Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chúng tôi học Kinh Hoa Nghiêm ( 10)

10/04/201313:47(Xem: 2105)
Chúng tôi học Kinh Hoa Nghiêm ( 10)

Học Kinh (10)

Chúng Tôi Học tiếp Kinh Hoa Nghiêm
Phẩm Nhập Pháp Giới


Tâm Minh ghi

---o0o---

Thân kính tặng Anh Chị Em Áo Lam


Theo chương trình học Kinh của Chúng, hôm nay ACE chúng tôi tiếp tục học Hoa Nghiêm , đi vào phẩm thứ 39 : Nhập Pháp Giới. Phẩm này được giảng tại đạo tràng Đại Trang Nghiêm nơi rừng Thệ Đà, vườn Cấp Cô Độc với hai ngài Phổ Hiền Bồ Tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ tát làm thượng thủ. Thính chúng của đai hội này cũng rất đặc biệt ; đó là những vị Bồ tát ‘đều đã thành tựu hạnh nguyện Phổ Hiền cảnh giới vô ngại’ đó là những vị Thanh Văn ‘đều đã giác ngộ chơn đế, đều chứng thiệt đế, thâm nhập pháp tánh, thoát hẵn biển hữu lậu. . . Tâm các ngài tịch tịnh như hư không. . .’ ; đó là những vị Thế Chủ ‘ hằng siêng thủ hộ thệ nguyện chẳng bỏ chúng sanh. Đã nhập thế gian thù thắng trí môn. Từ Phật giáo sanh. Hộ trì chánh pháp. Phát đại nguyện chẳng để dứt Phật chủng. Sanh nhà Như Lai , cầu nhứt thiết trí.’ (Kinh Hoa Nghiêm, tập IV trang 11,12) Nói cách khác, các ngài đã dến đây tham dự đại hội này theo ‘lời mời’ của đức Phật, một lời mời không phải bằng giấy tờ chữ nghĩa của thế gian hay bằng những e-mail thông tin trên mạng lưới internet mà ai cũng có thể nhận được, nhưng là bằng những dấu hiệu đặc biệt của đức Thế Tôn : bằng thiền định, đức Phật nhập ‘sư tử tần thân tam muội’( thiền định của con sư tử vươn mình) để rải tâm Đại bi tràn đầy cả hư không vô tận , làm trang nghiêm thế gian và làm cho rừng Thệ Đà bỗng nhiên rộng lớn như hư không, đồng với ‘bất khả thuyết Phật sát vi trần số quốc độ, và cảnh đạo tràng rực sáng vì được trang hoàng bằng vô số lượng ngọc lưu ly . . .’ (tr.14)

Lúc ấy, Bồ tát Phổ Hiền dùng nhiều phương tiện thiện xảo ( đồng pháp giới, đồng hư không pháp giới, . . . .đồng tất cả chúng sanh nghiệp, đồng tất cả chúng sanh dục, đồng tất cả chúng sanh căn. .. ) vì chư Bồ tát khai thị ,chiếu rõ diễn thuyết sư tử tần thân tam muội này. Ngài giới thiệu một chương trình hoằng dương Phật Pháp rộng lớn, dưới mọi hình thức : những đòan thể đông như vi trần , cũng có thể chỉ một hai người, có thể chỉ là một người : như là một đại sĩ, một đạo sĩ, một thương gia, một nghệ sĩ v..v.. ( tr. 60)

