Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Hội thảo quốc tế về Phật học & những giới thiệu về di sản văn bản quý hiếm của Phật giáo Mông Cổ

10/04/201311:32(Xem: 1866)
Hội thảo quốc tế về Phật học & những giới thiệu về di sản văn bản quý hiếm của Phật giáo Mông Cổ


Hội thảo quốc tế về Phật học & những giới thiệu về di sản văn bản quý hiếm của Phật giáo Mông Cổ

PHẤN TẢO Y LANG

---o0o---

Nhân một thiện duyên, chúng tôi đọc thấy một tài liệu ngắn giới thiệu một chương trình thu tập các tư liệu gồm các thủ bản và mộc bản quý hiếm đánh dấu sự hiện hữu của Phật giáo tại Mông Cổ từ khi đất nước này bắt đầu có sử liệu vào khoảng thế kỷ XIII. Đây là một lĩnh vực chúng tôi chưa học hiểu đến, nhưng cảm thấy tài liệu này có giá trị sử học và nghiên cứu, nhất là hiện tại còn rất ít thông tin về nền Phật giáo tại Mông Cổ, cho nên cố gắng lược dẫn tài liệu này để cống hiến độc giả NSGN và những ai quan tâm đến sự phát triển của Phật giáo trên thế giới.

Ngày 25 tháng 6 năm 1994, một hội thảo quốc tế chuyên đề về Phật học (International Seminar on Buddhist Studies) được tổ chức tại Liw, Ba Lan; hội thảo này là một sự kiện có tầm vóc quốc tế diễn ra lần đầu tiên tại đây. Các bài thuyết trình tại hội thảo này sau được tập thành làm một tác phẩm tựa đề: Aspects of Buddhism; Proceedings of the International Seminar on Buddhist Studies. Liw, 25 June 1994. Tác phẩm dày 202 trang, với nhiều ảnh màu, do Viện Nghiên cứu Đông phương, Đại học Warsaw xuất bản, nằm trong serie Studia Indologiczne, tập 4, 1997. Sách chia làm 5 phần: 1. Thay lời tựa, cáo lỗi; 2. Giới thiệu các bài đóng góp và sơ lược tiểu sử các tác giả; 3. Dẫn nhập; cùng 2 bài chuyên đề: 4. Căn bản Phật giáo qua tư liệu Ciqula kereglegci,và 5. Những thủ bản qúy hiếm tại St. Petersburg.

Phần 1 không có gì đáng kể. Phần 2, thành phần tham dự và các tác phẩm đóng góp: Danh sách các tham dự viên của hội thảo này hầu như còn xa lạ đối với độc giả Việt Nam; tuy nhiên các bài thuyết trình của họ cho thấy hiện trạng Phật học và sự nghiên cứu của họ không kém các đối tác tại Anh-Mỹ. Từ trong truyền thống triết học Hy-La, họ còn có thể có những tư tưởng mới lạ hơn của Anh-Mỹ, một khi đã thấm nhuần căn bản triết lý đạo Phật, để đóng góp vào trong nền văn học đã vô cùng phong phú và đa dạng của Phật giáo phương Tây, gồm Âu, Mỹ, Úc và cả châu Phi nữa.

Điển hình như bài về luận sư Bhavya (niên đại 490-570), một nhân vật ít được Phật tử biết đến, từng được xếp ngang hàng với Thế Hữu (Vasumitra), và một luận sư khác là Vinitadeva (Tì Ni Đề Bà, hay Tì Ni Thiên), lại có đến hai bài nghiên cứu về ông:

i. Luận sư Bhavya viết về Chân ngôn: những cố gắng biện minh cho Đại thừa Phật giáo do Jens Braarvig (Oslo) thuyết trình; và:

ii. Những nghiên cứu của Bhavya về Mimamỳsa; bài viết của Christian Lindtner (Copenhagen).

