Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Mười Hai Nhân Duyên

19/11/201705:51(Xem: 931)
Mười Hai Nhân Duyên



Duc The Ton 1
MƯỜI  HAI  NHÂN  DUYÊN

Đức Hạnh

   Trên mặt trái đất đã và đang có núi cao, đồi thấp, suối cạn, ghềnh thác, đất, cát, đá cuội, ao, hồ, sông dài, biển rộng, bầu trời, mây bay, gió thổi, nắng, mưa, bão tố, không khí nóng, mát, lạnh lẻo, các loại cỏ, hoa, cây cối…Đó là chúng sanh không có tình. Muôn loài Súc Vật lớn, nhỏ trên khô, dưới nước, và các chủng loại Con Người. Đó là chúng sanh có tình. Tất cả, đều do vô số Duyên giả hợp lại mà có bản thể, chứ mỗi loài không thể tự có thân (không tự thể), như đã được nói rõ ở bài “Khai Thị Chúng Sanh, Ngộ Nhập Tri kiến Phật”.      

  Nói rõ lại, Duyên giả hợp, là duyên làm nhân kiến tạo tổng thể cho muôn loài chúng sanh không tình và chúng sanh có tình (con người và môn loài súc sinh). Nhưng, riêng về loài Người được có thêm “Mười Hai Nhân Duyên”, thường gọi “Thập Nhị Nhân Duyên”. Sở trụ (nơi chốn) của Mười hai nhân duyên trong tạng thức loài Người. Chỉ có loài người mới có 12 nhân duyên,  muôn loài súc sinh không có. Sở dĩ loài người có 12 nhân duyên, là vì loài Người là linh vật tối thượng có tâm ý hiểu biết lớn, có nhận thức về sự vật, sự việc phải, trái, đẹp, xấu, ngon, dở, thương, ghét, giận hờn, tha thứ v.v…Thế gian gọi tâm hiểu biết lớn của loài người, là linh hồn. Trong Phật giáo thì gọi thần thức, thần hồn, giác linh, A-lại-da-thức.  Gọi tâm biết của chư Phật, Bồ tát là bạch tịnh thức. Giác linh của chư Tôn đức. Gọi tâm biết của muôn loài súc sinh là giác hồn, sinh hồn.

   Triết lý Mười Hai Nhân Duyên, do Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đạo tìm ra, chứ không phải do Phật sáng chế, cho nên Phật nói : “Pháp này do ta chứng được, nó thật là sâu kín, khó thấy, siêu lý luận, vi diệu, tịch tịnh, cao thượng. Chỉ có người trí mới hiểu thấu được định lý y tánh duyên khởi pháp này”.

   Nghĩa của cụm từ Duyên Khởi. Duyên, nghĩa là liên kết, tiếp xúc. Khởi, là vùng lên, trổi dậy. Cái gì trổi dậy ? Tâm con người trổi dậy. Trổi dậy cái gì ? Trổi dậy lời nói và hành động; đa số ác nhiều hơn thiện. Lực nào khiến cho tâm người trổi dậy những lời nói và hành động ác ? Mười Hai Nhân Duyên là nhân tố tác động. Chúng hiện hữu trên một vòng tròn sanh tử luân hồi tiếp nối nhau xoay chuyển từ quá khứ, hiện tại và tương lai; cứ như thế mà xoay vòng khởi điểm  không đầu, đuôi. Mặc dù Vô minh đứng đầu của 12 chi nhân duyên, chỉ số theo thứ tự. Tất cả 12 chi nhân duyên, chi nào cũng có tính chất làm nhân, làm duyên với nhau để tạo nên một sinh mệnh con người sống, chết, luân hồi (ra, vô, lên, xuống 6 cõi). Nói theo quy luật của Hoa Nghiêm; “Cái này có, cái kia có. Cái này sinh, cái kia sinh. Rõ ràng, trong tâm con người vốn có tính vô minh ( tối tăm, ngu si, đần độn) ưa  sinh khởi ra ý niệm cướp của, giết ngươi, tức thì hành động ngay không sợ ai cả. Sau đây là 12  nhân duyên liên đới nhau : Do có Vô minh mà có Hành. Do Hành có Thức. Do Thức Danh Sắc.  Do Danh SắcLục nhập. Do Lục nhậpXúc. Do XúcThọ. Do Thọ Ái. Do ÁiThủ. Do Thủ Hữu. Do Hữu Sinh. Do Sinh Lão tử.

   a- minhHành NHÂN quá khứ.

   b- Thức, Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, ThọQỦA hiện tại.

