Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Hoạt dụng của Thiền Định

01/10/201819:22(Xem: 4021)
Hoạt dụng của Thiền Định

 phatthanhdao


HOẠT DỤNG CỦA THIỀN ĐỊNH

 

Ngày nay chủ đề Thiền không còn xa lạ đối với những ai muốn tìm hiểu và muốn định nghĩa một cách minh bạch, nhưng mấy ai hiểu và cảm nhận một cách chính xác và minh bạch về những hoạt dụng của Thiền.Tùy mỗi trường phái, mỗi góc độ để nhìn và hiểu về Thiền khác nhau, từ đó, việc hành hoạt cũng khác biệt.

 

Theo Tổ sư thiền, thoại đầu hay công án là phương tiện diệu dụng nhưng khó nuốt, đòi hỏi căn cơ bén nhạy, nhưng Như Lai thiền lại dễ hành trì, không đòi hỏi trực giác để kiến tánh như Tổ sư thiền, y cứ vào giáo pháp Như Lai mà tuần tự hành trì.Các phương pháp hành thiền này đều dựa vào kinh, luật và luận như thiền Quán niệm hơi thở, thiền Tứ niệm xứ, Thiền Sổ tức v.v.. Loại thiền này được gọi là Như Lai Thiền. Còn Tổ Sư Thiền thì ngược lại không có thứ bậc, là pháp trực tiếp chỉ thẳng vào bản thể chân tâm Phật tánh. Tổ sư thiền đòi hỏi dụng công  miên mật, không an trú vào đề mục như Như Lai thiền, luôn đặt tâm thức vào tình trạng căng thẳng của nghi tình,trong trạng thái hưng phấn; nghi đây không phải nghi ngờ mà là nghi vấn (thắc mắc), một nghi vấn không tìm lời giải đáp. Điều này hơi khó hiểu đối với một số vị chưa quen với pháp hành.

 

Ngày nay, trường phái thiền Vipassana đang hưng thịnh. Vipassana không phải trường phái thiền mới được sáng tạo như Tổ sư thiền trước kia, nó có từ thời đứcPhật. Vipassana là một trong những phương pháp thiền định cổ xưa nhất của Ấn Độ. Nó được Đức phật khôi phục lại cách đây trên 2500 năm, đó là phương pháp cốt lõi mà Đức phật đã tu tập và giảng dạy.Được truyền thừa đến ngày nay, nhiều Thiền đường nổi tiếng phát xuất từ Miến Điện Và Thái Lan; từ đó phát triển khắp nơi,đồng thời quay trở lại nơi “chôn nhau cắt rốn” tại Ấn để gieo hạt phục hoạt.

Pháp Quán Niệm Hơi Thở Theo Bài Kinh Tứ Niệm Xứ xuất phát từ bộ kinh An Ban Thủ Ý do ngài An Thế Cao dịch. Trong nội dung lời chú giải có mười sáu đề mục quán niệm hơi thở.

Khác với những đề mục quán tưởng khác, quán niệm hơi thở bao gồm cảhai phương pháp Chỉ và Quán hay Minh sát Vipassana).

Quán Niệm Hơi Thở có mười sáu giai đoạn, chia ra làm bốn phần, mỗi phần có bốn cách tập. Chủyếu là tạo ý thức tỉnh giác , căn bản của tuệ giác, và bốn giai đoạn quán niệm là bốn lãnh vực tỉnh thức về thân, thọ, tâm, pháp. Nó cũng không giống với các phương pháp thiền định khác do chính Phật truyền dạy như 10 đề mục quán bất tịnh, bất tịnh nơi thân thể v.v…

