, Thái Lan. 

 

Năm 1995, ông là người hướng dẫn cho Tư vấn về chiến lược về quyền con người của Srilanka, do Tổ chức Hà Lan vì sự hợp tác phát triển quốc tế Netherlands Organisation for International Development Cooperation (Novib), Hà Lan triệu tập cùng với Phong trào quyền công dân của tuyên bố, thông tin, luật pháp và xã hội, phong trào phát triển và quyền dân chủ và phong trào công lý và bình đẳng liên quốc.

 

Năm 1993, là Điều phối viên Nhân quyền cho cơ quan thông tin báo chí thế giới thứ ba, Rome, chịu trách nhiệm tư vấn và điều phối kế hoạch biên tập cho sự tham gia của Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) trong Hội nghị Thế giới của LHQ về nhân quyền.

 

Vào năm 1995, Sting (người đã từng là chủ đề của Thế vận hội thế giới nhân quyền năm 1988, ông đã phối hợp với Tổ chức ân xá thế giới) yêu cầu ông giúp đỡ tổ chức lại  Quỹ Rừng mưa nhiệt đới  (Rainforest Foundation), được thành lập năm 1989. Từ năm 1996 đến năm 1998, ông từng giữ chức vụ Chủ tịch Ban chấp hành Tổ chức Quỹ Rừng mưa nhiệt đới quốc tế (The World Rainforest Fund) và sau đó là một ủy viên của Tổ chức Quỹ Rừng mưa nhiệt đới Vương quốc Anh (Rainforest Foundation Ireland), (1999 - 2015).

 

Các khu rừng nhiệt đới trên thế giới đang chịu áp lực ngày càng tăng từ việc mở rộng sản xuất nông nghiệp, khai thác, phát triển cơ sở hạ tầng và khai thác gỗ công nghiệp. Họ cũng là nơi có hàng triệu người.

 

Dân bản địa sống trong và xung quanh rừng nhiệt đới phụ thuộc vào rừng để trú ẩn, thực phẩm, thuốc men và sinh kế. Trong nhiều trường hợp, những quyền cơ bản của những người này bị đe dọa hoặc phá hoại do phá rừng, trộm cắp đất và khai thác tài nguyên.

 

Quỹ Rừng mưa nhiệt đới (Rainforest Foundation)làm việc để đảm bảo việc bảo vệ lâu dài rừng nhiệt đới bằng cách bảo đảm các quyền của người dân bản địa và rừng đối với đất đai, cuộc sống và sinh kế. Nó hoạt động ở 21 quốc gia và trên bốn châu lục, hỗ trợ hàng trăm cộng đồng. Bằng chứng đáng kể cho thấy, khi các cộng đồng lâm nghiệp có được quyền pháp lý về đất đai thì mức độ phá rừng và phá rừng còn thấp hơn nhiều so với các khu bảo tồn nghiêm ngặt như vườn quốc gia. Đến nay, Quỹ đã bảo vệ hơn 11.700.000 ha rừng mưa nhiệt đới theo cách tiếp cận này.

 

Bắc Ireland

 

Giữa năm 1994 đến năm 2009, ông đã đóng góp vào khía cạnh Nhân quyền trong nỗ lực đạt được một thỏa thuận hòa bình, có thể chấm dứt các thập kỷ xung đột dân sự Bắc Ailen. 

 

Năm 1994, ông được yêu cầu tạo thuận lợi cho “Hội đồng về Quyền con người, xung đột Bắc Ailen và Tiến trình Hòa bình” do Ủy ban hành chính tư pháp (Committee on the Administration of Justice, CAJ), thành phố Belfast, Vương quốc Anh triệu tập vào năm 1995, cũng như là người hỗ trợ chính cho Kế hoạch Chiến lược của tổ chức (CAJ) từ năm 1999 đến năm 2009. Sau “Hiệp ước Thứ Sáu Tuần thánh” (Good Friday Agreement), ông được mời vào Hội nghị Nhân quyền Bắc Ireland vào năm 2000 để tạo thuận lợi, được thành lập theo Thỏa thuận Belfast để phát triển một Tuyên ngôn Nhân quyền.

