Rồng Trên Nóc Chùa

18/01/201705:40(Xem: 36838)
Rồng Trên Nóc Chùa
RỒNG TRÊN NÓC CHÙA
 
Nguyễn Thiếu Dũng
 
Những ngày đi lễ chùa ta thường thấy một cặp rồng trang trí ngất ngưỡng trên nóc chùa. Hình tượng này thường thấy trên nóc chùa ở nước ta, chứ ít khi thấy trên nóc chùa Trung Hoa, phải chăng là biểu tượng đặc trưng của ta?
 



Chua Dieu Ung Bac Kinh
Chua Viet
chuamotcot

 

Chùa Một Cột

 tuvienquangduc_3

Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu





Người ta thường gọi tên cặp rồng này không thống nhất, có người gọi là lưỡng long tranh châu, có người nói là lưỡng long triều nguyệt, có người bảo là lưỡng long triều nhật, ai đúng và mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu xa của món trang trí này.

Lưỡng long tranh châu thì chắc là sai, đạo Phật là đạo hiếu hòa đề cao từ bi hỉ xả lẽ đâu chùa lại treo trước mắt tín đồ biểu tượng của dục vọng, xiển dương tranh chấp, biểu tượng đặt nơi chốn trang nghiêm trên nóc chùa nóc đình hay cung điện phải là biểu tượng của sự thái bình an lạc, thái hòa không thể biểu thị sự tranh chấp giữa hai thế lực mang lại nỗi bất hạnh cho con người. Có người ngụy biện hòn ngọc tượng trưng cho tâm linh cao quý, dầu bất cư thứ gì mà đã tranh là đi ngược giáo lý đạo Phật rồi, ngay cả ham muốn lên Niết bàn còn phải diệt huống gì là tranh.

Lưỡng long triều nguyệt cũng không đúng, vòng tròn ở giữa chung quanh có một vành lửa bao bọc, vòng đó là mặt trời, mặt trời mới phát chất nóng ra chung quanh hình dung bằng vòng lửa. vậy tên chính xác của cặp rồng quen thuộc chỉ có thể chính danh là lưỡng long triều nhật mà thôi.

 

Lưỡng long triều nhật là biểu tượng đặc trưng của Việt Nam vậy nguồn gốc nó do đâu mà có. Đó chính là hình tượng cách điệu của TRUNG THIÊN ĐỒ, một đồ quan trọng của Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam.

 

Kinh Dịch có tám quẻ đơn: Càn còn gọi là Thiên, có tượng là trời, là vua, là cha. Khôn gọi là Địa, tượng là đất, là hoàng hậu, là mẹ. Khảm gọi là Thủy, tượng là nước, là cá (ngư). Ly gọi là Hỏa, tượng là lửa. Cấn gọi là Sơn, tượng là núi. Đoài gọi là Trạch, tượng là đầm (hồ). Chấn gọi là Lôi, tượng là sấm, là con trai trưởng. Tốn gọi là Phong, tuợng là gió, là cây (mộc).

Theo thuyết tam tài  trên có trời, dưới có đất, giữa có người, như thơ Nguyễn Du “Đội trời đạp đất ở đời”, có thiên có địa tất phải có nhân, nói cách khác có tiên có hậu thì phải có trung. Dịch Trung Hoa chỉ phổ biến hai đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên, họ thiếu một đồ thứ ba.

Dịch đồ thứ ba chính là Trung Thiên Đồ đã được tổ tiên Việt Nam “cất giấu” trong truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ. (Dịch đồ này đã được chứng minh trong sách KINH DỊCH DI SẢN SÁNG TẠO CỦA VIÊT NAM của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng, là đồ tối quan trọng để viết Quái, Hào từ Kinh Dịch)

Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ là một huyền sử về nguồn gốc dân tộc “Con Rồng cháu Tiên’’ chứa đựng di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Nếu chúng ta kết hợp những thông tin nằm rải rác trong các truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh thì sẽ thiết lập được một Trung Thiên Đồ mà người Trung Quốc chưa hề biết đến. Lạc Long Quân thường được nhân dân gọi là Bố mỗi khi có việc cần giúp đỡ, có thể ký hiệu bằng quẻ Càn, tượng là vua, là cha. Lạc Long Quân thường sống ở Thủy phủ, ký hiệu là quẻ Khảm, tượng là nước. Lạc Long Quân diệt được Hồ tinh là con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm ở đầm Xác Cáo nay là  Hồ Tây, sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Đoài tức quẻ Trạch có tượng là đầm. Đất Phong Châu thời thượng cổ có cây Chiên đàn sống hàng ngàn năm, chim hạc thường đến đậu ở đấy nên nơi đó còn gọi là đất Bạch Hạc (nay thuộc Phú Thọ), lâu ngày cây hóa thành yêu tinh dân gọi là thần xương cuồng. Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra sức đánh đuổi, cứu dân thoát khỏi sự bức hại của xương cuồng. Sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Tốn còn gọi là quẻ Phong có tượng là mộc. Như vậy, Lạc Long Quân (quẻ Càn) diệt hồ tinh (quẻ Đoài), diệt mộc tinh (quẻ Tốn), diệt ngư tinh (quẻ Khảm) để cứu dân, từ đó ta đã có được một vế của Trung Thiên Đồ: Càn - Đoài - Tốn - Khảm. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân nói với Âu Cơ (được  tôn xưng là Quốc mẫu, là mẹ, ký hiệu là quẻ Khôn): “Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở với nhau lâu được, nay phải chia ly. Ta đem năm mươi con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi xuống biển, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên nhau”. Như thế là truyền thuyết đã xác định rất rõ tính cách tương phản giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ. Long Quân thuộc quẻ Khảm (Thủy) thì Âu Cơ thuộc quẻ Ly (Hỏa). Truyền thuyết kể tiếp: “Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang”. Lên Phong Châu là lên núi ký hiệu là quẻ Cấn, có tượng là núi, tôn người con cả ký hiệu là quẻ Chấn vì Chấn có tượng người con trưởng. Ta lại có thêm vế thứ hai của Trung Thiên Đồ: Ly - Cấn - Chấn - Khôn. Đến đây ta đã khai quật được Trung Thiên Đồ từ lớp ngôn ngữ truyền thuyết, các quẻ xếp thứ tự Càn - Đoài - Tốn - Khảm - Ly - Cấn - Chấn - Khôn theo chiều ngược kim đồng hồ.

Ta có thể chia Trung Thiên Đồ thành hai vế: A: Càn Đoài Tốn Khảm và B: Khôn Chấn Cấn Ly.

Vế A biểu tượng cho Lạc Long Quân (Càn), hình dạng con Rồng Dương với Càn 3 vạch liền (đầu rồng), Đoài Tốn đều có hai vạch hai bên (thân rồng), Khảm một vạch ở giữa (đuôi rồng).

 

   

Rong tren noc chua_Nguyen Thieu Dung

 

Hai con rồng Âm Dương này cùng châu đầu vào quẻ Càn đặt ở phương Nam, cực dương biểu tượng mặt trời có ngọn lửa bao quanh. Đó chính là “lưỡng long triều nhật” thường thấy trên các mái đình, mái chùa, một dạng cách điệu của Trung Thiên Đồ.

Rồng Lạc Long Quân có đuôi là quẻ Khảm nên luôn liên hệ với nước.

Rồng Âu Cơ có đuôi là Ly nên luôn liên hệ với lửa, lại còn có Cấn/Sơn vì vậy thường ở núi. Rồng Âm Âu Cơ biến thể thành chim Phượng, hay là Tiên.

Lưỡng long triều nhật, chính là TRUNG THIÊN ĐỒ được cách điệu, đó là di sản tinh thần của dân tộc, là chứng tích được bảo lưu một các trang trọng tôn nghiêm hiện hữu trước mắt chúng ta để nhấn mạnh KINH DỊCH LÀ DI SẢN SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI VIỆT.

 

Ta thường dùng từ lưỡng long, nhưng Trung Quốc hiếm dùng họ thường dùng từ song long hay nhị long. Ta gọi lưỡng là cặp hàm nghĩa có đôi đực  cái, âm dương vì ta trọng nguyên lý âm dương đã đúc kết nên Kinh Dịch. Vạn vật bao giờ cũng có sự hòa hợp giữa âm và dương, vạn vật cỏng âm bồng dương, nên dân tộc ta hiếu hòa. Trung Hoa ngược lại là dân du mục hiếu chiến, họ thích tranh chấp, xâm lấn nên hảo dùng song long, nhị long chỉ hai con rồng chứ không phải cặp rồng để yêu thương hòa hợp, mà gặp nhau là đấu nhau, giành nhau, hơn thua với nhau, với họ song long tranh châu, nhị long tranh châu là biểu trưng rất phổ biến.

 

Lưỡng long triều nhật trên nóc chùa Việt Nam là biểu tượng hòa bình, là lời kêu gọi yêu thương đùm bọc lẫn nhau, sưởi ấm cho nhau dưới ánh nắng ấm áp của mặt trời chứ đừng gieo giá lạnh vào đời nhau.

 

Đầu xuân đi lễ chùa, lễ đình xin hãy gọi đúng tên LƯỠNG LONG TRIỀU NHẬT hay LƯỠNG LONG TRIỀU NAM như một lời tri ân tổ tiên của CON RỒNG CHÁU TIÊN.