 Về sau, khi Phật giáo lưu truyền sang các quốc gia hướng Bắc, để thích nghi với căn cơ và thổ nhưỡng đương thời, chư Tổ đã phương tiện chế tác ra pháp hành theo chủ trương của đức Bồ Đề Đạt Ma “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Khán thoại đầu hay thiền công án, nếu sở đắc, cũng chỉ hạn chế đối với một đương cơ nhất định, khác với trường phái thiền Nguyên thủy như Vipassana, mang tính phổ biến cơ bản, một lớp thiền 10 ngày đầu, những thiền sinh tham gia, ít nhiều cảm nhận được sự huyền nhiệm của  tâm thức, có một thay đổi nhất định trong tâm thức và đời sống thường nhật, làm căn bản cho những khóa thiền với thời gian dài hơn, tiếp theo.Đã có những thiền sinh sở đắc phần nào tuệ giác theo cách quán sát 16 giai đoạn trên “thân thọ tâm pháp”. Tuy nhiên, năm chướng ngại căn bản của tâm thức, không những cản trở bước tiến, đôi khi lạc dẫn thiền sinh vào ảo giác khi mà hành giả không phân biệt được thế nào là ảo giác, thế nào là tuệ giác khởi hiện.

 

Đức Phật giảng dạy tóm tắt việc chế ngự năm triền cái ấy như sau:

“… Vị Tỳ-khưu lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp…”

Ở đây, năm chướng ngại ấy trong  tiến trình tu tập hành thiền của hành giả là:

1. THAM DỤC 

2. SÂN HẬN 

3. HÔN TRẦM

4. TRẠO CỬ

5. HOÀI NGHI

                                                                    ***

Qua những trãi nghiệm của các hành giả khi thực thụ bước vào lãnh vực “chánh định”, giữa cận định và chánh định, thường xuất hiện những hiện tượng như là ảo giác, ảo ảnh, xuất  hiện ánh sáng rực rỡ, tâm thái an lạc, hoan hỷ, tình thương tràn đầy, hay âm thanh vi diệu…

Đó là những chủng tử có sẵn trong a lại ya thức, tâm nhiễm ô thì chúng lặn, tâm thanh tịnh  chúng xuất hiện. Khi chúng xuất hiện ở ngưỡng cửa chánh định mà khởi tâm đắm trước, trở thành một chướng ngại lớn cho việc tiến tu, việc hành trì sẽ bị dẫm chân tại chỗ.

 

Căn cơ chúng sanh không đồng thì cũng không thể áp dụng duy nhất một pháp hành, cũng như nhiều căn bệnh, hay một loại bệnh có nhiều nguyên nhân, đòi hỏi liệu trình chửa trị phải khác nhau. Câu chuyện sau đây sẽ minh chứng cho điều đó:

 

“Đệ tử trẻ của Tôn giả Xá lợi phất: "Hãy thay bến nước khác" (Bổn sanh Tittha, Jàt. 182).

Chuyện kể rằng theo lời dạy của Tôn giả, một người đệ tử trẻ đã thực hành quán tưởng bất tịnh trong bốn tháng nhưng vẫn không có tiến bộ trong việc phát triển Thiền quán. Tôn giả quán biết người đệ tử có duyên được Phật độ, đã đưa người đệ tử đến yết kiến Thế Tôn và trình lên Thế Tôn sự việc.

Thế Tôn biết tâm hướng của người đệ tử trẻ ấy thích hợp với đối tượng quán tịnh hơn,

do vì nhiều kiếp trước sinh vào gia đình thợ vàng chuyên thấy vành thanh tịnh. Thế Tôn bèn cho người đệ tử trẻ ấy, mặc y phục trong và ngoài tốt đẹp, dẫn đi khất thực các thức ăn thượng vị, cho nghỉ trưa ở hương phòng, rồi cho đi ngắm một hồ sen tuyệt đẹp (hồ sen do thần lực của Thế Tôn thị hiện), ở đó có đóa hoa tuyệt thắm, đẹp mắt. Thế Tôn bảo người đệ tử trẻ ngắm sen và chờ Thế Tôn về hương phòng một lát sẽ trở lại.

Đang lúc mải ngắm đóa sen tuyệt thắm, đóa sen bổng dưng héo và rụng. Người đệ tử hốt nhiên bừng sáng lý vô thường, tâm hoàn toàn ly tham, trực đắc A la hán quả.”

Đây là một trường hợp điển hình về đối tượng quán tưởng tương ưng với tâm lý của hành giả.