Bhavya là tác giả một tác phẩm gọi là Madhyamakahr夡ya-kàrika(Trung quán tâm kệ); ngoài ra ông còn trước tác các bộ luận Hetubindu-tikà, Nyayabindutika, và Trishatakàrika-vyàkhyàna. Ông là một luận sư nổi tiếng đương thời, có uy tín trong công trình thẩm định và phê bình các triết phái Ấn Độ đang thịnh hành, thường cùng Thế Hữu có nhiều ý kiến khác nhau về việc xếp loại các học phái thời bấy giờ. Mimàm峡 (Di Man Tác), có nghĩa là thẩm sát và khảo cứu, là một trong 6 phái lớn của triết học Ấn Độ, có chủ đích nghiên cứu và biện luận để chú thích và quy định tất cả những nghi thức tế lễ kỳ đảo được ghi trong bộ thánh điển Védas.Học phái này do triết gia Jaimini (khoảng 200-100 trước dương lịch) sáng lập. Khoảng 100 năm sau (thế kỷ I dl), một nhóm học giả kế thừa chí nguyện và ý tưởng của Jaimini mới tập thành kinh điển Mimam峡-sùtracó hệ thống quy mô để truyền bá triết phái của họ. Về Mimam峡, ta có thể đi sâu vào chi tiết qua tác phẩm Sáu phái Triết học Ấn Độ do HT. Thích Mãn Giác soạn (sắp tái bản)(*). Riêng về Bhavya, hầu như chưa có một tiểu luận nào bằng Việt ngữ viết về ông.

Ngoài Bhavya, Thế Thân cũng được nghiên cứu đến qua 2 bài thuyết trình của Marek Mejor (Warsaw):

iii. Hệ thống lý Nhân duyên: nhận định về tác phẩm Pratityasamutpada-vyakhyacủa Thế Thân; và:

iv. Về Pratityasamutpada-vyakhyacủa Thế Thân;

Lại nữa, Mejor còn có thêm một tiểu luận về:

v. Hiện trạng Phật học tại Ba Lan; bài này chỉ ghi là A Note on Buddhist studies in Poland , nhưng lại rất quan trọng và sẽ được nhắc đến trong phần 3.

Riêng Dharmakìrti (Pháp Xứng, thế kỷ 7), có đến 3 thuyết trình viên nhắc đến:

vi. Helmut Krasser (Vienna) viết bài về "rNgog lotsaba đối với chứng cứ sahopalambhaniyama trong Pramanaviniscaya của Pháp Xứng".

vii. Michael Torsten Much (Vienna) thì nói đến : "Samana-dhikaranya theo Trần Na, Uddyotakara và Pháp Xứng"; và

viii. Tom J. F. Tillemans (Lausanne) trình bày: Ý nghĩa prasiddha và yogyata theo Pháp Xứng ;

Ngoài những nghiên cứu về một số các luận sư tài danh trong nền triết học Phật giáo như được kể trên, còn có Mã Minh (Asvaghosa) được đề cập đến qua cái nhìn sử học theo bài viết của David P. Jackson (Hamburg):

ix. Về niên đại dịch bản Tây tạng Phật Sở Hành Tán (Buddhacarita) của Mã Minh.

Còn Per Kvirne (Oslo) thì trình bày:

x. Tìm hiểu nghệ thuật Phật giáo tại Kinnaur.

Kinnaur thuộc miền Bắc dãy Hy Mã Lạp Sơn, nằm trong thung lũng Sangla, cách thủ đô Delhi của Ấn Độ khoảng 600 km, hiện nay là một thắng cảnh nổi tiếng quốc tế, núi non hùng vĩ, trời đất bao la. Xưa thuộc ảnh hưởng Phật giáo nhưng nghệ thuật phát huy tại đây vẫn còn ít được biết tới.

Hai bài sau, của Agata Bareja-Starzynska và Vladimir L. Uspensky, thì được dành riêng 2 phần, 4 & 5, vì ý nghĩa quan trọng của chúng trong công cuộc nghiên cứu Phật giáo tại Mông Cổ mà đến nay vẫn chưa được chú trọng đến nhiều. Đó là:

xi. Agata Bareja-Starzynska (Warsaw):Những nguyên lý căn bản của Phật giáo trong Ciqula kereglegci, một tư liệu Phật giáo Mông Cổ thuộc thế kỷ XVI" ; và

xii. Vladimir L. Uspensky (St. Petersburg): "Một vài thủ bản Oirat quý hiếm trong sưu tập của thư viện Đại học St. Petersburg";