   C -Ái Thủ, Hữu NHÂN hiện tại.

   d- Sinh, Lão tửQỦA vị lai.

 

     TÍNH CHẤT CỦA MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

1- VÔ MINH: Sau khi chứng đạo, Phật thấy tâm của loài người ở thuở ban đầu từ các hành tinh (cung Trời Đao Lợi, Đấu Xuất…) xuống Trái đất, thì thường hằng rỗng lặng nhưng, dần dần bị  mờ đục, tối tăm; qua các trạng thái đần độn, vô ý thức, si mê, mù quáng, không nhận ra thế nào là chánh đạo, tà đạo, tội, phước , không thấy tự tánh của mình; huống hồ làm sao có thể nhận chân được thực tướng vô ngã của các pháp ! Tất cả, giai do bản thân vật chất, nên bị ảnh hưởng vô số vật chất từ Trái đât. Gọi tính vô minh đó, là chủng tử ô nhiễm.  2- HÀNH: Hành động tạo tác các nghiệp của thân, miệng, do biến động của tâm thức hướng ra ngoại cảnh gọi là tâm hành. Ý, (tư tưởng),tư duy theo chiều động, để rồi khẩu nói ra lời, thân làm  làm các việc thiện hay ác đều đó là Hành.  3-THỨC : Thức ở đây, là A-lại-da-thức, hay còn gọi nghiệp chủng thức. Tất cả nghiệp mà con người tạo ra, đều do Thức a-lai-da chỉ đạo cho thân, miệng tạo tác, rồi huân tập vào nội tạng của a-lại-da. Cho nên Thức này cũng gọi là Tạng thức . Vai trò mang yếu tố tiếp nối giữa kiếp sống quá khứ, hiện tại của con người là giai đoạn đầu tiên sanh ra tại Trái đất. 4- DANH SẮC: Danh thuộc về tinh thần, cho nên không có hình trạng, sắc, tướng gì cả nhưng, vẫn có những hiện tượng vui vẻ, sung sướng, hạnh phúc, buồn rầu…do nghiệp thức phát động mà có, gọi là hiện tượng tinh thần (DANH).  Vật chất (SẮC) hiện hữu bản thân con người do tổng hợp của Ngũ  Uẩn, trong đó bốn uẩn : Thọ, Tưởng, Hành, Thức .Bốn Uẩn này chỉ có tên, không có tính chất chạm xúc, ngửi, nếm, nghe, thấy…Tức là chỉ có tên (DANH), không có tướng trạng hiện tượng hiện thực. Bốn  uẩn kia thuộc vật chất, sinh lý trong đó : đất, nước, gió, lửa, tứ đại chang hòa trong bản thân con người có hình, có chất, mầu sắc, mùi, vị, chạm xúc, ngữi, nếm, nên gọi là Sắc. Còn danh, là tinh thần được thấy trong giây phút cha và mẹ ân ái, yêu thương, để rồi sau đó người mẹ thụ thai. Qua đây cho ta thấy rõ, do tinh thần ân ái được có tên Nghiệp thức, tức  là DANH. Danh kết hợp với trinh trùng của cha, noãn châu của mẹ ,Sắc.  5- LỤC NHẬP : Sáu giác quan: Mắt, tai, mũi, miệng, thân (tay chân) và Ý trong bào thai. Chúng tuần tự phát triển và hoạt động tự nhiên sau khi thai nhi trưởng thành toàn diện và chào đời, lớn lên. Sáu giác quan là có 6 đối tượng, lục trần : Sắc , thinh, hương, vị,  