Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền Sư Huệ Quang (1888-1956)

26/11/201912:08(Xem: 1328)
Thiền Sư Huệ Quang (1888-1956)

HT.Hue Quang
TIỂU SỬ
TỔ HUỆ QUANG
(1888-1956)
Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt
Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
oOo

Thiền Sư Huệ Quang húy Thiện Hải, thế danh Nguyễn Văn Ân, sinh năm 1888 tại quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Sau đó Ngài theo thân mẫu về sống tại Trà Vinh. Năm 19 tuổi Ngài xuất gia tại chùa Long Thành ở quận Trà Cú và theo học với Thiền Sư Thiện Trí. Gần Thiền Sư Thiện Trí, ngoài kiến thức Phật học, Ngài còn được trao truyền kiến thức y học Đông Phương nữa. Tên Thiện Hải là do Thiền Sư Thiện Trí đặt cho Ngài.

Một hôm đi ngang Tiểu Cần, thấy một ngôi chùa đổ nát, Ngài bèn phát tâm trùng tu lại. Dân chúng ở Tiểu Cần thấy thế sinh lòng kính mến, bèn mời Ngài về làm trụ trì ngôi chùa Long Hòa này và hết sức ủng hộ Ngài trong công việc trùng tu. Chùa Long Hòa trở thành một đạo tràng thanh tịnh.

Năm 1919, Ngài đắc pháp với Thiền Sư Từ Vân, được ban pháp hiệu là Huệ Quang.

Do Ngài đọc tân thư Trung Hoa và báo chí, được biết phong trào Chấn Hưng  Phật Giáo các nước đang trổi lên mạnh. Ở Trung Hoa, Thái Hư Đại Sư xây dựng Phật Học Viện, xuất bản Hải Triều Âm. Bên Nhật, Tommatsu tiên sinh cùng các nhà nghiên cứu Phật học phát huy nền văn học Phật Giáo, chủ trương biên tập lại Đại Tạng Kinh. Ở Thái Lan, Phật Giáo được xem là quốc giáo làm nền tảng đức dục cho quốc dân. Ở Miên, một viện khảo cứu Phật Giáo được thành lập v.v… Ngài bèn hợp tác với Thiền Sư Khánh Hòa và Thiền Sư Khánh Anh để xúc tiến việc chấn hưng Phật Giáo nước nhà.

Trước sắc thái mới của nền Phật Giáo thế giới phục hưng, Hòa Thượng Huệ Quang đã rất tích cực cùng các Hòa Thượng khác ở Nam Kỳ trong việc thành lập Hội Lục Hòa năm 1923, ý muốn mở Phật Học Viện và Thư Xã. Trú sở của Hội được đặt tại chùa Long Hòa do Ngài trụ trì. Hội Lục Hòa là viên đá đầu tiên của nền Phật Giáo chấn hưng tại Nam Kỳ.

Năm 1928, cùng với các Hòa Thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Pháp Hải, Liên Trì, các Thượng Tọa Từ Nhân, Chơn Huệ, Thiện Niệm… Ngài cổ động tạo lập Thư Xã. Tháng 8 năm 1929, các đàn việt thiện tín Trà Vinh chung sức hiến cúng bộ Đại Tạng toàn bản gồm có 750 quyển lớn, chưng bày trong Thư Xã để làm tài liệu căn bản cho việc nghiên cứu.

Năm 1931, Ngài cùng Hòa Thượng Khánh Hòa và các vị cao tăng khác hợp sức với một số cư sĩ hữu tâm, thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, đường Douaumont Sài Gòn (nay là đường Cô Giang). Hội đã xuất bản tạp chí Từ Bi Âm làm phương tiện truyền bá giáo lý Phật-đà.

Năm 1934, Ngài bàn với các Hòa Thượng Khánh Hòa, Chánh Tâm, Viên Giác về Trà Vinh lập Liên Đoàn Phật Học Xã để đào tạo Tăng tài, làm nền tảng cho việc trùng hưng Phật Pháp sau này. Học Tăng gia nhập Liên Đoàn tuần tự tu học từng tam cá nguyệt tại các chùa Long Hòa (Trà Vinh), Thiên Phước (Trà Ôn) và Viên Giác (Bến Tre). Về sau thấy sự di chuyển bất tiện, các Hòa Thượng quyết định lập trường Phật học tại Trà Vinh.