Phần 3, phần Dẫn nhập: Để có được một hiểu biết thâm sâu về sự đóng góp của Ba Lan về Phật học, chúng ta cần đọc bài A Note on Buddhist Studies in Poland của Marek Mejor. Mejor cho rằng bộ môn Ấn Độ học và Phạn ngữ học tại Ba Lan được phát triển nhờ công trình của Andrzej Gawronski (1885 ố 1927), một công trình vẫn còn ảnh hưởng sâu rộng đến ngày nay, điển hình là công trình Gawronski chủ trương tạp chí Rocznik Orientalistyczny, một tạp chí chuyên về Đông phương học nay vẫn còn phát hành đều đặn, hay quyển sách chỉ nam về Phạn ngữ mà nay vẫn còn được dùng làm căn bản để dạy trong chương trình Ấn Độ học tại Đại học Warsaw.

Trên mười học giả đã có bài thuyết trình hay tiểu luận được thu tập trong sách này; họ là trong số những người tiên phong trong lĩnh vực Đông phương học mà phần lớn sinh ra vào đầu thế kỷ XX, số khác đã từ giã thế giới chúng ta rất sớm. Cho nên, không có gì lạ khi mà lời dẫn nhập đã ghi rằng: mục đích của cuộc hội thảo này là để khơi dậy nền Phật học của đất nước Ba Lan, mà sau thời kỳ những sinh hoạt rạng rỡ của S. Schayer, C. Regamey, A. Kunst, Jan Jaworski, v.v... đã bắt đầu có dấu hiệu thoái hóa theo định luật thành hoại tự nhiên của thế giới thanh sắc.

Nhắc đến những tên tuổi trên, ta cần biết qua về Viện Nghiên cứu Đông phương học của Đại học Warsaw (The Institute of Oriental Studies at Warsaw University). Đông phương học viện được thành lập năm 1932, gồm 4 phân khoa: Ấn Độ học do S. Schayer chuyên về Thế Thân làm khoa trưởng, Trung văn học do Jan Jaworski và sau đó Witold Jabwonski làm khoa trưởng, Ai Cập học do Antoni Omieszek cùng Rudolf Ranoszek và Thổ Nhĩ Kỳ học do A. Zajaczkowski làm khoa trưởng. Sau hơn 65 năm hoạt động, ngày nay Viện đang bổ nhiệm 21 giáo sư chánh ngạch, hơn 100 tiến sĩ chuyên viên nghiên cứu và giảng huấn trong lĩnh vực văn hóa, bao gồm các bộ môn sử học, tôn giáo học, văn chương và ngôn ngữ học tại các nước châu Á và Phi như các môn Á-rập, Hồi (giáo), Ai Cập, Do Thái, Ấn Độ, Ba Tư, Nhật, Triều Tiên, Trung văn, Mông Cổ, và Thổ Nhĩ Kỳ học. Trong Thế chiến thứ hai, các sách vở sưu tập trong thư viện đã bị thiêu hủy gần hết, nhưng ngày nay cũng đã thu tập lại đến trên 200 ngàn tài liệu về các ngành này. Về các tạp chí do Viện chủ trương, có: Studies of the Department of African Languages and Cultures , Arabic and Islamic studies (Studia Arabistyczne i Islamistyczne) xuất bản từ năm 1993 và Studia Indologiczne từ năm 1994. Chương trình học đòi hỏi 5 năm; thường có khoảng 600 sinh viên ghi danh. Như thế, Đông phương Học viện này có một quá trình và thành tích đáng kể, mặc dù chúng ta vẫn còn biết rất ít về các sinh hoạt văn hóa của họ.

Phần 4 đặc biệt dành riêng cho bài thuyết trình về Căn bản Phật giáo Mông Cổ qua tư liệu Ciqula kereglegci.