xúc, thân, pháp, để phản ảnh, gọi là Lục Nhập. 6- XÚC :  Sáu giác quan con người luôn tiếp xúc với lục trần là điều ắt phải của sự sống, như mắt tiếp xúc để thấy cảnh vật, tai tiếp xúc với âm thanh, mũi ngữi mùi v.v…7- THỌ: Sáu giác quan tiếp xúc với lục trần, tâm ý khởi niêm nhận chịu bằng lòng và cảm thấy ưa thích, vui sướng gọi là “lạc thọ” hay không bằng  cảm thấy khó chịu, bực bội, khổ tâm, gọi là “khổ thọ” Có khi cảm thấy không khó chịu, cũng không dễ chịu, gọi là “xả thọ”. 8- ÁI : Ái còn gọi là “Ái dục”, là trạng thái khao khát dục vọng, ham muốn, đam mê tình ái dục lạc của trần cảnh (ngũ dục- thất tình). Nếu không nói rằng Ái là nguồn sống của nhân loại thế gian. Cho nên, vật chất nào quyến rũ lòng người ưa thích, khởi tâm muốn có cho bằng được, bôn ba đi tìm để thỏa mãn lòng Ái. Hoặc thứ nào con người chán nãn không còn ưa thích, thì tránh xa, vứt bỏ, hủy diệt đi không còn Ái. Ý niệm, lời nói, hành động ưa thích và chối bỏ, nếu không nói rằng; đó là nền tảng chính yếu  thúc đẩy thân, khẩu, ý  tạo nghiệp ác : ham muốn và phản bội, hủy diệt. 9- THỦ : Nghĩa là bám giữ lấy đối tượng vào lòng sau khi đạt được. Đối tượng đó, là những thứ cho sự sống, như tình ái, chức quyền, của báu, cho nên cố sức bám giữ đừng để mất, gọi là Thủ. Kể từ đó phát sinh ra những ý niệm về Ngã : nhân ngã cái Tôi, những gì Thuộc Về Tôi (ngã sở). Những tư tưởng bảo thủ này do ba thứ Thân Miệng, Ý tạo nên dù là thiện hay ác, cũng đều ở nghĩa củng cố, bảo thủ, bảo vệ cho cái TÔI và những gì “Thuộc Về Tôi”. Đó là THỦ.  10- HỮU : Nghĩa là Có, Hữu cũng gọi là nghiệp. Những nghiệp nhân mà con người tạo ra ở kiếp này dù thiện hay ác. Trong số những nghiệp này, có những nghiệp vui quá là vui, chúng mình vui nhiều. Bên cạnh đó cũng có những nghiệp quá ư khổ đau, chúng mình quá đau. Theo định luật nhân quả, thì những nghiệp (HỮU) mà con người tạo ra trong kiếp này, cũng chính là quả báo nghiệp sẽ bị thọ thân ở những cảnh giới của các loài chúng sinh khác nhau: lông mao, lông vũ, không lông, hai chân, bốn chân, nhiều chân, không chân trên khô, dưới nước. Với hành giả tu tập Phật pháp, đã thông đạt lực của HỮU này trong 12 nhân duyên bằng cách quyết tâm hành trì giới luật, tức là làm các việc thiện và thiền định để giữ tâm hồn cho thanh tịnh, đúng nghĩa “Tu là chuyển nghiệp”. Một khi HỮU không còn nữa, thì 11 cái kia trong 12 nhân duyên, cũng theo đó mà biến mất, đúng với định lý của Hoa Nghiêm “Cái này có cái kia có”. “Cái này không, cái kia cũng không”.

