Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Đạo chỉ có một cội

12/04/201908:01(Xem: 2977)
Đạo chỉ có một cội
Phat_Thich_Ca_10

ĐẠO CHỈ CÓ MỘT CỘI,
NHƯNG PHÁP CÓ NHIỀU CÀNH 



Thế mới biết trăm sông rồi cũng đổ về biển, dung hòa một vị mặn của đại dương; muôn pháp cùng đổ vào biển tuệ, thuần một vị giải thoát.Những lời dạy của đức Phật được ghi chép thành Tam tạng kinh điển, trở thành một trong những kho tàng trí tuệ vĩ đại nhất của nhân loại.

Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật được truyền bá rộng rãi khắp năm châu và bị ảnh hưởng cũng không nhỏ bởi nhiều nền văn hóa khác. Từ đó, đạo Phật phát triển với các biểu tượng về tôn giáo, về các hình thức nghi lễ, và kể cả những pháp môn tu hành của những khóa tu ở mỗi nơi.Chính vì thế, đạo Phật bị đa dạng hoá về hình thức lẫn nội dung tu tập, thể hiện qua nhiều pháp môn. Như vậy trong thời đại bây giờ, đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn; pháp môn nào là đúng, phápmôn nào là sai? Không có pháp môn nào là đúng và không có pháp môn nào là sai cả. Tại sao? Vì pháp môn tu không có lỗi, mà lỗi ở tại con người làm đúng hay sai mà thôi.

Thuốc không luận mắc rẻ, nếu trị lành bệnh là thuốc hay. Pháp môn không luận thấp cao, nếu đưa người ra khỏi sanh tử, đó là pháp diệu. Một đời thị hiện giáo hóa của đức Bổn sư không ngoài mục đích ấy, muốn cho tất cả chúng sinh đều được thoát khỏi sinh tử luân hồi.

Hãy nhìn kỹ; Đạo Phật là một tôn giáo xây dựng trên nền tảng trí thông minh, khoa học và sự hiểu biết chân chính. Tất cả mọi hình thức tôn thờ hướng vào các vật thể thiêng liêng bằng những lễ nhạc đặc thù của mỗi dân tộc nói chung, giáo phái nói riêng, thì không thể nói cái nào đúng hoặc cái nào sai được. Vì nếu đúng với người này sẽ sai với người khác và ngược lại…

Đức Phật là một bậc thầy vĩ đại của toàn nhân loại, nên những lời dạy của Ngài không chỉ nhắm đến một số người (dân tộc) đặc biệt nào, mà là dành cho tất cả mọi người.Do đó, trong những lời dạy của Ngài, ta sẽ tìm thấy sự thích nghi với đủ mọi hạng người, mọi lứa tuổi, giúp cho mọi người ai cũng có thể tiếp nhận và làm theo.Chỉ trừ phi chính bản thân người đó vì quá si mê (chấp ngã) đến nỗi từ chối không chịu tiếp nhận mà thôi. Đức Phật gọi những hạng người này là nhất-xiển-đề.

Sao gọi là nhất-xiển-đề? Nhất-xiển-đề là kẻ dứt tuyệt gốc rễ của mọi điều lành, lòng không nương theo bất cứ pháp lành nào, thậm chí chẳng sanh được một niệm lành, nên không thể tiếp nhận được lợi ích từ lời dạy của Phật. Như vậy, ngoài những kẻ nhất-xiển-đề ra, thì còn ai nữa?Hãy xem ai trong chúng ta là người như vậy?

Khi mới bước chân vào đạo, ai cũng thành kính, thiết tha muốn được thấy rõ pháp môn nào dễ tu dễ thành, để đưa mình đến sự giác ngộ giải thoát nhanh nhất. Cũng giống như một tờ giấy trắng, chúng tađược ghi chép theo năm tháng với những gì mình tiếp thu, học hỏi được …. từ các bậc thầy và thiện tri thức.

Nên có câu:‘Nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật’. Nghĩa là ngày đầu mình đến chùa, thấy tu theo Phật sao dễ dàng quá, nhưng sau ba năm tu thì không còn thấy Phật nữa. Đúng như trongKinh Kim Cang Phật nói:“Nhược  sắc kiến ngãDĩ âm thanh cầu ngã. Thị nhân hành tà đạoBất năng kiến Như Lai.” Nghĩa là: Nếu do sắc thấy ta. Do âm thanh cầu ta.Người ấy hành tà đạo. Không thể thấy Như Lai.