Khi Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa, do căn cơ Phật pháp hạn chế, quen với truyền thống hành trì cầu phúc, nghe Tổ phủ nhận phúc báu xây chùa tạo tượng, Lương Vũ đế bèn cho Tổ là ngoại đạo vì chưa hiểu được tinh thần thượng thừa của nhà Phật. Suốt thời gian dài 9 năm quay mặt vào vách, được một truyền nhân duy nhất là Huệ Khả, cứ thế thầy truyền cho trò đến Tồ thứ sáu là Huệ Năng.Qua 6 đời, mỗi đời chỉ đào tạo duy nhất được một người kế thừa. Do pháp kén chọn căn cơ nên lượng số thiền sinh đạt chuẩn quá hạn chế, trong khi pháp hành Vipassana hoặc những phép quán tương tợ, thiền sinh dễ hành trì và tuần tự tuệ giác phát sanh.Mục đích đức Phật trao truyền mang tính đại chung chứ không chỉ có thế một thầy một trò tương ứng với nhau.

Từ Bồ Đề Đạt Ma cho đến chư Tổ về sau, vẫn bị truyền thống lễ nghi tôn giáo trong nhà Phật lúc bấy giờ xem là tà giáo ngoại đạo,trãi qua thời gian dài thử thách, những gì là chân lý luôn tồn tại và phát triển, lúc bấy giờ, một bộ phận Tăng sĩ cấp tiến và giới trí thức kiểm chứng pháp hành của Tổ sư thiền, xác nhận vẫn hàm tàng “tam pháp ấn” và đích đến vẫn là giải thoát khỏi tam giới. Câu nói “ai thấy Phật là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Phật”, bởi vậy – “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch Bồ đề, cáp như cầu thố giác”. Lá rơi, suối reo, gió động, vô thường…đều là pháp trợ duyên cho hành giả quán nhân duyên mà đắc pháp. Vô lượng pháp môn tu là thế.

Càng lâu dài, càng phát sanh nhiều pháp môn mang nhãn mark Phật giáo, nhưng đôi khi đưa hành giả lạc vào ma trận đồ; người khai sáng ra pháp mới lạ, tuệ giác chưa đủ công năng bạt trừ nghiệp chướng tự thân, làm sao giúp đệ tử khỏi bị lạc dẫn vào mê lộ tà thuật, ngã mạng cống cao. Kinh Lăng Nghiêm giúp cho hành giả bất cứ pháp hành nào nắm vững ngũ ấm ma nội tâm, sẽ tự điều chỉnh  từng công đoạn lộ trình tiến tu đạo nghiệp.

                                                       ***


QUAN ĐIỂM DỊ BIỆT

 

Tùy mỗi pháp, có một lý giải khác nhau, lý sự tương đồng pháp hành mới vững chải.Tuy nhiên đứng một góc độ toàn triệt, Krishnamurti hiểu về tham thiền có khác:

 

Giải thoát khỏi mọi hành vi vị ngã mà không có cố gắng
(Krishnamurti)

“Câu hỏi được đặt ra là: có thể nào giải thoát khỏi mọi hành vi vị ngã mà không có cố gắng, không nỗ lực giải trừ nó, để rồi tạo nên vấn đề không? Tôi hy vọng đã đặt câu hỏi rõ ràng, bằng không thì những điều được trình bày kế tiếp sau đây sẽ thiếu minh bạch hoàn toàn. Danh từ "tham thiền", đại khái, có nghĩa là suy xét một điều gì, khám phá nó, dừng lại với nó; hoặc cũng có thể danh từ ấy chỉ một tâm thái chiêm ngưỡng trong đó không có tư tưởng. Danh từ ấy rất ít có ý nghĩa đối với phần đất này của thế giới, nhưng nó mang một nghĩa lý phi thường ở Đông phương. Người ta đã viết nhiều về đề tài này, có nhiều trường phái giảng dạy những phương pháp và những hệ thống khác biệt về tham thiền. Theo tôi, tất cả những cái đó đều không phải là tham thiền. Tham thiền là tự "làm trống rỗng" tâm thức mình, chứ ta không thể tự cưỡng bách làm trống rỗng tâm thức mình bằng cách thực hành một phương pháp, theo một trường phái hay hệ thống.”