 

Sri Lanka

 

Từ năm 1995 đến nay, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch đã từng làm Chủ tịch Nhóm Công tác Quốc về Sri Lanka (IWG), một cơ quan độc lập dành cho hòa bình, nhân quyền và phát triển ở Srilanka.

 

Trước đây, ông từng là Chủ tịch độc lập của  Diễn đàn Tổ chức phi Chính phủ Sri Lanka (Sri Lanka Women's NGO). Mục tiêu dài hạn của chương trình Nhóm làm việc quốc tế về Sri Lanka (the International Working Group on Sri Lanka, IWG) để hỗ trợ hòa giải, phục hồi và cải cách sau chiến tranh ở Sri Lanka. Chương trình nhằm mục đích giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của xung đột, đóng góp vào hòa bình công bằng và bền vững, ngăn ngừa trở lại chiến tranh. Nguyên tắc chỉ đạo này là đặt xã hội dân sự và chính trị Sri Lanka vào các vấn đề nhân quyền, nhân chứng và nạn nhân ở trung tâm của kế hoạch, chiến lược và thực hiện các nỗ lực vận động quốc tế cho công lý và trách nhiệm giải trình ở Srilanka.

 

Năm 2002, ông được bổ nhiệm với cương vị Chủ tịch hội đồng quản trị, Hiệp hội Tín dụng Shambhala (Shambhala Credit Union) – Đức Tôn giả Sakyong Mipham Rinpoche, người đứng đầu dòng truyền thừa Phật giáo Shambhala. Lịch sử và truyền thuyết của truyền thống Shambhala dựa trên một cộng đồng vĩ đại có khả năng đạt được mức độ cao của sự tỉnh thức. Cộng đồng này được lập ra nhờ có sự đóng góp của mỗi thành viên trong việc tham gia tạo dựng một nền văn hóa của lòng từ bi, rộng lượng và can đảm. 

 

Các vương quốc cổ xưa của Shambhala được biết đến với lòng từ bi và trí huệ của những người trị vì và những người sống trong đó. Theo truyền thuyết của Shambhala, những phẩm tính này là kết quả của những giáo lý đặc trưng của một xã hội tỉnh thức mà đức Phật đã đích thân truyền cho Vua Dawa Sangpo (900-876 trước công nguyên BC), bậc trì giữ đầu tiên của Shambhala.

 

Với cương vị Chủ tịch hội đồng quản trị, Hiệp hội Tín dụng Shambhala, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch, Chủ tọa Hội nghị Quốc tế lần thứ hai về Hạnh phúc Toàn dân “Nghiên cứu lại sự phát triển” và gần đây nhất ông đã xuất bản bài báo có ảnh hưởng “Liệu bức tranh tương lai có trở lại?”.

 

Năm 2015, Cư sĩ Ranil Wickremesinghe, đắc cử Tân Thủ tướng Chính phủ Sri Lanka, đã mời Nhóm công tác quốc tế hỗ trợ tổ chức một cuộc họp tư vấn của các bên liên quan chính trong việc chuẩn bị cho cải cách Hiến pháp trong nước. Cuộc họp của các chuyên gia quốc tế về luật Hiến pháp đang được triệu tập cùng với Trung tâm thay thế chính sách (ECCL) của Trường Luật Trường Đại học Edinburgh.

 

Phật học, thực hành và lãnh đạo

 

Sự xuất hiện của Phật giáo ở Bắc Mỹ vào đầu những năm 1950 chủ yếu là kết quả của nhập cư châu Á, mặc dù ngày càng có nhiều người quan tâm đến Thiền Phật giáo trong số những người được gọi Phong trào của “Thế hệ bị đánh gục” (Beat Generation). Trong sáu năm đầu tiên, ông và bố mẹ anh ta đã học tại Giáo hội Phật giáo Toronto, Canada họ là những người không phải là người Nhật ở đó. Họ lần đầu tiên tham gia vào các buổi lễ Chủ nhật năm 1954 sau khi gặp vị thầy đạo đức của mình, Pháp sư Kenryu Takashi Tsuji, Chủ tịch Giáo hội Phật giáo Hoa Kỳ (BCA).