Dựa trên những nghiên cứu cho luận án tiến sĩ sắp đệ trình, Agata Bareja-Starzynska đã giới thiệu cho ta về nguồn gốc và ý nghĩa quan trọng của Ciqula kereglegci,một tư liệu Phật giáo Mông Cổ thuộc thế kỷ XVI, có thể là được biên soạn hay dịch theo nguyên bản từ Tây Tạng sang Mông Cổ ngữ bởi luận sư Sireget gsi corji hay (đại sư) Zaya Pandita (Namkaidjamtso). Pandita có nghĩa là học giả uyên bác, theo Phạn ngữ. Zaya Pandita được biết là có soạn thảo một tác phẩm gọi là zeqser tusatai cuxula kereqt kemek . Bareja-Starzynska đã nhận dạng được 23 thủ bản của Ciqula kereglegci trong nhiều tàng kinh các tại nhiều nơi, kể cả St. Petersburg và Bắc Kinh. Nguồn gốc chính thức của tác phẩm Ciqula kereglegci này vẫn chưa được hoàn toàn định vị; còn nguyên bản Tây Tạng thì lại là một tập thành từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau.

Tác phẩm Ciqula kereglegciđược chia làm 3 phần chính:

a. Lịch sử Đức Phật và giáo pháp của Ngài(đặt căn bản trên các kinh điển Đại thừa và các chú giải luận sớ trong Đại Tạng);

b. Nguồn gốc và sự hủy diệt của thế giới:tiêu đề là vậy, nhưng thực ra chỉ là một sơ thảo lịch sử Tây Tạng và Mông Cổ, có liệt kê cả danh sách niên đại vương triều Ấn.

c. Danh từ Phật học

Đối với ba phần này, các học giả phương Tây đánh giá khác nhau. Trong khi phần hai được xem như là khuôn mẫu cho biên niên sử ký của Mông Cổ vào thế kỷ XVII, thì hai phần kia không được chú ý đến nhiều. Do đó mà Bareja-Starzynska đề nghị là cần chú trọng đến phần ba, thường đã bị bỏ quên, bởi vì thực ra, chính phần ba mới khiến cho toàn tác phẩm có tựa là: ciqula kereglegci tegs udwasi eyin glesgei có nghĩa là: tầm quan trọng của những danh từ Phật học được sử dụng; nói cách khác, đây là ảnh hưởng của Phật giáo trong nền văn hóa và văn minh Mông Cổ.

Bản danh từ Phật học này được dựa theo hệ thống A Tỳ Đàm mà cô Bareja-Starzynska làm một bản đối chiếu với các thuật ngữ tương đương bằng Tây Tạng và Phạn ngữ; theo đó, cho ta thấy rõ ràng chỉ có một phần các danh từ này là bắt nguồn từ lúc sơ thời Phật giáo du nhập vào Mông Cổ mà thôi. Trong phụ lục 3 (tr. 13-31), tác giả đưa ra một bản liệt kê theo tiêu đề những thuật ngữ Phật giáo, nhận định cách cấu trúc của những thuật ngữ này cùng là ghi chú những chữ nào không thể nhận diện được sau khi so sánh chúng với nhiều dị bản của Mahavyutpatty và từ điển Tạng-Mông Merged garqu-yin oron của thế kỷ XVIII.

Tóm lại, lĩnh vực từ vựng học Mông Cổ hay biên soạn từ điển Mông Cổ xưa nay ít được chú ý đến, cho nên công trình của Bareja-Starzynska là một đóng góp quan trọng cho sự tìm hiểu ảnh hưởng Phật giáo trong nền văn minh và văn hóa của xứ này.

Phần 5 có tiêu đề Một vài thủ bản quý hiếm tại St. Petersburg .

Trong bài viết về Một số thủ bản quý hiếm trong sưu tập của thư viện Đại học St. Petersburg",Vladimir L. Uspensky liệt kê những thủ bản Oirat trong ngự thư phòng của thái tử Huyền Diệp tức hoàng đế nhà Thanh Khang Hy (1661-1722) , gồm cả một số tác phẩm dịch thuật của Zaya Pandita, và một dị bản được gọi là dị bản Oirat zeqser tusatai cuxula kereqt kemek của nguyên văn Những nguyên lý căn bản của Phật giáo . Zaya Pandita phiên dịch tác phẩm Ma ni bka bum vào năm 1644, rất nhiều năm trước khi thủ bản Oirat zeqser tusatai cuxula kereqt kemek được thành hình. Thêm vào đó, một số các sử truyện cũng được tìm thấy trong thư viện Đại học St. Petersburg: Bzongkaba-yin tuuji và Bodhi mưriyin ndsn blamanariyin tuuji: cagan lingxu-a-yin erike. Hai tác phẩm khác cũng được nhắc đến trong bài này, nói đến Lịch sử về Chân ngôn của Bồ tát Tara, một hình trạng khác (màu xanh) của Đức Quán Âm, do Taranàtha (1575-1635) soạn: a. Dare ekeyin ndsni garxoi garulga tododxon iledki tuuji altan eriken kemek orosibu và b. Gurban sanvariyin teyin talbil orosibu .