Với tuệ giác toàn triệt của Krishnamurti, điều này đúng, nhưng một thiền sinh bước đầu thâm nhập vào lãnh vực tâm linh, “tự mình làm rỗng tâm thức” hay “cưỡng bách làm rỗng tâm thức” đều là một, khác chăng chỉ là dụng công cố gắng. Cho dù “tự mình làm rỗng tâm thức” cũng lạc vào “ngoan không” khi mà hành giả chưa thực thụ đứng hẳn vào khu vực tuệ giác như Krishnamurti.

 

 

“Thực hành một phương pháp tham thiền là đuổi bắt cảm giác và nhận thức, đó là toan tính sống một kinh nghiệm cao hơn hay "cùng tột", và khi ta đã thấu hiểu bản chất của tất cả mọi kinh nghiệm rồi, thì ta dẹp hết mọi phương pháp, ta gác chúng qua một bên, ta xa rời chúng vĩnh viễn, bởi vì ta không còn là đệ tử của ai cả, ta không còn tìm cách sống những kinh nghiệm nữa, ta không còn muốn có những thấy – biết nữa. Tất cả mọi tìm kiếm để thấy biết, tất cả mọi sự căng thẳng giả tạo về cảm giác – bằng những chất ma túy, bằng những giới luật, bằng những nghi thức lễ bái, sùng thượng, bằng cầu nguyện – đều toàn là hành vi vị ngã.”

Nếu bảo thực hành một phương pháp tham thiền là đuổi bắt cảm giác và nhận thức, đó là toan tính sống một kinh nghiệm cao hơn hay “cùng tột”…thế thì mọi pháp hành do đức Phật để lại đều vô nghĩa??? Buông bỏ tất cả, vô tu vô chứng, mọi sự đều không không, không thầy không đệ tử, không giới luật…???

 

“Cái gì đã là tràn đầy ánh sáng, tất không đòi hỏi thêm ánh sáng – tự nó là ánh sáng rồi, và tất cả mọi ảnh hưởng nhiễm độc, mọi kinh nghiệm xâm nhập vào vùng ánh sáng ấy liền được thiêu hủy từng phút từng giây, để tâm thức luôn luôn sáng tỏ, vô nhiễm mới có thể thấy được chỗ siêu xuất khỏi giới hạn đo lường của thời gian.”

Điều này Krishnamurti nói đúng, đã tràn đầy ánh sáng thì không cần đòi hỏi thêm ánh sáng. Mọi ảnh hưởng nhiễm độc không bị giải trừ thì “ánh sáng tuệ giác” làm sao hiển lộ? muốn giải trừ mọi nhiễm độc mà không dụng công là điều không tưởng.  Ánh sáng tuệ gác tự nó hiển lộ thì mọi nhiễm độc tự nó cũng hiển lộ vậy thôi.

 

“Khi tâm thức tự hiến và quên mình trong một sự đồng nhất trọn vẹn, tâm thức có thể hoàn toàn tịch lặng, nhưng nó rơi vào một trạng thái loạn thần. Ước vọng đồng nhất vào một mục đích, một ý niệm, một biểu tượng, một xứ sở, một chủng tộc, tức là mắc chứng loạn thần, như trường hợp tất cả những người gọi là tu hành mộ đạo. Họ tự đồng nhất vào Đấng Cứu thế, vào đức thầy, vào cái này cái nọ, điều đó tạo cho họ một niềm an ủi lớn lao và một cái nhìn hạnh phúc về đời sống. Thái độ này hoàn toàn là loạn thần.”

Nói như Krishnamurti, nhập vào Thượng đế, Atman nhập vào Brahman (Tiểu ngã hòa nhập vào Đại ngã), Phật tánh là năng lượng tuệ giác và từ bi, hành giả chứng đắc là đồng nhất với  tuệ giác và từ bi…đều là loạn thần??? Theo Krishnamurti chỉ có một loại tịch lặng đồng nhất do tâm thức tự hiến và quên mình, ngoài ra nếu có sự tịch lặng nào khác, đó là trạng thái tịch lặng loạn thần.!