 

Thực hành trung tâm của giáo phái Tịnh độ Chân tông (Jodo Shinshu) niệm "Nembutsu”, xưng niệm danh hiệu của đức Đại từ Đại bi A Di Đà Phật. Rất ít cuốn sách về Phật giáo đã có sẵn trong những năm đó tại các hiệu sách địa phương; gia đình đã ra lệnh cho những gì họ có thể từ nước ngoài, nhiều người từ Hội Xuất bản Phật giáo, Kandy, Sri Lanka. 

 

Sau khi cụ thân sinh của ông vãng sinh vào năm 1966 và trước khi rời Toronto đến London, ông và mẫu thân đã tham dự các khóa Thiền Tào Động (Sōtō Zen), Phật giáo Nhật Bản tại Trung tâm Thiền Rochester, Hoa Kỳ và Đại học York, Canada.

 

Trong những năm làm việc cho Tổ chức ân xá quốc tế ở châu Á, ông tiếp tục tu tập cá nhân mà không thuộc bất kỳ tổ chức nào. Tác phẩm của ông đã đưa ông tiếp xúc với cộng đồng người Tây Tạng sống lưu vong và trong khi ở Ấn Độ, ông đã nhận được sự can thiệp của đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 thay cho các nhà sư Phật giáo bị bỏ tù ở nước Việt Nam Cộng hòa.

 Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch 2

Phật giáo Shambhala

 

Sau 23 năm làm việc cho Tổ chức ân xá quốc tế, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch đã tham gia khóa huấn luyện do cộng đồng Phật giáo Shambhala tổ chức ở phương Tây do Đức Chögyam Trungpa Rinpoche (1939-1987) tổ chức. 

 

Năm 1994, ông đã cầu pháp với đức Sakyong Mipham Rinpoche và được ban pháp hiệu Tashi Changchup. Đức Sakyong Mipham Rinpoche chính là cầu nối tâm linh duy nhất giữa hai thế giới – châu Á và Tây Phương bởi ngài được trưởng dưỡng và tiếp thu cả hai nền văn hóa lớn này. Đức Sakyong là con trai cả của đức Chögyam Trungpa Rinpoche và chính là hóa thân của đấng Mipham vĩ đại, một thiền sư và học giả lừng danh của trường phái Nyingma. Là một phần của gia tộc Mukpo ở phía Đông Tây Tạng, đức Sakyong Mipham Rinpoche chính là hậu duệ của Gesar xứ Ling, vị vua chiến sĩ giác ngộ của Tây Tạng.

 

Ở phương Tây, đức Sakyong Mipham Rinpoche là một lãnh tụ tâm linh của tổ chức Shambala, một mạng lưới quốc tế của những trung tâm tu thiền và nhập thất của Phật giáo. Sakyong nghĩa là “Người bảo vệ trái đất”, “vua pháp” hay bậc hộ trì truyền thừa của tổ chức Shambhala, truyền thống nhấn mạnh đến sự tự tin và giác tính của chúng sinh, đồng thời chỉ dạy về một cuộc sống can đảm, dựa vào trí tuệ và từ bi. Ngài cũng chính là bậc trì giữ hai dòng truyền thừa Kagyu và Nyingma của Phật giáo Tây Tạng.

 

Sau khi tham dự một Trung tâm Phật giáo Shambhala kéo dài ba tháng vào năm 1996, ông đã nhận được truyền vào thực hành Phật giáo Kim Cương thừa và được bổ nhiệm làm Giám đốc và Chủ tịch Hội đồng của Trung tâm thiền định Shambhala London. 

 

Từ năm 1999 đến năm 2001, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch chỉ đạo việc lên kế hoạch “Đại Nhật Như Lai, hiện thân của Pháp thân (dharmakaya)” tại Trung tâm thiền định Shambhala ở Colorado Rockies, Hoa Kỳ - một cuộc tụ tập của 1.500 người ở độ cao 6.000 feet trên núi.

 

Một năm sau, ông được đức Sakyong Mipham Rinpoche, một lãnh tụ tâm linh của tổ chức Shambala, chỉ định với cương vị Chủ tịch tổ chức tổ chức Shambala trên toàn thế giới, vị trí ông đảm nhiệm từ năm 2002 đến 2015, đó đây vân du khắp thế giới giảng dạy và hướng dẫn các khóa tu cho hơn 200 trung tâm. Hiện ông đang phục vụ như Đại sứ riêng của đức Sakyong Mipham Rinpoche, của tổ chức Shambala.