Uspensky chỉ ghi chú những điểm quan trọng của các văn bản này, nhận định rằng ông làm thế để so sánh với các dị bản khác đã được biết đến; đọc qua bài của Uspensky, độc giả được lôi cuốn cách thích thú với toàn bộ sưu tập về các văn bản Oirat trong thư viện Đại học St. Petersburg.

Liên quan đến phần này, có thêm một bài viết về 'Todo Bichig và di sản văn bản trong bối cảnh văn hóa Mông Cổ "của K.V. Orlova. Orlova ghi nhận rằng ngữ văn Mông Cổ đã có lịch sử hàng ngàn năm. Nguồn gốc của ngôn ngữ này liên hệ mật thiết với những sử kiện chính: đối với ngôn ngữ Mông Cổ thì khi xứ này lập quốc - tức lúc bắt đầu có tư liệu lịch sử - vào đầu thế kỷ XIII thì những ngôn ngữ chính đã được hình thành rồi; đối với ngôn ngữ Oirat (đôi khi viết là Oyrat) thì được biết đến khi dân Oirats (thuộc Tây Mông) có những sinh hoạt chính trị vào những thế kỷ XV-XVII. Đồng thời, sự phát triển của truyền thống ngữ văn Mông Cổ cũng liên hệ chặt chẽ với sự truyền bá của Phật giáo trong quần chúng nói tiếng Mông Cổ, đặc biệt là tại Tây Mông; hợp cùng sự cần thiết phải thông hiểu di sản văn hóa Ấn Độ và Tây Tạng.

Trước thế kỷ XVII, dân Oirats dùng ngữ pháp cổ Mông Cổ. Đến năm 1648 Zaya Pandita Namkaidjamtso mới khai triển thư pháp Todo Bichig Script. Zaya Pandita dùng các luật mới về chính tả dựa trên các nguyên tắc đánh vần theo từ nguyên để hình thành thư pháp Todo Bichig này. Trong khi đó thì dân Kalmyks dùng cổ thư Kalmyk cho đến khoảng cuối thập niên 1920. Đến năm 1930 thì mẫu tự La-tinh được dùng cho đến 1938. Sau đó thì dân Kalmyks lại dùng các mẫu tự dựa trên ngữ tự Cyrillic (như của Nga). Ngày nay cổ thư Kalmyk vẫn còn được những người Tây Mông sống những vùng Tân Cương-Uighur của Trung Quốc sử dụng. Kalmykia nay là một quốc gia độc lập theo thể chế cộng hòa.

Các thủ bản của Zaya Pandita vừa được tìm thấy là một kho tàng độc đáo của di sản văn hóa Kalmyk. Cho nên gần đây, đã có nhiều quan tâm đến nguồn gốc văn bản trong bộ môn Mông Cổ học mà trước kia, do thành kiến cho là chúng có tính cách tôn giáo (tức Phật giáo) hay không có căn nguyên nên bị lãng quên. Những tác phẩm kể trên là những tư liệu đầu tiên có nguồn gốc từ cổ tự Ấn Độ, vốn được các nhà chấp bút Tây Tạng và Mông Cổ cũng như dân Oirats, dùng, theo đúng truyền thống giáo huấn của Phật giáo vùng Trung Á. Đây chính là công lao của B.Y. Vladimirtsov, người đầu tiên đề cập đến những dịch bản Mông Cổ của các luận tác Phật giáo, đồng thời cũng là người làm một sưu tra về những thủ bản Oirats tồn tại từ thế kỷ XVII, thời gian thư pháp Todo Bichig bắt đầu được dùng đến.