Câu nhứt niên Phật tại tiền: Năm đầu khi mới tu, tâm Phật, lời nói đầy lòng từ bi, ái ngữ, niềm nỡ, ngôn từ xây dựng đoàn kết yêu thương, đùm bọc, chở che, chân thành với công việc, cần mẫn chắt chiu trong công việc phụng sự Tam Bảo. Không một lời chê trách, dèm pha, phiền hà, chia rẽ, bất hòa, hay cố chấp.

Câu nhị niên Phật thăngthiên: Đến năm thứ 2 thì tâm Phật bắt đầu xa dần.  Trong giai đoạn này nếu chúng ta không gặp được Thầy hay bạn tốt để gần kề sách tấn, chỉ bày chia sẻ, đưa đường chỉ lối đúng chánh pháp, hợp thời cơ, ứng dụng Phật pháp hằng ngày trong đời sống, đúng nơi, đúng chỗ, đúng người, thì chúng ta rất dễ bị lôi cuốn theo dòng nghiệp vốn sẵn có củamình, bản tánh lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng… Si mê bắt đầu trổi dậy, mê muội bắt đầu dẫn dắt kết bạn với ma (bạn dữ).

Lời nói bắt đầu thiếu hẳn sự trung thực, bóp méo, xuyên tạc, chánh ngữ không còn nữa với người có Bồ Đề tâm.Những sở tâm, sở đoản, ngã chấp, ngã si và tập khí đã dành chỗ ngự trị trong thân ô trược này rồi.

Câu tam niên bất kiến Phật: Đến năm thứ 3 thì không còn thấy Phật nữa. Khi Phật đã rời xa nghìn dặm, thì ái ngữ, lợi hành, đồng sự đâu còn nữa? Bấy giờ mọi người tha hồ tung hoành, vung vãi từ lời nói đến việc làm đều thiếu hẳn lòng từ bi của tâm Phật. Sáu nẻo luân hồi cũng bắt nguồn từ đây mà kết tụ và lôi kéo ta đi, và cuối cùng tatrở thành kẻ nhất-xiển-đề thứ hai. (Nếu không nói là xiển niển luôn!)

Tất cả những ý này muốn nói lên điều gì? Những ngụ ý này, nhằm nhắc nhỡ hàng đệ tử xuất gia cũng như tại gia, nên tránh xa những điều dễ bị mắc phải, để Bồ đề tâm luôn vững mạnh như sơ phát tâm thuở ban đầu, để tiếp tục dấn thân trên bước đường tu học và hộ trì chánh pháp.

Sở dĩ người tu (xuất gia và tại gia) ở thời mạt pháp ít được hiệu nghiệm, ấy bởi do tín, nguyện, hạnh không chuyên, nên chưa thể dẫn đến hạnh lành để trở về cõi tịnh. Nếu chúng ta đang cùng nhau tu tập nhân thanh tịnh, thì quả cũng phải thanh tịnh, nếu không xét kỹ chỗ sơ phát tâm, làm sao biết rõ đường lối nào thoát khổ.

Chúng ta cần phải đầy đủ lòng tin chân thật. Nếu không có lòng tin chân thật, tuy ăn chay, ngồi thiền, niệm Phật, trì chú, phóng sinh, tu phước, chỉ là người lành ở thế gian, chỉ hưởng phước báo cõi trời, cõi người. Lúc hưởng phước vui thì tạo nghiệp, đã tạo nghiệp ắt phải rơi vào nẻo khổ. Dùng cái nhìn chân chính mà xét về điều này, chỉ hơn hạng nhất Xiển-đề một chút thôi.

Nói đến lòng tin nghĩa là:

Thứ nhất phải tin: Tâm, Phật và chúng sinh, cả ba không khác biệt. Ta là Phật chưa thành, đức Thích Ca là Phật đã thành. Tánh giác không hai. Ta tuy điên đảo mê lầm nhưng tánh giác chưa từng mất. Ta tuy nhiều kiếp luân chuyển, nhưng tánh giác chưa từng động. Nên nói: Đừng xem thường người tu chưa chứng ngộ. Chỉ một niệm soi lại liền đồng với bản đắc như lai.

Thứ hai phải tin: Ta là Phật lý tánh, Phật danh tự. Đức Thích Ca tuy là Phật đã giác ngộ. Tánh tuy không hai, nhưng ngôi vị thì cách xa như trời với vực. Nếu không chuyên tâm tu trì, cầu sanh về cõi Tịnh, thì ắt phải theo nghiệp dữ lưu chuyển, chịu khổ vô cùng! Đây gọi là báo thân lưu chuyển trong sáu đường, chẳng gọi là Phật, mà gọi là chúng sinh.