Sau đó, ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói lại những biến hoá trong rừng Thệ Đa và từ đó , nói về tất cả trí tụệ chiếu sáng thế gian, hoặc nói đèn trí tuệ chiếu các cảnh giới của tất cả các pháp, giáo hoá thành thục tất cả chúng sanh nhưng vẫn chẳng rời khỏi rừng Thệ Đa của đức Như Lai (tr.82) .Rồi ngài rời khỏi Thiên Trụ lâu các ra đi cùng với vô lượng Bồ Tát đồng hạnh. Tôn gỉa Xá Lợi Phất tán thán vô lượng công đức trang nghiêm của ngài Văn Thù, làm cho chư vị tỳ kheo sau khi nghe xong khởi tâm tin hiểu vững chắc, sáu căn thanh tịnh , phát đại bi tâm và đại nguyện . Họ yêu cầu trưởng lão Xá Lợi Phất đưa họ đến chỗ ngài Văn Thù . Xá Lợi Phất bèn dẫn theo sáu ngàn vị tỳ kheo đến chỗ ngài Văn Thù sư Lợi Bồ tát. Ở đó, ngài Văn Thù khuyến khích các vị tỳ kheo trẻ hãy tinh tấn thành tựu mưòi hạnh dể có thể hành Bồ tát đạo , nhập Bồ tát địa và cả Như lai địa nữa. (tr. 88) Đó là 10 tâm nguyện rộng lớn sau đây :

1.Chứa nhóm tất cả thiện căn không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán

2. Thờ kính cúng dường tất cả chư Phật không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán

3. Mong cầu được học hỏi tất cả Phật Pháp không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán

4. Thực hành tất cả các hạnh Ba la Mật không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán

5.Thành tựu tất cả tam muội của Bồ Tát mà không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán

6. Lần lượt thâm nhập tất cả tam thế mà không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán

7. Làm trang nghiêm thanh tịnh các cõi Phật ở khắp mười phưong thế giới mà không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán .

8. Giáo hoá và điều phục tất cả chúng sanh không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán.

9. Thành tựu hạnh Bồ Tát trong tất cả các cõi, ở tất cả các kiếp, mà không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán .

10. Vì thành tựu một chúng sanh mà tu hành vô số ba la mật nhiều như số hạt bụi trong vô số thế giới Phật, thành tựu mười uy lực của Như Lai . Lần lượt như vậy, tiến đến mục đích thành thục tất cả chúng s
anh giới mà thành tựu tất cả trí lực của Như Lai lòng không bao giờ biết mệt mỏi, nhàm chán .

Sau khi nghe pháp này rồi, chư tỳ kheo thành tựu đuợc rất nhiều tam muội , bồ đề tâm, và Ba La Mật . . . và trụ hạnh Phổ Hiền tiếp tục con đường hành đạo , đoàn người dừng lại ở rừng Trang Nghiêm Tràng Ta La là nơi rất nổi tiếng vì ở đãy, chư Phật đã từng giáo hoá chúng sanh và đức Phật Thích Ca cũng đã từng ớ đó tu Bồ tát hạnh. Tại đây, Bồ tát Văn Thù giảng kinh Phổ chiếu Pháp giới, với một đại chúng vô cùng đông đảo và ngài đã phát hiện ra trong thính chúng một thanh niên với nhân cách lý tưởng, một hình ảnh pháp khí tuyệt vời : đó là Thiện Tài đồng tử. Ngài đã ‘thấy ‘ được tư cách phi phàm của Thiện tài và biết đưọc rằng những dấu hiệu ấy đã có từ lúc Thiện tài mới nhập thai, như lầu các thất bửu , bảy loại mỏ quí ( vàng, bạc, lưu ly, pha lê, trân châu, xa cừ, mả não, . . . ) nói lên nhân cách độc đáo và những đức tính sáng chói của vị thiện nam tử đặc biệt ‘có một không hai’ này (tr. 94) .