  11-  SINH :  Sinh được chỉ cho kiếp mới, do Hữu, tức là Nghiệp. Lực của Nghiệp dẫn đi đầu thai vào các cõi trên (Phật, Trời, Tiên, Thánh, Người ), dưới (Ngạ quỷ, Súc sinh) gọi là Sinh  sau khi thân mạng con người nói riêng chết đi. Hay từ các loài ngạ quỷ, súc sinh sau khi  mãn kiếp, hết nghiệp cũ (HỮU) , được thác sinh trở lại làm người, gọi là Sinh. Qua đây, cho quý vị hiểu SINH, được chỉ chung cho Phật Bồ Tát, Trời, Người, Thánh, Thần và các loài súc sinh, ngạ quỷ, tất cả được, bị SINH vào cõi nào đó, trên, dưới; chứ không phải chỉ SINH ở kiếp người. Tất cả do HỮU (nghiệp) mà có SINH. Nghiệp Phật, sinh cõi Phật; nghiệp Trời sinh cõi Trời; nghiệp người sinh cõi người; nghiệp súc sinh, ngạ quỷ sinh vào ngạ quỷ, súc sinh.

  12-  Lão tử : Sanh ra làm người, hay các loài súc sinh tại Trái đất này, là cõi vật chất, cho nên bản thể con người và các loài vật, đều là phần mềm, do đó phải bị già và chết theo định luật vô thường, không thể tránh khỏi.

     NHẬN THỨC

Mỗi tánh của 12 nhân duyên trong mỗi bản thân con người, tự nó diễn biến hành hoạt, thì cái tính phía trước nó, như Hành trước Vô minh, Hành bị ảnh hưởng theo mà khởi lên hiện tượng hành hoạt hiển lộ ra một hay nhiều hành động, lời nói thiện, ác hay còn gọi là Nghiệp (khẩu nghiệp, thân nghiệp), chứ không phải 12 nhân duyên cùng lúc duyên nhau.

   Mười Hai Nhân Duyên, là cái chuỗi vòng tròn sinh, tử luân hồi của loài người suốt trong ba thời kỳ quá khứ, hiện tại, vị lai liên tục  xoay mãi không chấm dứt. Khi thì sinh làm người; khi thì thánh; khi thì trời; khi thì ngạ quỷ, súc sinh…Cứ ra, vô, lên, xuống các cõi trên, dưới. Tất cả do vô minh, tâm đen như mực tàu, như căn nhà không đèn, mặt đất trong đêm không trăng, sao. Con người đi trong căn nhà tối, bị va chạm vào cột, vấp ngã xuống đất. Đi ngoài không gian đêm tối, con người bị lọt vào hố, vực sâu, vấp té ngã xuống… Nói rõ hơn tâm con người không có tri thức nhân bản, chỉ có tính biết tham, sân, si dục lạc vật chất, là lực sống theo bản năng, đói ăn, khát uống, trong đó tạo ra những hành động hung hãn sát hại, giành dựt vật chất kẻ khác, cả đời không phân biệt được phải, trái là gì ! Không biết tội, phước, đạo đức, Phật, Trời, Thiên đàng, địa ngục, ngạ quỷ ở đâu, ! Gọi tâm đen tối đó là sinh hồn, giác hồn, không phải linh hồn. Cho nên dù là thân người được có các Duyên : thức, danh, sắc, lục nhập, xúc, thọ nhưng,các duyên đó cũng đều là có tính vô minh đen tối, để rồi tiếp tục tạo ra vô số nghiệp ác (Hữu ác) do cái tâm ái quá ái, thủ quá thủ (ôm chặc, không buông bỏ, cực đoan) trong đời sống hiện tại, nếu không nói là ngạ quỷ, súc sinh. Chính đây là nguyên nhân đưa đến có sinh, có lão tử ở đời sống mới của kiếp sau (vị lai). Cứ như thế, nguyên nhân quá khứ cho hiện tại; hiện tại làm nguyên nhân cho vị lai ; hiện tại trở thành quá khứ, vị lai trở thành hiện tại, rồi lại đến vị lai nữa…Vòng sinh tử luân hồi tiếp nối xoay vòng không ngừng. Kiếp mới hiện tại là loài người, thì mới có 12 nhân duyên trong tâm thức, các  loài khác không có 12 nhân duyên, chỉ có một tâm đen tối, năng lực của tâm đen này(vô minh) là kiều kiện sinh ra sinh hồn, giác hồn, cái biết theo bản năng sinh tồn.