Cũng thế, theo Krishnamurti, cái gọi là đạo đức theo mô hình xã hội hay tôn giáo chưa phải là đạo đức thực sự, đó là loại đạo đức rập khuôn, không có tự do.Nhưng một khi còn bị ràng buộc vào những định chế xã hội, tôn giáo, một khi tự thân chưa đủ năng lực tự mình “làm rỗng tâm thức”, làm sao thoát vượt được cái đạo đức rập khuôn đó nếu không từ bàn đạp tôn giáo để bước vào lãnh vực phi tôn giáo như ngài Krishnamurti?

                                                    ***

Tóm lại: Nơi đây ta không bàn đến trạng thái “nhập thần” và ngôn ngữ xuất thần như ngài Krishnamurti, chỉ tạm tìm hiểu các trạng thái “tịch mặc” của những hành giả bước qua ngưỡng cửa chánh định. Một câu hỏi sẽ xuất hiện – lấy gì làm căn cứ để xác định hành giả đó đang ở trong lãnh vực đắc pháp? Chúng ta đừng lầm lẫn giữa đắc pháp và đắc đạo, đắc pháp là tiến trình đưa đến ngộ đạo. Hành giả nắm được mấu chốt pháp hành, thường tinh tấn một cách miên mật, trong quá trình hành trì đó, trạng thái tâm sinh lý có nhiều chuyển biến tích cực; mọi tính hư tật xấu tự nó rơi rụng mà không cần dụng công loại trừ. Tâm thái an lạc,trầm tĩnh,từ tốn; trong tâm thức không tồn tại mọi thắc mắc ngờ vực,hay ham muốn mong cầu; lòng từ bi phủ trùm trong mọi ý nghĩ, hành động và lời nói; trí tuệ phát triển và có nhiều khả năng đặc biệt…

Tất cả mọi ưu điểm đó không do học hỏi trong đời này, chúng là những hạt giống chìm lặng trong tiềm thức khi mà bị những cơn sóng loạn động u trược phủ lấp.Hành giả thủ đắc trạng thái tịch mặc, những cơn sóng loạn động u trược đó biến thành mặt hồ tĩnh lặng, những hạt giống siêu xuất tự chúng hiển lộ. Đối trước mọi biến cố, mọi vấn nạn, hành giả thong dong như kẻ vô sự, đó là những hoạt dụng của Thiền định.

Như vậy,bất cứ pháp hành nào xuất phát từ Phật giáo hay ngoài Phật giáo, mang tính giải thoát, ẩn tàng tam pháp ấn, đem lại hiệu quả nhất định, đều là con đường đưa đến chân lý. Cũng có không ít những bậc duyên giác, không tu theo Phật, không học với ngoại giáo, chủng tử hướng thượng sẵn có,đối diện với nhều khổ đau bất trắc, bổng chốc trực diện trước những cái bất ngờ ngoài trí tưởng tượng hiểu biết, một cảm xúc một trạng thái bất chợt “đứng hình”, khác nào trạng thái hành giả đứngtrước sự bế tắt một công án Đấy là một trong những hình thức đưa đến sự tịch lặng.Nếu đương cơ tiếp tục duy trì trạng thái đó lâu dài sẽ  bước vào đại định, ánh sáng tuệ giác sẽ hiển lộ.

Hoạt dụng của Thiền định thiên hình vạn trạng, tùy thuộc vào căn cơ của hành giả, khó mà lột tả.