Sau thời pháp, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi rời khu rừng mà đi . Thiện Tài như bị một hấp lực không thể nào cưỡng lại nỗi, đó là lý tưởng cao đẹp của Bồ tát Đạo, nên đã chạy theo ngài Văn Thù, nói lên bài kệ gói trọn tâm nguyện của mình là được theo Thầy học Đạo , với ý chí sắt đá như ‘kim cương’ , như ‘đại địa chẳng động’, đã ‘vào ngôi Pháp vương’ ,đã ‘đội mão Trí vương’, đã ‘vấn lụa diệu pháp’. . . bài kệ đầy khẩu khí khiến ngài Văn Thù xoay lại nhìn Thiện Tài như trong tư thái của một con tượng vương(voi chúa) , ca ngợi chí nguyện cao cả của người tuổi trẻ này và đồng ý nhận Thiện Tài làm đệ tử, chỉ dạy cho chàng rằng muốn thành tựu nhất thiết chủng trí thì phải quyết định cầu chân thiện tri thức không bao giờ biết mệt mỏi, không bao giờ thấy nhàm chán, chỉ thấy phương tiện thiện xảo nơi thiện tri thức mà không thấy lỗi lầm ( tr. 105) . Từ đây, Thiện Tài vâng lời Thầy, từ giả ân sư ra đi về phía nam trên núi Diệu Phong để được học với thầy Đức Vân về hạnh Bồ tát, tu theo hạnh Bồ tát , rồi viên mãn hạnh Phổ Hiền . . . Từ đây, Thiện Tài đồng Tử tuy phải bùi ngùi rời khỏi sư phụ, một mình dong ruỗi trên đừơng học Đạo nhưng không cảm thấy cô đơn nữa vì đã có lý tưởng và vị Thầy Văn Thù kính yêu trong lòng, vì đã biết rằng sẽ có những vị Thầy trong tương lai đang chờ đợi mình ở một nơi nào đó, những người bạn cùng lý tưởng ở một phuơng trời xa, chưa quen nhưng rồi sẽ quen . . .

Đây là một hành trình vô định vì biển học mênh mông; chưa biết bao giờ kết thúc, đó là lý do tại sao phẩm Nhập Pháp giới này là phẩm Kinh dài nhất của Hoa Nghiêm. Để tóm tắt nội dung chủ yếu của việc tầm sư học đạo của Thiện tài Đồng tử, gồm 53 giai đọan trong 53 bối cảnh khác nhau, ứng với hành trình tu tập của Bồ tát Đạo: thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa & Đẳng giác, Diệu Giác, Phật Đà. ACE chúng tôi ghi nhanh vào bảng sau đây ( tr.106- tr.780 ):

Bài học : người dạy:

Phát Bồ Đề tâm, cầu thiện tri thức BT Văn Thù Sư Lợi

Tu Bồ Tát Đạo, viên mãn hạnh Phổ hiền Tỳ kheo Đức Vân

Vô ngại thần túc thông Trưởng lão Thiện Trụ

Trì chú Đà la ni Thượng tọa Di Già

Thiền Trưởng giả Giải Thoát

Phép ‘Quán tưởng’ Thiền sư Hải Vân

Pháp môn niệm Phật Hoà thượng Công Dức Vân

Pháp môn Lục độ và Bát Nhã Hoà thượng Hải Tràng ,

Thần Bảo Nhãn

Qủy vương la Sát

Và Phật Mẫu Maya(có4 người dạy)

Diệt trừ phiền não Ưu bà di Hữu Xả

Pháp môn ‘Bồ Tát Vô thắng tràng giải thoát’ Tiên Ông Tỳ Mục Cù Sa

Pháp môn’Bánh xe giải thoát quay vô tận’ Bà la môn Thắng Nhiệt

(Bồ Tát Vô tận luân giải thoát)

Pháp môn ‘Bát Nhã phổ trang nghiêm’ Đồng nữ Từ Hạnh

P/M ‘Bồ tát tùy thuận đăng giải thoát’ Tỳ kheo Thiện Kiến

(Ngọn đèn trí tuệ của BT muốn soi tới đâu cũng được)

2 vị này giảng cho Thiện Tài về chân lý Tánh Không

Ngũ Minh pháp Đồng tử Tự tại Chủ,

( có 4 người dạy) Trưởng giả Ưu Bát La Hoa đồng tử Biến Hữu

và đồng tử Biến Tri

P/M Bố thí ba la Mật Ưu bà Di Cụ Túc & cư sĩ Minh Trí

Tứ Vô Lượng tâm :