  Đạo lý 12 Mười Hai Nhân Duyên, hàm chứa toàn bộ giáo lý “Duyên Khởi”, nền đạo lý của Phật giáo mang tính triết học. Mười hai nhân duyên, luôn nối kết nhau mà hiện hữu ở các hành động, lời nói thiện, ác. Mười hai nhân duyên làm nhân và quả  với nhau, để tạo thành vòng tròn sinh sinh, tử tử như bánh xe đang quây tòn không có duyên nào bắt đầu, không có duyên nào chấm dứt. Tất cả do vô minh, chủ tể khởi động lây lang sang các duyên khác bị biến động theo, mà sinh ra cái riêng biệt: Hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Hay nói khác hơn, 11 duyên trên, đều mang bản chất vô minh, nếu không nói là như các con của mẹ, tất cả giống tánh mẹ, bị nhiễm chất độc từ mẹ. Nói khác nữa; những thứ riêng biệt này của 11 duyên, giống như con người bị nhiều chứng bịnh khác nhau, do cái miệng (biểu thị vô minh)  ăn, uống đủ thứ chất độc. Qua đây cho ta thấy vô minh là kiều kiện bao trùm lên các duyên khác. Đích thực có vô minh, là chủ tể sinh ra vòng sinh tử, luân hồi của loài người. Nếu một trong 12 nhân duyên, bất cứ duyên nào đó bị tiêu diệt do con người biết cách tu tập để diệt. Đúng với  lý của Bát Nhã; “ … Kiến ngũ uẩn giai không” . Theo định lý Hoa Nghiêm : Cái này không, cái kia không. Đúng thật;   Sanh diệt- thì Lão tử diệt.  Hữu diệt- thì Sanh diệt.  Thủ diệt-Hữu diệt.   Ái diệt- Thủ diệt.  Thọ diệt- Ái diệt.  Xúc diệt- Thọ diệt”.  Lục nhập diệt-Xúc diệt.  Danh sắc diệt-Lục nhập diệt.   Thức diệt-Danh sắc diệt.  Danh sắc diệt- Thức diệt.  Hành diệt-Thức diệt. Hành diệt- minh diệt.  Thì tức khắc cái vòng sinh tử, luân hồi liền bị đứt tung ra từng khúc.

 

       QUÁN CHIẾU 12 NHÂN DUYÊN

   Mười hai nhân duyên trên cơ sở quán chiếu theo chiều thuận từ vô minh đến Sanh, Lão Tử để thấy rõ một sinh mệnh con người trên vòng sinh, tử, luân hồi khổ đau liên tiếp trong ba đời : quá khứ, hiện tại, vị lai, gọi là “Tam Thế Lưỡng Trùng Nhân Quả” không dứt là do vòng kim kô vô minh, mà bản thân con người hiện tại chính là biểu tượng cho khổ đế, tập đế cùng thường hằng hiện hữu trong thân, tâm con người từ lúc sanh ra, lớn lên sống giữa trường đời cho đến lúc chết một cách rõ ràng.

    Theo cách quán 12 nhân duyên, hành giả phải quán theo chiều ngược, gọi là hoàn diệt quán. Quán từ chết (tử) già (lão) sanh, hữu…cho đến hành, vô minh (chót), để thấy vòng sinh tử luân hồi, rồi hành giả tự  mình nhận thức : “Một khi vô minh chìm lặn, thì sinh tử khổ đau chấm dứt” (Diệt đế), tức thì niềm an lạc, giải thoát có mặt (Đạo đế). Qua đó cho ta thấy hai thứ vô minh và giải thoát luôn luôn là hai mặt hiện hữu trong tâm con người trên vận hành của đời sống qua những tháng rộng, năm dài, cơ cực. Cho nên vô minh càng vơi đi, thì niềm an lạc cũng theo đó được vơi đi.