 

Trong thời gian trên cương vị Chủ tịch Tổ chức tổ chức Shambala trên toàn thế giới, ông đã đi diễn thuyết cùng với Thiền sư ni Pema Chodron, đồng chủ trì các sự kiện với chủ đề “Thực hành hòa bình trong thời kỳ chiến tranh” và đã giảng dạy về cuộc đời và sự nghiệp của vị hoàng đế anh minh Phật tử Ashoka (Trị vì: 173-232 trước kỷ nguyên Tây lịch), vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử quyết định “dùng Pháp âm thay cho tiếng trống trận” khi đang ở đỉnh cao của danh vọng và quyền lực, điều này đã khiến ông nổi tiếng là bao dung, hòa bình, rất đáng cho hậu thế noi gương.

 

Hoàng đế anh minh Phật tử Ashoka cũng có những đóng góp rất lớn về quan niệm đạo pháp và dân tộc được thể hiện rõ nét qua chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng và chủ trương độc lập dân tộc của ông.

 

Ngoài ra, ông còn nổi bật trong vai trò sứ giả văn hóa và hòa bình do chủ trương từ bỏ chiến tranh, kiên quyết theo đuổi hòa bình và bang giao quốc tế trên cơ sở hợp tác và giúp đỡ các quốc gia khác trên nhiều lãnh vực.

 

Tên tuổi của vị hoàng đế anh minh Phật tử Ashoka đã đi vào huyền thoại lịch sử và giá trị mà ông để lại vẫn còn, dù rằng ông qua đời cách đây hơn 20 thế kỷ. Ông đã để lại cho hậu thế một bài học lớn, bài học của sự nỗ lực, lòng nhiệt thành, sự tận tụy, tình thương và lòng bao dung, bài học của lòng tin ở chính mình và tin người khác trong tất cả việc làm và trong mọi quan hệ. Ông đã dùng tình thương xóa hận thù, dùng thiện nhân thắng hung tàn, lấy thí xả thắng xan tham, dùng chân thật thắng hư ngụy.

 

Hoàng đế anh minh phật tử Ashoka đã xây dựng được một vương quốc thái bình thịnh trị trong lịch sử nhờ những nỗ lực cá nhân và đường lối lãnh đạo sáng suốt, đầy nhân bản của ông. 

 

Vào tháng 05 năm 2015, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch là một trong 200 nhà lãnh đạo Phật giáo, từ tất cả các trường phái Phật giáo khác nhau, được mời vào Nhà trắng tại thủ đô Washington DC, để giao lưu chia sẻ giáo lý từ bi trí tuệ Phật pháp với Tổng thống Hoa Kỳ Obama. Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch, một trong các đại diện tổ chức Phật giáo trên thế giới đã ký “Tuyên bố Phật giáo về Biến đổi Khí hậu” và tuyên bố sau vụ thảm sát tại Nhà thờ Giám lý Phi châu Methodist Emmanuel ở Charleston, Nam Carolina.

 

Giao lưu liên tôn

 

Trong suốt công cuộc hòa bình ở đảo quốc Phật giáo Srilanka, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch đã chứng kiến sự bùng phát của chủ nghĩa cực đoan Phật giáo ở Nam và Đông Nam Á; và bắt đầu đưa vấn đề này vào trong vòng bàn tròn Phật giáo ở châu Á và phương Tây. ông đã viếng thăm đảo quốc Phật giáo Sri Lanka vào tháng 06 năm 2014, trong các cuộc bạo loạn chống Hồi giáo ở miền Nam, một trong những vụ bùng phát bạo lực gia đình tồi tệ nhất trong lịch sử quốc gia này.

 

Vào tháng 03 năm 2014, ông được mời tham dự một hội nghị về “Sự hùng lực Phật giáo”, được tổ chức bởi Trường Chính sách công của Đại học Trung Âu (CEU) ở thủ đô Budapest, Hungary. Nó tập trung vào tôn giáo cực đoan bạo lực đang diễn ra tại các cộng đồng Hồi giáo ở MyanmarSri Lanka. Ông bắt đầu sử dụng blog của mình trên The Huffington Post (Anh) để làm nổi bật mối đe dọa toàn cầu của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan.