Tâm Từ Vua Đại Quang

Tâm Bi Trưởng giả Pháp Bảo Kế

Tâm Hỷ ngoại đạo Biến Hành

Tâm Xả Vua Vô Yếm Túc

Lý Chân Không Trưởng giả Phổ Nhãn

Tinh tấn Ba La Mật : Ưu bà di Bất Động

Nhẫn nhục Ba La Mật Thuyền trưởng Bà Thi La

Trì giới Ba La Mật Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân

Tâm bình đẳng Thiện nữ Ba Tu Mật Đa

Tứ Nhiếp Pháp Trưởng giả Vô Thượng Thắng

Lý Chân Không Diệu Hữu Cư sĩ Tỳ Sác Chi La

Tâm Đại Bi BT Quán Tự Tại

Thí Chánh Pháp BT Chánh Thụ

Phá ngã chấp & pháp chấp Thần Đại Thiên

P/M Lục thông Thần An Trụ

Lý Nhị Không Dạ thần Bà San Bà Diễm Đề

Chữ Không Dạ thần thủ hộ nhất thiết Thành Đăng Trưởng Uy Lực

Chân Như Dạ thần Khai Phu Nhất thiết Thụ Hoa dạy

Thu thúc 6 căn Dạ thần Đại Nguyện Tinh Tiến Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh

Lý Nhân Duyên sanh Thích nữ Cù Ba

Thực Tuiớng của các Pháp Dạ thần Phổ Đức Tịnh Quang

Thực tại siêu việt của các Pháp Thiện nữ Thiện Chủ Quang

37 Phẩm Trợ Đạo Dạ thần Hỷ Mục Quan Sát Chúng sanh

và dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức

P/M Trung Đạo Thần Tịnh Tĩnh Âm Hải

Những Qủa vị tu chứng Thần Diệu Đức Viên Mãn

P/M Bất Nhị Trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát

Biệt Nghiệp-Cộng Nghiệp & Bà la Môn Tối Thắng Tĩnh

Chuyển Nghiệp thành Nguyện

Bát Nhã & Duy Thức Bồ tát Di Lặc

Vô Số Pháp hành vi diệu & Vô biên BT Văn Thù

số Đà la Ni

Phương pháp hành Bồ tát Đạo BT Phổ Hiền

Điều thích thú của ACE chúng tôi khi học phẩm Kinh này là thấy chưong trình tu học của mình cũng có được ghi trong chương trình học của Thiện Tài đồng tử như Duy Thức, Bát chánh đạo, Tứ nhiếp pháp, Lục độ ba la Mật v..v.. ( mặc dù chỉ là ‘chút chút’ thôi nhưng vậy cũng là vinh hạnh lắm rồi !!J J !!. ) Thế là mặc dù trong khi tóm lược Phẩm kinh, cũng đã có những bài hôc cụ thể rồi nhưng ACE cũng dành nhau phát biểu những bài học mà mình tâm đắc khi học qua Phẩm kinh Nhập Pháp Giới này . Đó là :

1. Phẩm kinh này nêu lên một căn bản giáo dục và sinh hoạt của thanh niên , mà chắc bác Tâm Minh Lê Đình Thám và các Anh Chị đầu đàn của GĐPT ngày xưa đã thấy được và xây dựng GĐPT theo mô hình này : đó là một tình bạn chân thành, một trái tim nóng bỏng yêu thương - nhìn lại 5 điều luật của ngành Thanh Thiếu & Huynh truởng cũng như 3 điều luật của Oanh Vũ hay đọc lại tác phẩm Ánh Đạo Vàng của anh Võ Đình Cường hồi đó, chúng ta thấy rất rõ điều này. Ngòai ra, cái mà chúng ta thường gọi là ‘tình Lam’ phải chăng là một tình bạn thiêng liêng cao quí, có khi hơn cả tình ruột thịt, giữa những người cùng lý tưởng, kết chặt ACE chúng ta, có khi đến một đơn vị chưa quen biết nhưng cũng đồng phục như chúng ta, cũng sinh hoạt vào ngày Chủ nhật, cũng chào cờ Sen Trắng, cũng tụng bài Sám hối, cũng kết giây thân ái v..v. . làm cho chúng ta thấy như đã quen nhau nhiều đời nhiều kiếp rồi vậy. Chúng ta mơ ước một ngày nào đó, Hoa Sen Trắng sẽ nở khắp nơi trên quả dất này để ánh sáng từ bi và trí tuệ của chư Phật và chư Bồ tát được gieo rắt khắp nơi xoa dịu những nỗi đau của trần gian này.( những điều này ACE chúng tôi nói với nhau từ những năm 80, không ngờ hơn 20 năm sau cũng được ứng nghiệm - và bây giờ khi ngồi ghi lại những dòng này là lúc chúng tôi đã quen được không biết bao nhiêu là ACE Áo Lam trên toàn thế giới : từ Âu Châu, Úc Châu đến Canada , Hoa Kỳ ; mà nếu kể chi tiết thì phải nói là từ Na Uy, Thụy Điển, Pháp , Đức , Bỉ , Hoà Lan đến Úc, Canada ,Hoa Kỳ . . . mà cũng chưa đủ ( vì người viết bài này không nắm được những đơn vị của Úc nằm trong những vùng nào của Châu Úc & Tân Tây Lan , đất nước đặc biệt là: khi tất cả chúng ta đang ở trong muà Hè thì ACE ở Úc đang ở trong mùa Đông và ngược lại !)