Thứ ba phải tin: Ta dù nghiệp sâu chướng nặng, phước mỏng tội dày, sống lâu nơi cảnh khổ, nên vẫn là chúng sinh. Phật tuy muôn đức trang nghiêm ở xa ngoài mười muôn ức cõi, cũng là đức Phật trong tâm chúng ta. Đã là tâm tánh không hai, tự nhiên đạo cảm ứng qua lại. Sự thiết tha của ta ắt có thể cảm. Lòng từ bi của Phật ắt có thể ứng. Như đá nam châm hút sắt, việc nầy không thể nghi ngờ. Đây gọi là: Phật nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con. Thì mẹ con dù trải qua nhiều đời cũng chẳng xa nhau.

Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật, trong hiện tại, tương lai nhất định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa. Đủ lòng tin chân thật như trên, dù chút phước điểm lành như hạt bụi,mảy lông, đều có thể hồi hướng tây phương trang nghiêm tịnh độ. Huống chi trì trai giữ giới, bố thí, phóng sinh, tụng kinh điển Đại thừa, cúng dường Tam Bảo, tu các hạnh lành, lẽ nào không đủ để làm hành trang để về cõi Tịnh độ hay niết bàn sao?

Chỉ e lòng tin không đủ chân thật, mới khiến đắm chìm nơi ba cõi sáu đường. Cho nên, trong việc tu hành hiện nay, không có bí quyết gì khác là trong hai mươi bốn giờ củng cố thêm ba niềm tin (tam bảo) chân thật này, thì tất cả sẽ có câu trả lời cho việc tu hành của chúng ta.

Niềm tin căn bản trong đạo Phật là niềm tin Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Tin vào khả năng giác ngộ của chính mình, tin mình có thể đạt đến chỗ toàn chân, toàn mỹ và giác ngộ giải thoát. Một khi đã có niềm tin nơi Tam bảo là những gì được xem như là chân lý, là thánh thiện thì chúng ta phải phấn đấu hướng đến những gì tốt đẹp nhất, để đạt được mục tiêu an lạc hạnh phúc trong hiện tại và tương lai, giống như con thuyền đã xác định phương hướng, và bến đỗ của nó.

Người tu hành nói chung trên bước đường tu học cũng giống như một con thuyền đang lướt sóng trên biển, tức là phải gặp nhiều khó khăn gian khổ, chông gai thử thách. Nhưng khi con thuyền đã xác định rõ phương hướng, biết đích xác đâu là bờ, đâu là điểm đến, thì chỉ còn nhờ vào sự nỗ lực và tài năng khéo léo của bản thân mình mà thôi.

Người Phật tử cũng vậy, một khi đã có niềm tin vững chắc vào Tam bảo, vào tự thân, đã thấy rõ mục tiêu hướng đến, bằng sự tinh tấn nỗ lực sẽ mau chóng thành tựu, đạt được lý tưởng của mình. Nếu niềm tin không vững chắc, hoặc tin mà không có trí tuệ, thì niềm tin ấy dễ dàng bị lung lay bởi sự tác động của hoàn cảnh hay ngoại đạo, tà giáo ….kéo đi biệt tích.

Đúng là; cái khổ của một con lừa, con lạc đà chở nặng chưa phải là khổ, cái khổ lớn nhất của con người chính là không biết chọn cho mình con đường nào để đi,và điểm nào đểđến.

Đức Phật dạy chọn pháp tu (trạch pháp) đứng hàng đầu. Mục đích tu học Phật là gì? Là lìa khổ được vui. Tức là phải nhanh chóng lìa xa biển khổ, và phải thành tựu được cái vui cứu cánh, cái vui viên mãn. Muốn được vậy ta phải chọn pháp môn tu hợp với;

a)      Căn tánh của chính mình

b)      Trình độ của chính mình

c)       Hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình

d)      Nguyện vọng của chính mình

Phật nói tuy nhiềupháp môn tu, nhưng mục đích chính cũngchỉ có hai chữ “giải thoát”, tức là làm sao chúng ta không bị phiền não chi phối, quấy rầy. Tu pháp môn nào cũng nhằm giải quyết như vậy là chính yếu.Vì vậy, học pháp môn này tu mà chê pháp môn khác là sai lầm. Chọn pháp môn thích hợp với mình áp dụng để được giải thoát, nghiệp chướng nhiều đời của mình được lắng yên. Được chừng đó thôi, thiết nghĩ cũngtạm đủ để giúp chúng ta tiến xa trên lộ trình giác ngộ và giải thoát.