   Trên bước đường tu tập Phật pháp ở bất cứ pháp môn nào, Tịnh độ niệm Phật A Di Đà, Thiền định, Mật tông trì các thần chú Đà La Ni, quán chiếu các pháp vô ngã…để tìm cầu cho mình con đường giải thoát, hành giả phải tinh tấn, quyết tâm ngăn chặn những nhân duyên xấu, ác, đừng để lọt vào, chính là phương cách diệt trừ vô minh. Một khi tâm hết vô minh, tức thì các duyên khác cũng bị diệt luôn, do cây đèn trí tuệ bừng sáng, gọi là chỗ nào có ánh sáng, không có bóng tối. Tâm ý sáng, thì không có vô minh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/11/201815:57(Xem: 212)
“Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời hãy từ bỏ chúng! Nhưng khi nào tự mình biết rõ như sau: ‘các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này được các người có trí tán thán; các pháp này nếu được chấp nhận và thực hiện đưa đến hạnh phúc an lạc’, thời hãy từ đạt đến và an trú!” Đức Phật (Kinh Tăng Chi Bộ)
18/10/201818:40(Xem: 259)
Phải nghi trước, rồi gỡ được nỗi nghi xong, bấy giờ tin tưởng mới chắc thật. Đó là chuyện của người tộc họ Kalama ở thành phố Kesaputta thời hơn 2,500 năm về trước. Thực tế, thời nào cũng có người Kalama, chứ không phải chỉ trong thời xa xưa. Có thể đoán rằng, những người mang dòng máu Kalama mạnh nhất, hẳn là các nhà khoa học – thí dụ, như các nhà vật lý thiên tài Albert Einstein, Stephen Hawking... Chớ hòng ai thuyết phục họ tin cái gì không thuận lý.
04/09/201818:42(Xem: 636)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.
14/08/201811:43(Xem: 599)
Kinh Vị Tằng Hữu của Bắc tông và Tăng Chi Bộ Kinhcủa Nam Tông đều có ghi rằng trong cuộc đời của một vị Phật CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC có 4 lần sự kiện vi diệu này xảy ra. Mỗi lần như thế, có một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh không có nền tảng, tối tăm u ám, mà tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây".
13/08/201807:26(Xem: 583)
Các Phân Khoa Phật Giáo Thích Thái Hòa Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu. Trong Phật giáo có năm phân khoa như sau: 1/ Phật giáo Đại chúng Thời Phật, xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn giai cấp, gồm: - Bà-la-môn (Brāhmaṇa): Giai cấp Tăng lữ, giai cấp học giả của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Họ tự nhận sinh ra từ miệng Phạm-thiên. Giai cấp này làm mai mối giữa thần linh với con người. Họ có sáu quyền hạn: Tự ý làm đền thờ trời; làm thầy tế để tế trời; tự ý đọc Phệ đà (veda); dạy người khác đọc Phệ đà (veda); tự bố thí và tự nhận sự bố thí.
23/05/201819:45(Xem: 542)
Bài viết này để trả lời một vài câu hỏi nhận được gần đây. Nếu giúp được một số độc giả, xin hồi hướng công đức từ bài viết để Phật pháp trường tồn. Trường hợp các câu trả lời bất toàn hay sơ sót, người viết, với vốn học và vốn tu đều kém cỏi, xin lắng nghe quý tôn đức chỉ dạy thêm.
10/03/201807:13(Xem: 810)
To give the briefest conclusion that I can think of to the question- 'Do you think that sectarian diversity affects the stability of Buddhism as a whole?', I would have to say, 'Yes' and 'No'. My intention here is not to give a definitive answer, but to give readers 'food for thought', to enable each of us to be responsible and maintain pure intentions, to think for ourselves and develop genuine wisdom and compassion. In the spirit of the Dharma, rather than dwelling on any possible problems, we should mainly focus on solutions to any such problems. With the hope of maintaining the integrity and purity of Buddhism in this world.
03/02/201820:02(Xem: 1140)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/201815:50(Xem: 1662)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
08/12/201713:37(Xem: 1376)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để