2. Bài học thứ hai là về ngài Văn Thù Sư Lợi , vị bồ tát tượng trưng cho hạnh Trí Huệ mà chúng ta cũng thường được nghe ‘Văn Thù là mẹ cuả chư Phật’ cũng bởi ý nghĩa này. Chúng ta thường ‘làm quen’ với hình ảnh ngài Đại Trí Văn Thù cưỡi sư tử xanh,tay cầm cây gươm là nói lên ý nghĩa khi sư tử rống lên thì mọi vật trong rừng đều im hơi lặng tiếng cũng như khi tiếng nói của đại Trí vang dậy thì vô minh phiền não phải lặng đi, phải bị chặt đứt v..v.. Ở đây, trong phẩm Nhập Pháp Giới này, chúng ta còn thấy rõ hơn ‘uy lực’ của Bồ Tát Văn Thù : ngài xoay mình như ‘tư thái cuả một con voi chuá’ và khi ngài cất tiếng thuyết pháp ( nghĩa là tiếng rống của sư tử đã cất cao) thì hạt giống giác ngộ đã có sẵn trong mỗi chúng sanh bị chấn động và nứt chồi. Đó là động cơ khiến Thiện tài đồng tử bị hấp lực của ngài ‘lôi đi’ và cũng là lý do mà trưởng giả Xá Lợi Phất ca ngợi Bồ Tát Văn Thù đưa đến kết quả là sáu ngàn thầy tỳ kheo trẻ đòi Xá lợi Phất dẫn họ đến chỗ ngài Văn Thù.

3. Bài học thứ ba gồm vô số bài học từ phong cách dạy dỗ, nói năng của những vị chân thiện tri thức mà Thiện Tài đồng tử đã được gặp cũng như thái độ của Thiện Tài đối với họ . Họ gồm đủ mọi thành phần trong xã hội , từ một ông vua, một đạo sĩ, một thiền giả, trưởng giả, thương gia, một vị thần . . . cho đến một em bé, một quỷ vương, một cô gái kỷ nữ, giang hồ . Tất cả mọi người đều hết lòng yêu mến dạy dỗ cho Thiện tài đồng tử và ngược lại Thiện Tài cũng hết mực cung kính trân quí tấm lòng của họ và khi rời xa, hai bên đều để lại trong lòng nhau một niềm quyến luyến làm giàu thêm cho hành trình tu học của chàng thanh niên tuổi trẻ tài cao và thông tuệ này. ACE chúng tôi đều học được rằng mọi người mà chúng ta có duyên được gặp trong đời này đều có thể là một vị thầy của chúng ta nếu chúng ta biết tận dụng những sở trường của họ ; gần nhất là ACE Áo lam của mình , và nhất là ‘những con ngựa chứng’ (có tài thường có tật mà !)nên phải nghe lời của Bồ Tát Văn Thù dạy Thiện tài ‘ chỉ thấy phương tiện thiện xảo nơi thiện tri thức mà không thấy lỗi lầm’ Đây cũng chính là phương pháp để duy trì hoà khí giữa ACE chúng ta trong sinh hoạt chung vậy.