Phật dạy rằng: “Giáo pháp (pháp môn tu) như chiếc bè để sang sông, không phải để ôm giữ. Phải hiểu; Chánh pháp còn xả bỏ huống hồ là phi pháp”. Hay: “Giáo pháp như ngón tay để chỉ mặt trăng. Muốn thấy được mặt trăng, nên biết ngón tay để chỉ mặt trăng tuyệt đối không phải mặt trăng (nó chỉ là phương tiện)”. Cho nên, tất cả mọi pháp môn tu đều nhằm chỉ bày chân lý của đạo Phật, như ngón tay để chỉ mặt trăng; ngón tay là phương tiện để hướng đến mặt trăng, mà mặt trăng là tượng trưng cho ánh sáng của chân lý.Mục đích tối thượng của người tu hành là đoạn tận khổ đau, đạt được an lạc, giải thoát.Trong kinh điển, Phật đã chỉ dạy rất nhiềupháp môn tu tập khác nhau, thích hợp với từng hạng người. Chính nhờ có sự phong phú đa dạng này mà đạo Phật truyền đến đâu cũng mang lại lợi lạc cho mọi người đến đó.

Nói đến những pháp môn tu trong đạo Phật ví như dòng suối trong mát kia, chỉ cần uống vào từng ngụm nhỏ cũng có thể giúp chúng ta xua tan đi cơn khát cháy, đừng như kẻ ngu si trong câu chuyện dưới đây, chỉ vì nhìn thấy nước suối quá nhiều mà không chịu uống!Điển hình trong kinh điển Phật giáo có ghi lại một câu chuyện mà đức Phật đã dùng để minh họa cho việc tiếp cận với giáo pháp, và các pháp môn tu.

Có một người đang cơn khát cháy và tìm được đến một dòng suối mát. Nhưng anh ta cứ quỳ mãi bên dòng suối mà không uống ngụm nước nào. Mọi người thấy lạ liền đến hỏi lý do, người ấy đáp: “Nước suối này nhiều quá, tôi không thể nào uống hết. Vì thế mà tôi không uống.” Ai nấy nghe vậy đều bật cười trước sự ngu si của người ấy.

Chúng ta khi họckinh điển của Phật giáo hoặc tu theo những pháp môn mà ta yêu thích, thì cũng nên ghi nhớ câu chuyện ngụ ngôn này, để không trở thành kẻ ngu si như người khát nước trong câu chuyện. Đơn giản chỉ cần chọn lấy một pháp môn nào tu tập nào thích hợp nhất với bản thân ta, và tinh tấn tu tập thì chắc chắn sẽ có được sự lợi ích. Bằng như chỉ xem qua mà không tự mình tu tập thì cũng chẳng khác nào như kẻ ngu si kia, dù ở bên dòng suối cũng chẳng thể làm nguôi đi cơn khát.

 