 

MINH MẪN

01/10/2018

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/09/2022(Xem: 584)
Duyên khởi cho bài viết này là từ một bản tin BBC News có nhan đề “Thiền định chánh niệm có thể khiến con người xấu tính đi?”--- và từ một số cuộc nghiên cứu khác đã giúp chúng ta có cái nhìn đa diện hơn về Thiền chánh niệm, một pháp môn nhà Phật đang thịnh hành khắp thế giới. Trong khi Thiền chánh niệm (Mindfulness meditation) lợi ích nhiều vô tận, vẫn có một số bất lợi sinh khởi. Có phải là vì thế gian chưa làm cho phù hợp? Do vậy, người viết đã tìm đọc nhiều hơn, để nhìn lại vấn đề theo nhiều khía cạnh. Và rồi dò theo con đường xưa, Đức Phật đã dạy thiền như thế nào? Kinh điển rất mực mênh mông, bài viết này chỉ là tổng hợp một phần nhỏ, chủ yếu là trích dẫn những lời dạy thực dụng của Đức Phật. Đối với các sai sót có thể có, người viết xin được sám hối.
26/08/2022(Xem: 650)
Sai lầm lớn nhất của con người là cố chấp cái nhìn cục bộ của mình. Thực ra chân lý là pháp phổ biến, không dành riêng cho bất cứ ai. Mỗi người giác ngộ chân lý qua tầm nhìn của mình về chính mình và vạn pháp. Người có tầm nhìn lớn nhất là người thông suốt được tất cả tầm nhìn của nhân loại. Như đức Phật thấy được 62 tà kiến của thế gian. Đừng hiểu tà kiến là thấy sai, cái sai không phải ở thấy mà ở cố chấp cục bộ. Ví dụ như những người mù sờ voi, cho con voi là cái chân, cái bụng, cái lưng, cái ngà, cái đuôi, cái vòi, cái tai, con mắt
25/08/2022(Xem: 664)
Thiền tập CHÁNH NIỆM sẽ giúp cho chúng ta cảm nhận được sự an lạc trong từng giây phút của cuộc sống. Thiền cũng tăng sự tập trung, tăng kỹ năng nhớ, vượt qua áp lực căng thẳng trong đời sống hằng ngày… Thể theo nhiều yêu cầu của các bạn trong và ngoài nước, buổi họp ra mắt lớp Thiền Tập Chánh Niệm và Yoga sẽ được họp qua hệ thống ZOOM. Vào: * Ngày 24 tháng 09, 2022 lúc 6:30pm-8:00pm (Central time/Hoa Kỳ-Tối Thứ 7 tại Hoa Kỳ) *Nhằm ngày 25 tháng 09, 2022 lúc 6:30am-8:00am (sáng Chủ Nhật tại Việt Nam)
07/01/2022(Xem: 1986)
Chứng ngộ không phải là một kết luận mà người ta đạt được bằng suy luận; nó coi thường mọi xác định của trí năng. Những ai đã từng kinh nghiệm điều nầy đều không thể giải thích nó một cách mạch lạc và hợp lý. Một khi người ta cố tình giải thích nó bằng ngôn từ hay cử chỉ, thì nội dung của nó đã bị thương tổn ít nhiều. Vì thế, kẻ sơ cơ không thể vói tới nó bằng những cái hiển hiện bên ngoài, mà những ai đã kinh nghiệm qua một lần chứng ngộ thì thấy rõ ngay những gì thực sự không phải là nó. Kinh nghiệm chứng ngộ do đó luôn luôn mang đặc tính ‘bội lý,’ khó giải, khó truyền. Theo Thiền sư Đại Huệ thì Thiền như là một đống lửa cháy lớn; khi đến gần nhất định sém mặt. Lại nữa, nó như một lưỡi kiếm sắp rút ra khỏi vỏ; một khi rút ra thì nhất định có kẻ mất mạng. Nhưng nếu không rút ra khỏi vỏ, không đến gần lửa thì chẳng hơn gì một cục đá hay một khúc gỗ. Muốn đến nơi thì phải có một cá tính quả quyết và một tinh thần sung mãn. Ở đây chẳng có gợi lên một chút suy luận lạnh lùng hay phân biệt
12/12/2021(Xem: 2009)