Tháng 8 năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học chính thức được thành lập. Chánh Hội Trưởng là ông Huỳnh Thái Cửu, Hòa Thượng Khánh Hòa là Pháp Sư. Ngài lúc này đã 46 tuổi, làm Giảng Sư kiêm Tổng Lý của Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (thành lập năm 1934).

Trong những lần thuyết pháp giảng dạy, Ngài đã vạch rõ sự cần thiết phải thành lập Giáo Hội, xuất bản tạp chí, và kiến tạo Phật Học Đường, Ngài đã tiên liệu và lo lắng rất nhiều cho tương lai của nền Phật Giáo thống nhất.

Lưỡng Xuyên Phật Học Đường đã làm được sứ mạng tuyên dương chánh pháp và đào tạo Tăng tài một cách vẻ vang. Vừa làm chủ nhiệm tờ báo, Ngài vừa hợp lực với các Ngài Khánh Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh trong việc quản trị và giáo dục của Phật Học Đường.

Tháng 7 năm 1935, nguyệt san của Hội là tạp chí Duy Tâm được phép xuất bản do Ngài làm chủ nhiệm.

Từ năm 1937, Ngài đã rất chú trọng đến vấn đề thống nhất Phật Giáo Việt Nam. Viết trong tạp chí Duy Tâm số 25 ra ngày 1-10-1937 Ngài đề nghị các tạp chí Phật học trong xứ thương lượng với nhau để định ngày họp Đại Hội Lâm Thời của các Hội Phật Giáo trong nước để đi đến việc thống nhất. Ngài đề nghị Đại Hội này được tổ chức tại miền Trung, và trước ngày đại hội, các Hội phải họp Đại Hội Đồng riêng từng Hội để công cử đại biểu. Ngài lại đề nghị Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc vạch ra chương trình hoạt động thống nhất va bầu ra sáu ban chuyên môn để làm Phật sự; đó là các Ban: Kiểm Duyệt, Đạo Sư Giáo Dục, Luật Sư, Giảng Sư, Hộ Pháp và Thanh Tra. Tờ Duy Tâm đề cập tới vấn đề “thống nhất” gần như mỗi số phát hành.

Năm 1945, chiến tranh xảy ra, Lưỡng Xuyên Phật Học Hội và Lưỡng Xuyên Phật Học Đường phải ngưng hoạt động. Đại chúng ly tán, quân đội Pháp chiếm đóng cơ sở Hội Phật Học. Ngài lui về chùa Linh Sơn ở Tiểu Cần tĩnh tu.

Năm 1948, Ngài đứng ra làm chủ tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc tỉnh Trà Vinh.

Năm 1951, từ hậu phương Ngài trở về tham dự Phật sự của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, và cũng trong năm này, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập. Đại hội tổ chức tại Huế. Bản Tuyên Ngôn thành lập Tổng Hội được chuyển đi khắp nơi.

Theo sự thỉnh cầu của Giáo Hội Tăng Già Việt Nam, ngày 8-3-1953 Ngài được suy tôn làm Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. (Tập thể Tăng-già Việt Nam đã được thống nhất từ khi Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc được thành lập năm 1951 tại Hà Nội và Thượng Thủ đầu tiên của Giáo Hội là Thiền Sư Tuệ Tạng. Thượng Thủ Tuệ Tạng viên tịch vào năm 1959 tại Hà Nội, năm năm sau khi đất nước bị qua phân. Năm 1959, Đại Hội Tăng Già Toàn Quốc lần thứ hai họp tại chùa Ấn Quang đã suy tôn Thiền Sư Khánh Anh làm Thượng Thủ).

Năm 1954, mười ngày sau khi hiệp định Genève được ký kết, một phong trào đấu tranh đòi hỏi hòa bình và thống nhất đất nước ra đời ở Sài Gòn – Chợ Lớn do những nhân sĩ yêu nước Bắc-Nam khởi xướng. Ngài với cương vị Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cùng đông đảo các nhà trí thức Phật Tử tích cực vận động Tăng Ni và Tín Đồ hưởng ứng phong trào này nên Ngài đã bị câu lưu tại “bót” Catinat, sau đó được đưa về quản thúc tại chùa Phật Quang ở Chợ Lớn.