Ven. Chân Truyền














Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/09/2022(Xem: 245)
Tại Pháp, cơn đại dịch thực sự bắt đầu vào khoảng tháng ba năm 2020, với các lịnh phong tỏa, hạn chế những sinh hoạt bình thường của dân chúng như mua bán, di chuyển, tụ họp, ngay cả các công ty, công sở, các văn phòng cũng phải hạn chế số nhân viên, nhân công…Nhưng oái ăm thay, tại các bệnh viện thì bịnh nhân quá đông mà bác sĩ, y tá, phụ tá, cho đến hạ tầng cơ sở, các lao công lo phần vệ sinh, quét dọn cũng không đủ để đảm nhiệm cho xuể mọi công việc. Khởi đầu nạn dịch quả thật đem lại nhiều lo âu cho mọi người. Nhưng rồi, phía chính phủ cũng như dân chúng, ai cũng phải cố gắng, hi sinh để đương đầu với đại nạn. Và dần dà những khó khăn ban đầu cũng được khắc phục.
20/09/2022(Xem: 211)
Kẻ trí tuệ ít lỗi lầm và khi phạm lỗi thì nhận biết và tu sửa. Kẻ ngu si không biết lỗi lầm và khi nhận biết thì biện minh mà không hề tu sửa. -Kẻ trí tuệ trước mọi sự việc đều tìm hiểu và phân tích lợi-hại. Còn kẻ ngu si chỉ nhìn thấy lợi mà không thấy hại. -Kẻ trí tuệ biết đo lường thời thế. Còn kẻ ngu si thì làm bừa, khi thất bại lại đổ lỗi cho Trời. Tức khí nhảy ra đâm chém dễ. Nhẫn nhục chờ thời khó, “Khảng khái cần vương dị. Thung dung tựu nghĩa nan.” (Lý Trần Quán Tiến Sĩ đời Lê Trung Hưng) -Kẻ ngu si kết bạn bừa bãi, thường rủ rê đi các nơi ăn chơi như phòng trà ca vũ, quán nhậu, hát karaoke, hoặc tổ chức ăn nhậu ồn ào ở nhà khiến vợ con phải hầu hạ, buồn phiền. Rồi chỉ vì một cử chỉ hay lời nói gì đó mà vung dao giết nhau. Chính vì thế mà kẻ ngu si thường đem giặc cướp về nhà. Kẻ trí tuệ tiếp bạn một cách trang trọng. thanh lịch, lễ độ và chừng mực. “Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao điềm như mật”.
15/06/2022(Xem: 1273)
Bản ngã là một chủ đề từ lâu các nhà chú giải và quý giảng sư thường nhắc đến. Người viết chưa đủ khả năng lạm bàn, nhưng sở dĩ bài viết này có được…đó nhờ mục hỏi đáp của Trung tâm Hộ Tông với tiêu đề “ BẢN NGà VÀ ĐẠI NGÔ qua các câu hỏi của tứ chúng từ khắp nơi trong và ngoài nước gửi về và đã được Hoà Thượng Viên Minh hồi đáp.
24/02/2022(Xem: 3014)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
17/11/2021(Xem: 10371)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
13/11/2021(Xem: 6073)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/10/2020(Xem: 2884)
Bài viết này kính tri ân lời dạy của Sư Phụ Viên Mình trong bài pháp thoại “10 ba la mật “ và sự khuyến khích của Thượng Toạ Thích Nguyên Tạng “hãy thọ trì đọc tụng Kinh Bát Nhã Ba La Mật và nghe các bài tổng luận “ đang được đăng tải trên trangnhaquangduc Kính đa tạ và tri ân quý Ngài và kính xin phép được trình bày những điều con học được và kính xin quý Chư Tôn Đức và các bạn đạo tha thứ cho sự mạo muội của hậu bối vì dám “múa rìu qua mắt “, nhưng con trộm nghĩ .
16/09/2020(Xem: 3654)
Một Phật tử tại gia như tôi không biết gặp duyên phước nào để có thể được ghi lại vài cảm nghĩ về một bài viết mà cốt lõi chính yếu nằm trong Duy Thức Học , một bộ môn khó nhất cho những ai đã theo Đại Thừa Phật Giáo chỉ đứng hàng thứ hai sau Bộ kinh Đại Bát Nhã và hơn thế nữa những lời dẫn chứng lại trích từ quý Cao Tăng Thạc Đức rất uyên bác trác tuyệt về giáo lý Phật Đà như Đệ lục Tăng Thống HT Thích Tuệ Sỹ và Cố Thiền Sư Nhật Bản Daisetz Teitaro Suzuki.
12/09/2020(Xem: 4383)
Cây danh mộc gumtree là đặc sản của Úc có nhiều loại như ta thường biết qua cây khuynh diệp, vì giống cây này đã được biến chế thành, dầu khuynh diệp trị cảm mạo hiệu quả. Chúng thường mọc tự nhiên thành rừng thiên nhiên, thân to cao, có loại vạm vỡ oai phong như lực sỹ trên võ đài, cho bóng mát cùng nhiều công dụng khác như xay thành bột chế tạo giấy các loại đa dụng, cũng như dùng làm cột trụ giăng dây điện trong nhiều thập niên qua, và đồng thời cũng là thức ăn ưa thích của loài mối (termites) nên con người hơi ngán mấy “ông thần nước mặn” này lắm. Từ này tự chế ám chỉ loài côn trùng bé nhỏ hay cắn phá làm hại hoa màu của giới nhà nông dãi dầu một nắng hai sương như chuột, chim, châu chấu, sâu rầy… cũng để gán cho những kẻ ngang bướng đều bị dán nhãn hiệu đó.
17/06/2020(Xem: 4662)
Tuy được duyên may tham dự khoá tu học Phật Pháp Úc Châu kỳ 19 tổ chức tại thủ đô Canberra và Ngài Ôn Hội Chủ thường xuyên hiện diện với hội chúng, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp đảnh lễ Ngài dù đã nhiều lần làm thơ xưng tán hoặc bày tỏ cảm nghĩ của mình khi đọc được tác phẩm được in thành sách hoặc trên các trang mạng Phật Giáo .
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,512,788