Thế Tôn là bậc tuệ tri mọi pháp, bậc y vương, thầy của trời người trong tam giới. Vì thế, Đấng Thiện Thệ trong 45 năm thuyết pháp đã để lại cho thế gian một kho tàng pháp bảo, là những diệu dược tùy theo bệnh (tham sân si) của chúng sanh mà kê toa thích ứng nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, niết bàn. Riêng trong tạng Pali, ngoài tứ niệm xứ, minh sát tuệ, Thế Tôn từ mẫn với trí tuệ toàn giác (tuệ tri mọi pháp) đã 'có nhiều phác đồ điều trị khác nhau trên nền tảng của đạo đế: Bát Chánh Đạo' diệu dụng mà theo đó tùy theo căn cơ (tùy pháp, hành pháp), sẽ đến bờ giải thoát, hoặc bậc hữu học vv.
16/11/2021(Xem: 4060)
01. Niết-bàn 02. Vô minh 03. Giáo lý Vô thường 04. Không có ngã hay Không phải ngã 05. Pháp môn Không phải ngã 06. Định nghĩa của Niệm 07. Giáo dục lòng Từ Bi 08. Tin vào Trái Tim: Giáo lý về Saṁvega & Pasāda 09. Làm sao để hiểu tâm mình? 10. Hoà Giải, Phải & Trái 11. Gốc rễ của chủ nghĩa Lãng mạn Phật giáo * AFFIRMING THE TRUTHS OF THE HEART - BUDDHIST ESSAYS by Thanissaro Bhikkhu CONTENTS 01. The Image of Nirvāṇa 02. Ignorance 03. All About Change 04. No-self or Not-self? 05. The Not-self Strategy 06. Mindfulness Defined 07. Educating Compassion 08. Affirming the Truths of the Heart: The Buddhist Teachings on Saṁvega & Pasāda 09. How to Read Your Own Mind 10. Reconciliation, Right & Wrong 11. The Roots of Buddhist Romanticism
06/11/2021(Xem: 4831)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.
18/06/2021(Xem: 5318)
Tác phẩm này là tuyển tập 7 bài pháp thoại của tôi trong các khóa tu thiền Vipassanā tại chùa Giác Ngộ và một số nơi khác. Kinh văn chính yếu của tác phẩm này dựa vào kinh Tứ niệm xứ thuộc kinh Trung bộ và kinh Đại niệm xứ thuộc kinh Trường bộ vốn là 2 bản văn quan trọng nhất giới thiệu về thiền của đức Phật. Thiền quán hay thiền minh sát (Vipassanā bhāvanā) còn được gọi là thiền tuệ (vipassanāñāṇa). Giá trị của thiền quán là mang lại trí tuệ cho người thực tập thiền. Minh sát (vipassanā) là nhìn thẩm thấu bằng tâm, nhìn mọi sự vật một cách sâu sắc “như chúng đang là”, hạn chế tối đa sự can thiệp ý thức chủ quan vào sự vật được quan sát, khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng trần cảnh. Khi các suy luận dù là diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, phân tích… thoát ra khỏi ý thức về chấp ngã chủ quan và chấp ngã khách quan, lúc đó ta có thể nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng. Cốt lõi của thiền quán là chính niệm trực tiếp (satimā) và tỉnh giác trực tiếp (sampajāno) với đối tượng
03/04/2021(Xem: 2972)
Trước khi vào nội dung bài viết ta nhắc lại một vài kiến thức của vật lý cấp 2 phổ thông cần thiết cho chủ đề này. Một vài thuật ngữ: Trọng tâm G của một vật: là điểm đặt của trọng lực P tác dụng lên vật đó (P được biểu thị bằng một mũi tên thẳng đứng có chiều hướng xuống dưới). Chân đế: là đa giác lồi nhỏ nhất chứa tất cả các điểm tiếp xúc giữa một vật với mặt phẳng đỡ nó. Chân đế là một hình phẳng, nó cũng có trọng tâm G1, với những hình đặc biệt như hình vuông thì trọng tâm của nó là giao điểm của 2 đường chéo, nếu là hình tam giác thì trọng tâm của nó là giao điểm của 3 đường trung tuyến.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,230,313