Năm 1956, trong Đại Hội Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam lần thứ 2 tại Sài Gòn, Ngài được suy cử Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam và tập san Phật Giáo Việt Nam của Tổng Hội được xuất bản vào tháng 8 dương lịch năm này đã mời Ngài làm chủ nhiệm.

Ngày 10-11-1956, Ngài lãnh đạo phái đoàn Phật Giáo Việt Nam đi dự hội nghị lần thứ tư của Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu (World Fellowship of Buddhists) tổ chức tại Népal (từ ngày 15 đến ngày 21 tháng Mười ÂL). Cùng đi với Ngài có Thiền Sư Tịnh Khiết và Cư Sỹ Trần Thanh Hiệp. Tại Calcuta, phái đoàn được Thiền Sư Minh Châu lúc ấy đang du học tại Nalanda, tiếp đón đưa đi thăm Hội Mahabodhi Society và các Phật tích trong vùng. Ngày 13-11-1956, phái đoàn đi Kathmandu, có Thiền Sư Minh Châu tháp tùng. Tại Đại Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu, Thiền Sư Huệ Quang đã trình bày bản tham luận “Vai trò đạo Phật trong xã hội loài người”.

Thật bất ngờ! Ngay sau những sự kiện quốc tế đầy vinh dự đó, chùa Ấn Quang nhận được một điện tín do Thiền Sư Tịnh Khiết gửi về báo tin Thiền Sư Huệ Quang đã viên tịch lúc 18 giờ 15 phút ngày 2-12-1956 (nhằm ngày 1 tháng 11 năm Bính Thân) tại bệnh viện Willingdom ở New Dehli, Tăng Ni, Phật Tử thủ đô Sài Gòn hết sức bàng hoàng khi nghe hung tin đó! Thì ra sau lễ Buddha Jayanti, Ngài đã lâm bệnh và được chở vào bệnh viện. Một gân máu đã đứt và các bác sĩ bệnh viện ở Willingdom đã không thể làm gì hơn được.

Thiền Sư Huệ Quang hưởng thọ 68 tuổi đời với 37 năm hoằng hóa. Nhục thân Ngài được an táng tại chùa A Dục Vương tại New Dehli; lễ an táng được tổ chức ngày 3-12-1956. Phái đoàn Phật Giáo Việt Nam trở về Sài Gòn ngày 10-12-1956 nhưng đã thiếu mất một vị Cao Tăng đạo hạnh vào bậc nhất. Linh vị Ngài được cung nghinh về nước. Từ phi trường Tân Sơn Nhất – Sài Gòn, linh vị được rước về chùa Ấn Quang, trụ sở của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam để thập phương Tăng Ni, Tín Đồ đảnh lễ tưởng niệm. Số Tăng Ni, Phật Tử đi cung nghinh linh vị, trong đó có các phái đoàn từ các tỉnh về, đông đảo đến nỗi chật cả các đại lộ Lý Thái Tổ, Minh Mạng và đường Sư Vạn Hạnh – Sài Gòn.

Năm 1964, một phái đoàn Việt Nam tham dự Đại Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu lần thứ 7 tại Ấn Độ đã đến chùa A Dục Vương làm lễ hỏa thiêu nhục thể Thiền Sư Huệ Quang và rước xá-lợi về chùa Long Hòa, nơi mà ngày xưa Ngài đã trụ trì và hành đạo.

Thiền Sư Huệ Quang viên tịch khi tạp chí Phật Giáo Việt Nam mới ra đời được 3 số. Sau khi Ngài viên tịch, vị chủ bút của Phật Giáo Việt Nam là Thiền Sư Nhất Hạnh đã kiêm nhiệm trách vụ chủ nhiệm của tạp chí./.

ht thich hue quang


Di ảnh linh vi và tượng Tổ Huệ Quang thờ tại chùa Long Hòa
ở ấp Hòa Trinh, xã Hùng Hòa, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
(Hình chụp trong lễ Húy Kỵ lần thứ 63, năm Mậu Tuất – 2018)





 
Nguồn gốc tài liệu: VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LUẬN
(Thư Viện GĐPT tu chính, bổ sung