 

 

NGUYỄN THIẾU DŨNG

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/01/2026(Xem: 1149)
Sau thời gian điều phục bệnh duyên tại Thiền thất trên Đồi Trại Thủy, ngày 24/01/2026, Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước An đã nhập viện tại Khánh Hòa để điều trị bệnh cũ tái phát. Hiện nay, bệnh duyên của Đức Tăng Trưởng được Bác sĩ chẩn đoán với nhiều dấu hiệu không tốt, tứ đại mỗi ngày suy hao do tuổi cao sức yếu. Để tỏ lòng tôn kính đối với bậc Tôn trưởng trong ngôi nhà Phật pháp, Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN trân trọng thông bạch đến Chư tôn tịnh đức Tăng-già nhị bộ, Thiện tín Phật tử trong và ngoài nước tùy thuận nhân duyên tổ chức các khóa lễ kỳ an, mang năng lượng công đức tu tập, phụng hành Phật sự của tứ chúng, nhất tâm hồi hướng kỳ nguyện cho Đức Trưởng lão Hòa thượng Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN được bệnh duyên tiêu trừ, tứ đại điều hòa, cửu trụ Ta bà hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh.
16/01/2026(Xem: 1267)
Chùa Linh Nghĩa tọa lạc thôn Phú Khánh trung, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh (cũ), tỉnh Khánh Hòa. Xưa thật xưa, nơi đây là Nghĩa Trũng Đàn (義塚壇) do các quan triều trong Phủ Diên Khánh, Khánh Hòa sáng lập năm Tự Đức thứ tư – 1851, chính là nơi thờ cúng hài cốt của các nghĩa sĩ trận vong và chư vong linh trong thời nhà Nguyễn (1752-1792)... Nghĩa trũng là tên gọi chung chỉ những khu mộ tập trung dành cho những người hy sinh vì đại nghĩa, đặc biệt là các nghĩa sĩ, liệt sĩ, hay những người chết oan, vong vất vưởng không có nơi nương tựa... Đàn là nơi bày biện thiết lễ để cúng kiếng, cầu siêu (như đàn tràng)…
15/01/2026(Xem: 1360)
Tịnh xá Linh Sơn tọa lạc trên đỉnh một ngọn đồi gần bên đèo Rù Rì, thuộc địa phận thôn Lương Hòa, xã Vĩnh Lương (cũ), phường Bắc Nha Trang. Thuở sơ khai, Tịnh xá Linh Sơn chỉ là một am cốc đơn sơ do Sư Thích Giác Lượng tạo dựng giữa rừng cây đá núi rậm rạp để tịnh tu vào những năm đầu thập niên 1970 của thế kỷ trước. Đến năm 1973, sau khi Đức Thầy Thích Giác An- đệ tử Tổ sư Minh Đăng Quang, khai sáng Tổ đình Nam Trung của Giáo đoàn III hệ phái Khất Sĩ, trong đó có Tịnh xá Ngọc Tòng- viên tịch (vào ngày 16 tháng 7 sau ngày Tự Tứ mùa Vu lan Tân Hợi 1971) thì Sư Giác Lượng với đương vị Trị Sự Trưởng đã về “mái cốc am thiền” an trú suốt 3 tháng, sống đời viễn ly thanh tịnh để hoàn thành tập tài liệu “Lưu Kỷ” mang giá trị lịch sử thiêng liêng. Lưu Kỷ là tập sách được biên soạn, ghi lại toàn bộ những sự kiện, hình ảnh, cảm xúc và chứng tích liên quan đến sự viên tịch của cố Trưởng lão Giác An vốn là bổn sư truyền giới của Sư Giác Lượng.
12/01/2026(Xem: 1645)
Sáng 8 giờ, thứ Hai ngày 12 tháng 01 năm 2026, trong tinh thần từ bi cứu khổ và hộ trì Tam Bảo, Hòa Thượng Thích Thông Mẫn đã quang lâm Chùa Thiên Minh, thành kính cúng dường Pháp bảo đến Hòa Thượng Viện Chủ Thích Khế Chơn, nhằm hỗ trợ các tự viện tại những địa phương chịu nhiều thiệt hại bởi bão lũ miền Trung Việt Nam. Trong không gian tuy khiêm tốn mà trang nghiêm, Hòa Thượng Khế Chơn – Viện Chủ cùng Hòa Thượng Thích Thông Mẫn đã cử hành lễ cúng dường Pháp bảo đến 25 ngôi chùa vùng lũ. Sau thời pháp ngắn đầy đạo vị về ý nghĩa Tam Bảo, đại chúng đồng hướng tâm đảnh lễ, cung kính tiếp nhận Pháp, khơi dậy niềm tin và nghị lực tu học giữa những khó khăn chồng chất. Hoàn mãn Phật sự, đoàn nhanh chóng lên đường tiếp tục hành trình về huyện Phú Vang (cũ), nay là xã Vĩnh Lộc.