4. Bài học thứ tư là về ý nghĩa biểu tượng của các tên người, địa danh và những con số mà chúng ta đã làm quen trong các Kinh Phật trước đây ; lấy ví dụ về vị thầy đầu tiên của Thiện Tài : ngài Đức Vân ở trên đỉnh núi Diệu Phong mà Thiện Tài đã phải khó khăn tìm kiếm trong 7 ngày mới gặp được. Đức Vân là đám mây đạo đức, đám mây lành che mát thế gian , ngài ở trên đỉnh núi, Thiện tài phải leo lên tới đỉnh núi mới gặp được - đỉnh núi là biểu trưng cho một vị trí vượt lên cao, lên trên đời thường. Càng lên cao, tầm nhìn của chúng ta càng rộng, càng thoáng (nhờ đó mà Thiện Tài học được pháp môn Phổ Kiến) . Sự kiện ‘bảy ngày’ mới gặp được ngài Đức Vân được giải thích là người học Đạo Thiện Tài phải trải qua 7 phương tiện ( hay học tập 7 giác chi)

5. Cách học Phật Pháp của Thiện Tài đồng tử không phải là học từ chương mà bằng vào sinh họat thực tiển như Tổ Huệ Năng bằng công phu giã gạo nơi đạo tràng Huỳnh Mai vậy. Do đó, những gì Thiện tài gặp trên đường tìm cầu chân thiện tri thức đều là những vấn đề phải học hỏi và mỗi thành tựu đều là những tiến bộ trên đường Đạo vì ‘Phật Pháp bất ly thế gian pháp.’ ACE chúng ta cũng vậy: sống, làm việc tham gia sinh hoạt GĐPT, dìu đắt đàn em . . . đều là vừa học vừa tu Đừng nói rằng ‘ làm việc GĐPT vừa tốn thì giờ, vừa tốn tiền bạc - vì không có lương đã đành mà việc gì cũng phải ‘móc túi ra,’ đã vậy còn chuốt lấy phiền não’ Qủa thật có như vậy mà không phải vậy vì thông qua việc làm ‘ ăn cơm nhà vác ngà voi’ này, vô hình chung, ACE chúng ta có thể thành tựu nhiều việc, tiến bộ về nhiều mặt, có nhiều niềm vui, v..v.. miễn là chúng ta luôn trung kiên với lý tưởng, không bao giờ biết mệt mỏi, không bao giờ thấy nhàm chán. Thiện Tài đã dùng hết cuộc đời mình để học, để sống thực nghĩa là áp dụng những bài học đó vào chính cuộc sống truớc mặt , dể chứng nghiệm sự đồng hoá giữa lý thuyết với thực tế cuộc sống , cho nên cuộc hành trình của Thiện tài mới được gọi là cuộc hành trình’ chứng nhập pháp giới’ nói cách khác là đi vào thế giới của ‘sự sự vô ngại’ hay nói theo sư phụ Tuệ Sỹ là ‘sống vĩnh cửu trong từng sát na và nhìn thấy vô biên trong từng hạt cát’ ( Thầy thường khuyên ACE chúng ta mở rộng lòng mình ra để ‘khoảnh khắc trở thành thiên thu và mỗi hạt cát là một đại thiên thế giới’ đúng là ý này đây phải không các bạn ?)

6. Bài học cuối cùng dể chấm dứt buổi học hôm nay là về P/M quán tưởng mà Thiện tài đồng tử đã học với ngài Hải Vân . ACE chúng tôi thật ngưỡng mộ đầu óc thông minh vĩ đại của Thiện Tài đã đành mà còn bội phục chàng ta ở khả năng quán tưởng nữa . Thiện tài đã ngồi nhìn mặt biển , quán tưởng về tính chất bao la & sâu thẳm của biển, khả năng chứa đựng vô số loài động , thực vật với muôn ngàn tính chất , màu sắc thay đổi không kể xiết & biển đã tiếp nhận vô số nguồn năng lượng từ trên trời đến dưới đáy biển v..v. rồi liên hệ với tính chất đa dạng, phức tạp của tâm, và cả vạn pháp v..v.. Thiện Tài đã giúp ACE chúng tôi phấn chấn tinh thần , tự hưá sẽ tinh tấn trong những giờ ngồi thiền và dành nhiều thì giờ hơn để đi vào việc quán chiếu những đề tài như Biển, Nước, ngoài thân, thọ . . . mà chúng ta thường thực tập.