 

Vào tháng 11 năm 2014, ông được Chủ tịch Driss Oauoicha của Đại học Al Akhawayan (Al Akhawayn University) ở Ifrane, Vương quốc Maroc mời tham gia chương trình “So sánh tôn giáo sau tốt nghiệp” cho những tín đồ Hồi giáo. Nhiệm vụ hoàng gia của nhà trường là quảng bá cho “những giá trị của sự đoàn kết và khoan dung của con người” trong quốc gia Hồi giáo chiếm đa số. Trường Đại học Al Akhawayan cũng đã mời ông đưa ra một bài diễn văn của Tổng thống về vấn đề “Hạt giống chiến tranh, hạt giống của hòa bình: Xung đột tôn giáo trong thế giới ngày nay”. Một năm sau, ông được mời trở lại để tiếp tục hướng dẫn các khóa Thiền định cho các sinh viên sau khi tốt nghiệp Đại học và đưa ra một bài giảng thứ hai “Liệu có khả năng đạt đến giác ngộ?”.

 

Vào tháng 01 năm 2016, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch đã được Ủy ban Tôn giáo tối cao Hồi giáo Maroc mời tham dự một cuộc hội nghị cao cấp về quyền của người dân tộc thiểu số ở các vùng đất của người Hồi giáo, được tổ chức chung với diễn đàn “Diễn đàn vì hòa bình trong các xã hội Hồi giáo”.

 

Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch cho biết: “Chúng tôi đang tập trung vào một thời điểm nổi dậy cực đoan, trong một tuyên bố ‘Trách nhiệm thánh thiện của chúng tôi’. Nhưng có một sự thật lớn hơn, một tiếng nói lớn hơn và số lượng lớn hơn của gia đình nhân loại, những người biết rằng hận thù và bạo lực, không phải là giải pháp cho những thách thức lớn mà chúng ta phải đối mặt”.

 

Mặc dù tuổi đã cao nhưng với lý tưởng Bồ tát đạo, ngôn hạnh tương ưng trong đời sống thực thể hiện tinh thần Bồ tát được hiện thực hóa, hạnh nguyện độ sinh tuyệt vời, Trưởng lão Cư sĩ Richard Reoch đã tham gia vào nhiệm vụ Liên tôn Quốc tế với nhân chứng đến trại tị nạn Rohingya ở biên giới giữa Myanmar và Bangladesh từ ngày 26 đến 30 tháng 03 năm 2018.

 