Ý kiến bạn đọc
26/11/201911:28
Khách
VÀO ĐÚNG 11 GIỜ 00 TRƯA NGÀY 26 THÁNG 11 NĂM 2020 HÔM NAY LÀ NGÀY CHÚNG SINH MUÔN LOÀI VŨ TRỤ VẠN VẬT ĐÃ HIỂU ĐƯỢC ((((ĐẠO LÀM NGƯỜI )))CỦA TA TỨC LÀ NGÀY HẠNH PHÚC NHẤT KHI TA ĐÃ LẬP ĐẠO TRỜI TRONG 4 NĂM THÀNH CÔNG VIÊN MÃN....NGÀY DƯƠNG 26 THÁNG 08 NĂM 1985 LÀ NGÀY SINH CỦA (((TRẦN HỒNG MINH)))) NGÀY ÂM 11 THÁNG 7 CỦA TA ......NGÀY HÔM NAY LÀ NGÀY ĐÓN CHÀO CÁC VỊ (((((((( ĐIỀU NGỰ GIÁC HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG )))))) TỨC((((( LỤC TỰ ĐẠI MINH ĐÀ RA NI))))))TỨC(((((( NAM MÔ ĐỨC NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ ))))))TỨC (21) CHỮ TỨC HIỆN RA ((THẾ KỶ 21)) TỨC((((((((2) SỬU LÀ ( 1)TÝ TỨC HUYỀN KÝ)))) CỦA( TRẦN HỒNG MINH) LẬP (ĐẠO LÀM NGƯỜI) TỨC MỞ RA (HỘI LONG HOA )BẮT ĐẦU TỪ NGÀY HÔM NAY CỦA CHÚNG SINH VẠN VẬT MUÔN LOÀI SẼ CHỨNG NGỘ ĐẠT ĐƯỢC MỌI ÁNH SÁNG CỦA ĐẠO PHÁP CỦA TA MỞ RA NGÀY HÔM NAY .............((((LÝ THÁI BẠCH)))) TỨC (((TRẦN THIÊN VĂN )))SINH NĂM 1978 TỨC((( ĐỨC CỐ QUẢN))) TỨC (((KINH ĐÀ LA))) TỨC HÓA HIỆN NHỮNG VỊ SƠN THẦN ((((((2 ÔNG HỔ TRẮNG +1 ÔNG RÙA VÀNG VÀ 8 CON RỒNG VÀNG)))))TỨC(((( 2+1+8=11))))) LÝ THÁI BẠCH TỨC (((((SỐ ((((11 CHỮ BẠCH))))))TỨC (((((2 CỤC ĐÁ ÂM DƯƠNG ))))TRONG ĐỀN THỜ TỨC SỐ VÀ CHỮ CHÉO QUA CHÉO LẠI TỨC TRÁI XOÀI TỨC LÂU ĐÀI CỦA VỊ((( THẦN))) HIỆN RA VỊ ((((TIÊN))) TỨC(((( ĐẠO THẦN TIÊN ))) TỨC HÓA HIỆN RA (((THIÊN THỜI+ ĐỊA LỢI +GIAO HÒA +TỨC ( CƠ TRỜI HÉ MỞ RA CHỮ (THIỆN) TỨC((( THIÊN NHÃN )))CỦA TỨC CHỮ VẠN PHÁP ĐỒNG QUI TỨC (((((LONG LÂN QUI PHỤNG ))))THỜ TRONG ĐỀN
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/05/202003:48(Xem: 7602)
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của Ngài cao hơn núi cao Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu hơn biển sâu Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô diễn
06/05/202004:19(Xem: 2891)
Tiểu sử Đức Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN – Đại Lão Hòa Thượng THÍCH TỊNH KHIẾT , Đệ nhất Tăng Thống - HT Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng thế danh là NGUYỄN VĂN KỈNH. Ngài sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (nhằm ngày 17.12.1891)(1) tại làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Nay là thôn Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của ngài là cụ Nguyễn Văn Toán, thân mẫu là cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con thứ hai(2). Bào huynh là Hòa Thượng Trừng Hương – Tịnh Hạnh (chúng tôi chưa tìm thấy thế danh của ngài). Hòa Thượng Tịnh Hạnh sinh năm Kỷ Sửu, 1889; xuất gia năm Ất Tỵ, 1905; thọ Cụ-túc giới năm Canh Tuất, 1910; trụ trì chùa Tường Vân, Huế; viên tịch năm Quý Dậu, 1933.
04/05/202006:21(Xem: 3226)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
02/05/202005:16(Xem: 15691)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được tin buồn: Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 21 giờ 20 phút ngày Thứ Bảy 22/02/2020 nhằm ngày 29/01 Âm lịch năm Canh Tý, Phật lịch 2563 tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, Sài Gòn. Trụ thế: 93 năm. Chương trình tang lễ sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất có thể. Chúng con thành kính nguyện cầu Đức Đại Lão Hòa Thượng Cao Đăng Phật Quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta Ba để tiếp tục công cuộc hoằng Pháp lợi sanh. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