11/01/2026(Xem: 575)
Với hoài bão và tâm nguyện phát triển Tu viện Vạn Hạnh tọa lạc tại đường Độc Lập, phường Phú Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh (Quốc lộ 51, TP. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa—Vũng Tàu cũ) do Cố Hòa thượng Thích Đồng Huy khai sơn vào năm 1970 trở thành nơi tu học cho Chư Tăng Ni và Phật tử tại làng Vạn Hạnh ở núi Thị Vải cũng như các Tăng Ni và Phật tử khắp nơi. Nay, chúng tôi, chúng con, được sự ủy nhiệm của Tông môn do Hòa thượng Thích Minh Thiện và Thượng tọa Thích Minh Chánh cùng Huynh đệ trong pháp phái giao phó kế thừa Trụ trì và phát triển chốn Tổ trở thành Trung tâm Phật giáo của Làng Vạn Hạnh.
01/08/2025(Xem: 1275)
Chùa Viên Giác tọa lạc tại khối phố Tu Lễ, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hội An, thành phố Đà Nẵng. Chùa được dân làng Cẩm Phô trùng tạo vào năm Thiệu Trị nguyên niên, Tân Sửu (1841), tính đến nay đã được 184 năm. Với chiều dài lịch sử gần hai thế kỷ gắn bó cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc và đạo pháp, chùa Viên Giác đã đóng góp phần nhỏ của mình trong sự phát triển của lịch sử Phật giáo Quảng Nam trong quá khứ và hiện tại.
01/07/2025(Xem: 1222)
Theo sách "Thiền Uyển tập anh", thiền sư Đạo Hạnh là con ông Từ Vinh và bà Tăng Thị ở làng Yên Lãng (tục gọi là làng Láng), là người thông minh, hiếu học, có chí lớn, tính tình phóng khoáng. Sau khi cha mất, Từ Đạo Hạnh chọn con đường đi Tây Vực để học đạo. Tuy không đến được Ấn Độ nhưng ông đã học được những phép thuật ở phái Mật Tông của Phật giáo. Khi trở về, ông đến tu tại núi Phật Tích (Hà Tây).
22/06/2025(Xem: 1684)
Chùa Thanh Lợi Trụ Trì: TT Thích Tịnh Quang Địa chỉ: Thôn Cửu Lợi Xã Cam Hoà. Huyện Cam Lâm Tỉnh Khánh Hoà. Việt Nam
20/06/2025(Xem: 1158)
Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn. Nghìn năm trước tháp kiêu hãnh dưới bầu trời xanh, nghìn năm sau tháp cô quạnh giữa dòng đời xuôi ngược. Trong tám tháng lưu lại ở Chăm Pa, có thể thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đến viếng tháp này vì tháp không xa kinh đô Đồ Bàn (Vijaya) là mấy. Lịch sử thịnh – suy rất vô thường, sự - yếu mạnh thay đổi liên tục… Đến năm 1471 vua Lê Thánh Tông mang đại quân đến đây và đã cho phá huỷ kinh đô Đồ Bàn, cả vùng đất này nhập vào Đại Việt.
20/05/2025(Xem: 1987)
Kính Bạch Chư Tôn Hoà Thượng, Chư Thượng Toạ, Đại Đức Tăng Ni, Kính Thưa Quý Đạo Hữu Phật Tử, Quý Thiện Nam Tín Nữ, Quý Doanh Nghiệp, Các Nhà Hảo Tâm Trong Và Ngoài Nước. Chùa Đa_ An Lạc Thiền Tự, Toạ Lạc Tại xóm 5, Quán Khái , Vĩnh Phong, xã Tiền Phong, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. Chùa Được Xây Dựng Từ Thế Kỷ Thứ XVI Trải Qua Bao Thăng Trầm Mưa Nắng Nay Đã Xuống Cấp. Với Tâm Nguyện Phục Hưng Ngôi Tam Bảo, Hoằng Dương Phật Pháp, Chư Tăng Bổn Tự Cùng Nhân Dân, Phật Tử Địa Phương Muốn Triển Khai Tu Sữa Xây Dựng Lại Ngôi Tam Bảo Để Trang Nghiêm Cảnh Phật Và Giúp Phật Tử Có Điều Kiện Tốt Hơn Để Học Phật, Nghe Pháp, Tu Dưỡng Tâm Bồ Đề. Vì Tâm Nguyện Đó Bổn Tự Viết Tâm Thư Kêu Gọi Quý Doanh Nghiệp, Tổ Chức, Các Mạnh Thường Quân, Các Nhà Hảo Tâm Chung Tay Người Ít Người Nhiều Phát Tâm Công Đức Xây Dựng Chùa Đa_ An Lạc Thiền Tự.