Thích Vân Phong

(Nguồn: Shambhala Times)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/05/202003:48(Xem: 5555)
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của Ngài cao hơn núi cao Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu hơn biển sâu Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô diễn
31/05/202015:54(Xem: 58)
Đôi khi một nụ cười lả lơi, một liếc mắt say đắm, một lần nắm tay bất chợt cũng có thể dẫn tới một tai họa vô cùng lớn lao. Cũng y hệt một tia lửa nhỏ có thể làm phựt cháy cả một khu rừng khổng lồ. Một thí dụ rất cụ thể: nếu ngài Anan sa ngã, số lượng kinh Phật có thể sẽ chỉ còn có phân nửa. Trí nhớ của ngài Anan rất mực siêu đẳng, nhớ hơn 10,000 Kinh Phật trong Tạng Pali.
29/05/202019:07(Xem: 283)
Trưởng lão cư sĩ Hứa Triết (許哲, Teresa Hsu Chih, 7/7/1897-7/12/2011), trước danh Cư sĩ, danh tự tiếng Anh là “(Teresa, tiếng Trung: 德蕾莎)” tên tiếng Phạn là “Prema, (愛人)”, chào đời tại Sán Đầu, thành phố ven biển thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Sinh thời, bà đến lớp tiểu học năm lên 27 tuổi, học Y khoa chuyên ngành Điều dưỡng ở tuổi 47, thành lập một Viện Dưỡng lão độc lập ở tuổi 67, học Yoga (瑜伽) ở tuổi 69, học Phật ở tuổi 90, dụng công học tiếng Trung ở tuổi 100, và 101 tuổi quy y Phật môn.
29/05/202013:08(Xem: 171)
Tâm thế gian là tâm tràn đầy ham muốn ích kỷ, những ai luôn sống với tâm này sẽ huân tập nhiều tập khí, lậu hoặc gọi chung là nghiệp. Nghiệp thì có nghiệp xấu và nghiệptốt. Nhưng đa phần người ta dính nhiều với nghiệp xấu hơn là nghiệp tốt. Đã tạo nghiệp, thì phải chịu luân hồi sinh tử để thọ quả báo.
27/05/202015:14(Xem: 99)
Bài viết, kỷ niệm 50 ngày thành lập Cộng đồng đa dạng văn hóa tín ngưỡng gồm 10 quốc gia ASEAN!
27/05/202014:56(Xem: 135)
Năm nay đánh dấu kỷ niệm 40 năm, kể từ khi Khánh thành Bảo tàng Khảo cổ Thung lũng Bujang (the Bujang Valley Archaeological Museum), tọa lạc tại Merbok, Kedah, một bang phía tây bắc của Bán đảo Malaysia.
27/05/202014:51(Xem: 131)
Người Phật tử tu hạnh Bồ Tát ngoài mười điều thiện, phải tu tập pháp “Lục Độ Ba La Mật”. Lục là sáu. Độ là vượt qua. Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita, người Trung hoa dịch nghĩa là “bỉ ngạn đáo”, nói theo tiếng Việt là “đến bờ bên kia”. Đây là sáu món tu tập có công năng như một chiếc thuyền, đưa mình từ bờ bên này, bờ vô minh của thế gian, vượt sang bờ bên kia, bờ giác ngộ của chư Phật. Kẻ tu hành muốn đến bờ giải thoát hoàn toàn, cần phải tu cả phước lẫn tuệ. Tu phước gồm có: “bố thí, trì giới, tinh tấn và nhẫn nhục”. Tu tuệ là “thiền định và trí tuệ”.
26/05/202013:28(Xem: 223)
Nhà lãnh đạo tinh thần nhân dân Tây Tạng, cùng hòa điệu với các nhà khoa học nổi tiếng trong một bộ phim tài liệu với chủ đề tuyệt diệu đầy quyến rũ.
26/05/202013:17(Xem: 128)
Nước ta ở vào địa thế phía Đông là biển cả bao la, phía Tây là dãy Trường Sơn trùng điệp, còn phương Bắc thì tiếp giáp với Trung Hoa, một quốc gia rộng lớn, hùng mạnh đã biết bao phen xâm chiếm nước ta, vì vậy dân tộc ta không còn sự chọn lựa nào khác hơn là phải nỗ lực tiến về Nam để tồn tại và phát triển. Trong các đợt mang gươm đi mở cõi, tộc Phạm có nhiều vị tướng tài giỏi, những nhà cai trị lỗi lạc đã giúp các vương triều hoàn thành sứ mạng lịch sử vĩ đại này.
26/05/202005:45(Xem: 207)
Đàn chim bay ngang phố. Xao xác tiếng cánh vỗ. Con quạ già trên nhánh cây hè phố ngước nhìn một lúc, rồi im lặng sà xuống đất, nhảy lò cò vài bước với một chân bị què, tiếp tục kiếm ăn. Phố im lạ thường. Những con đường vắng xe đã vơi mùi khói xăng từ những ngày trước. Lan tỏa đâu đây hương bạch đàn hòa lẫn với mùi nước cống vẫn ngày đêm chảy ngầm dưới lòng đất. Thỉnh thoảng có tiếng còi hụ của xe cứu thương băng ngang góc phố xa. Khách bộ hành mang khẩu trang chỉ chừa lại hai mắt ngầu đục sau gọng kiếng râm, không sao nhìn ra được vẻ đẹp tráng lệ của một bình minh tràn ngập nắng tàn xuân. Gió mai lành lạnh trong công viên thành phố. Ông già ngồi phơi nắng trên chiếc ghế gấp mang theo từ nhà. Hai vợ chồng trẻ khoác áo gió dắt chó đi bộ quanh bãi cỏ xanh. Một cơn gió mạnh thổi qua làm cho những hàng cây rùng mình buông lá úa. Giờ không phải mùa thu, cũng chưa vào hạ, mà lá vàng vẫn rơi lác đác, trông như những cánh bướm cải nhởn nhơ trong gió. Nhưng không, chỉ trong thoáng chốc, n