05/05/202006:23(Xem: 11557)
Như Áng Mây Bay là một phần thành quả của sự huân tập ý đạo, là một phần của cuộc hành trình đầy mạo hiểm mà ta gọi là kiếp người.
04/10/202016:36(Xem: 1484)
Hoà Thượng Trú Trì chùa Đức Lâm, Pháp Danh thượng Như hạ Thích, Pháp Tự thượng Giải hạ Thiện, thuộc dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 41. Hoà Thượng thế danh là Lê Xiết, sanh năm 1941 tại xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ Ngài là cụ ông Lê Sáu. Thân mẫu Ngài là cụ bà Nguyễn Thị Mực. Hoà Thượng xuất thân trong một gia đình trung nông, thâm tín Tam Bảo. Hoà Thượng là người con thứ sáu trong gia đình có bảy chị em. Năm lên 8 tuổi, Ngài được thân phụ và thân mẫu cho phép về nương Hoà Thượng thượng Pháp hạ Bửu trú trì chùa Từ Quang, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi để xuất gia học đạo. Ở tuổi ấu thơ nhưng với bản tánh hiền hoà, giản dị, tinh cần chăm chỉ, tinh tấn, sớm kệ chiều kinh, công phu, chấp tác, nên Ngài được Hoà Thượng bổn sư và huynh đệ thương mến, nâng đỡ, dắt dìu.
04/09/202011:19(Xem: 2172)
Thư Khánh Tuế (Viện Tăng Thống, TK Thích Tuệ Sỹ) diễn đọc: Phật tử Diệu Danh, lồng nhạc: Phật tử Quảng Phước
14/07/202008:48(Xem: 4609)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được ai tin: Hòa Thượng Thích Phước Sơn (1937-2020) vừa thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 3h15 phút sáng nay 16/4/Canh Tý , Chủ Nhật ngày 07 tháng 6 năm 2020 tại Sài Gòn, Việt Nam. Chương trình tang lễ sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất có thể. Hòa Thượng Thích Phước Sơn là một bậc cao tăng thạc đức, một nhà Phật học lỗi lạc, một dịch giả, tác giả nổi tiếng, một giáo thọ sư của nhiều thế hệ tăng ni Việt Nam. Chúng con thành kính nguyện cầu Hòa Thượng tân viên tịch Cao Đăng Phật Quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta Ba để tiếp tục công cuộc hoằng Pháp lợi sanh. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật Chủ Biên Trang Nhà Quảng Đức Cựu học tăng tại Vạn Hạnh (khóa 3) TK. Thích Nguyên Tạng
28/06/202018:15(Xem: 1803)
Bức tượng được sơn son thếp vàng, tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen nằm đè lên.
11/01/201913:22(Xem: 3620)
Co lẽ mùa trăng Thành Đạo 2562 – 2018 sẽ khó quên đối với nhạc sĩ Hằng Vang và gia đình, khi giữa bao cơn lốc thực dụng xâm chiếm nhiều ngõ ngách cuộc sống và lấn sang cả khu vực luôn được bảo trọng của tâm hồn trong từng con người: Trái tim ! Nếu nói về một sự tưởng thưởng hay tri ân thì nhạc sĩ Hằng Vang có thể còn đi bên trên những khuôn sáo, danh vọng đó. Hơn thế nữa sẽ không ai có thể nhân danh để ghi nhận sự tận tâm , cống hiến gần cả cuộc đời cho âm nhạc Phật giáo mà không hề đòi hỏi một đồng lương, một phần thưởng nào trong suốt 86 năm dài tận tụy của người nhạc sĩ lão thành hiện đang còn sống duy nhất bên chúng ta.