Nói chung, chỉ riêng phẩm Nhập Pháp Giới này, ACE chúng tôi biết rằng mình học suốt đời cũng không xong vì trong mỗi bài học của Thiện tài là cũng đã có vô số bài học mà chúng ta có thể rút ra được rồi. Tuy nhiên, không chỉ với Hoa Nghiêm , mà với tất cả các Bộ Kinh khác, ACE chúng tôi cũng chỉ dám nghĩ rằng mình ‘cỡi ngựa xem hoa’ nhưng đi ngang qua rừng hoa thì cũng được thơm lây chút chút- đó là những bài học rút ra được đem áp dụng vào sinh hoạt riêng và sinh hoạt GĐPT để trao truyền phần nào cho các em mình , vậy là ‘mãn nguyện’ rồi.

Tâm Minh ghi


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/05/202003:48(Xem: 6997)
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của Ngài cao hơn núi cao Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu hơn biển sâu Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô diễn
30/09/202019:58(Xem: 105)
Cư sĩ Mahā Silā Vīravong, sử gia Lào, nhà ngữ văn, giáo viên dạy tiếng Pali, người hiện đại hóa bảng chữ cái Lào, một nhân vật trí thức lớn của nền độc lập Lào. Trong các cuộc đấu tranh chống lại sự cai trị của thực dân đế quốc Pháp, bằng cách tích cực hoạt động trong phong trào của Lào Issara mà ông lưu vong tại Vương quốc Thái Lan vào năm 1946.
29/09/202020:00(Xem: 220)
Bảy đại diện của Hội nghị Hàn Quốc về Tôn Giáo và Hòa Bình (KCRP), bao gồm Hòa thượng Viên Hạnh (원행스님 - 圓行和尚), Tổng vụ Viện trưởng Thiền phái Tào Khê đời thứ 36, đã gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ Hàn Quốc Chung Sye-kyun (정세균; Đinh Thế Quân), và cam kết hợp lực để tìm ra một kế hoạch hợp tác, đôi bên cùng có lợi cho cả các hoạt động tôn giáo và phòng chống cơn đại dịch hiểm ác Virus corona.
29/09/202017:49(Xem: 184)
Có lẽ chuyến du lịch hành hương không gian mạng, các bạn nhìn thấy một thứ tương tự như thế này từ một cửa hàng trực tuyến: “Chuỗi hạt Tây Tạng Mala Charm Vòng đeo tay Cát tường tuyệt đẹp này với các hạt màu phấn nhẹ nhàng, phù hợp để thực hành chân ngôn thần chú, và để đeo làm đồ trang sức”.
29/09/202009:28(Xem: 214)
Tứ là bốn, nhiếp là thu phục, pháp là phương pháp. “Tứ Nhiếp Pháp” là bốn phương pháp lợi tha, đã được Đức Phật Thích Ca dạy cho các đệ tử tại gia cũng như xuất gia của Ngài. Bốn pháp này nếu thực hành đúng đắn sẽ có công năng giúp con người lìa xa cuộc sống buông lung, phóng túng… mà theo đó dễ có những hành động bất thiện gieo khổ đau cho người và phiền não cho mình. Tứ Nhiếp Pháp giúp con người quay về với đường ngay nẻo phải, hay chính xác hơn là trở về với Phật pháp. Phật pháp là con đường tu hành chân chính, hướng về tâm linh đi đến giác ngộ giải thoát.
29/09/202007:49(Xem: 184)
Trong khi ý tưởng về Phật giáo đã đạt đến một vị thế rõ ràng trong triều đại nhà Minh (1368-1644) đã lỗi thời trong giới học giả, nó vẫn tồn tại bởi vì vẫn còn tồn tại quan niệm phổ biến, ngay cả trong giới Phật giáo đương đại, rằng Phật giáo đã đạt đến đỉnh cao về trí tuệ, và triết học vào triều đại nhà Đường (618-907), trước khi bị tê liệt bởi nhiều cuộc khủng hoảng và đàn áp, sau đó suy tàn vào triều đại nhà Tống (960-1279) và kế đến triều đại nhà Minh. Đây không phải là hoàn toàn nhầm lẫn, cũng không phải là đầy đủ câu chuyện. Nhà xuất bản Đại học Columbia một lần nữa đã phát hành một nghiên cứu đột phá, có thể thay đổi sự hiểu biết của học giả - và có lẽ là nhiều năm sau, sự hiểu biết phổ biến – về kinh nghiệm của Phật giáo vào triều đại nhà Minh.
29/09/202007:47(Xem: 279)
“So sánh với thế giới ngày nay, tôi nghĩ rằng mọi người ở khắp nơi đều cảm thấy hòa bình là rất quan trọng. Vào thế kỷ trước, chúng ta đã chi rất nhiều tiền và kiến thức khoa học để chế tạo vũ khí, bao gồm cả vũ khí hạt nhân. Bây giờ tôi nghĩ rằng phải khai trừ thái độ tinh thần đó và đã thay đổi nhiều. Bây giờ mọi người đang thể hiện mối quan tâm nghiêm túc về hòa bình; điều đó rất quan trọng. Ngày nay do đại dịch hiểm ác Covid-19 nên tình hình kinh tế đang gặp nhiều khó khăn. Trong thời kỳ nguy khốn như vậy, suy nghĩ về vũ khí là không thực tế và lỗi thời. Bây giờ chúng ta phải nghĩ về một thế giới hòa bình.
29/09/202007:36(Xem: 145)
Hai cây đàn gỗ, thường gọi là đàn thùng, được chủ nhân treo gần bên nhau trên chung một vách gần bên kệ kinh sách. Sáng sớm, cây Đàn Mới Đẹp được chủ mang đi hòa tấu ở đâu đó đến trưa mới mang về treo lại bên cây Đàn Cũ Kỹ. Gần bên nhau hơn cả giờ đồng hồ, thấy Đàn Cũ Kỹ vẫn im thin thít không hỏi han gì, Đàn Mới Đẹp ấm ức hỏi: "Sao anh không hỏi gì?"
28/09/202019:03(Xem: 220)
Họa sĩ Nhân dân Mông Cổ, Cư sĩ Urjingiin Yadamsuren (1905–1986) là cha đẻ của Nghệ thuật Mông Cổ hiện đại, đặc biệt là một phong cách chịu ảnh hưởng của “Hiện thực xã hội chủ nghĩa” (Socialist realism), cũng như các phong cách và kỹ thuật truyền thống của Mông Cổ, được gọi là Mongol Zurag. Phong cách lấy chủ đề Mông Cổ thường nhật và làm cho những người bình thường và thực hành chủ đề này.
28/09/202018:32(Xem: 234)
Sáng nay chúng con, chúng tôi lại tiếp tục lên đường gieo hạt tình thương, nơi đến cứu trợ hôm nay là một địa điểm đặc biệt liên quan đến lộ trình hoằng pháp của đức Phật, đó là nơi Ngài đã thuyết Bài Kinh Lửa Cháy (Aditta-pariyaya Sutta- Tương Ưng Bộ Kinh- Kinh 35.28). Như trong kinh tả lại, vài tháng sau khi giác ngộ, Đức Phật giảng bài pháp nầy cho 1,000 tu sĩ theo phái thờ thần lửa. Qua lối giảng siêu việt của Ngài, Đức Phật đã dùng ví dụ về lửa cháy (lửa tham, sân, si) để dạy về tâm xả ly đối với các cảm thọ qua sáu căn. Sau khi nghe bài giảng nầy, toàn thể thính chúng đắc quả A la hán.(Đường Link để tham khảo bài Kinh: Kinh Lua Chay)