Một trong những chiều hướng quan trọng của Mông Cổ học, đặc biệt là Kalmyk học, là sự hệ thống hóa và hợp nhất hóa các thủ bản. Những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này đã mang đến kết quả là đã nhận dạng được hàng ngàn thủ bản bị thất tán khắp nơi, gồm cả các thủ bản Oirats rất quý hiếm, trong lúc ấy thì số còn lại ở vùng Kalmykia thì lại không được để ý đến sau khi dân Kalmyk bị di tản trong thời kỳ 1943-1957.

Hiện nay, Phân khoa Nhân văn học của Học viện Kalmyk (The Kalmyk Institute of Humanitarian Studies) thuộc Hàn lâm viện Khoa học Nga (Russian Academy of Sciences) đã khởi xướng chương trình Di sản Văn bản Oirat (The Oirat Written Heritage) với mục đích là tập thành một catalogue thống nhất về tất cả các thủ bản và các bản khắc gỗ (xylographs) bị phân tán khắp nơi trên thế giới. Chương trình này hứa hẹn sẽ là độc nhất từ trước đến nay, vì là lần đầu tiên thu tập tất cả các nguồn tư liệu thuộc văn bản Oirat và hệ thống hóa chúng để chắc chắn giúp ích cho các học giả muốn nghiên cứu toàn bộ truyền thống chữ viết của văn hóa Kalmyk.

(Địa chỉ liên lạc chương trình này: K.V. Orlova, Assistant Director, Kalmyk Institute of Humanities Research, Russian Academy of Sciences, Elista, Republic of Kalmykia).

***

Trông người rồi nghĩ đến ta. Dầu dưới bao nhiêu áp lực bằng vũ lực, chính trị hay quyền lực của ngoại bang, giới học thuật và nghiên cứu văn hóa cũng không bao giờ có thể phủ bác sự hiện diện và tồn tại của nền văn minh, văn hóa và văn học Phật giáo Việt Nam đã gắn liền cùng với đất nước và dân tộc hơn hai ngàn năm qua. Trải bao cuộc chiến tranh từ phương Bắc, từ phương Tây, tất cả các thủ bản, văn bản thuộc Phật giáo Việt Nam hầu như đã thất tán gần hết. Cho đến nay, ta chỉ tìm được duy nhất một tư liệu về tình hình Phật giáo nước ta trước thế kỷ XIII là Thiền uyển tập anh ,dựa vào đó, kể từ cố giáo sư Trần Văn Giáp vào năm 1932 kéo theo một loạt các nhà viết sách khác, đã gây nên nhiều sai lạc về lịch sử Phật giáo Việt Nam và về lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính yếu khiến hầu hết các học giả phương Tây khi viết về lịch sử Phật giáo thế giới không nhắc đến Việt Nam như là một đất nước có truyền thống Phật giáo, hoặc có thì cũng chỉ qua loa. Cho nên đã đến lúc cần phải có một chương trình tương tự, tạm gọi là Di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam mà dự án đầu tiên là liệt kê một catalogue các thủ bản quý hiếm (rare manuscripts) hiện được bảo tồn.

Theo hiểu biết có giới hạn của chúng tôi, hiện học giả Lê Mạnh Thát đã sưu tập được trên 100 thủ bản quý hiếm do các thiền sư Việt Nam biên soạn trong thời nhà Trần và nhà Lê. Dự án đề nghị Di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam có thể bắt đầu bằng làm một catalogue về những thủ bản quý hiếm này;mặc dù công trình cần nhiều thời gian và nhân lực (chuyên viên về thư viện để catalogue, phiên dịch ra ngoại ngữ Anh-Pháp, tóm tắt nội dung mỗi tiêu đề, v.v...). Các thủ bản quý hiếm này viết bằng Hán văn hoặc chữ Nôm, là một lợi thế trong việc giới thiệu chúng cho giới học giả phương Tây biết đến di sản quý báu của nền Phật giáo Việt Nam. Bởi vì các học giả chuyên về phương Đông, nhất là Trung văn học, hiện nay hầu như đã khô kiệt đề tài để nghiên cứu. Cho nên các thủ bản chắc chắn sẽ lôi cuốn thích thú cho nhiều học giả Đông phương học và Phật học, để tìm đến nguyên ủy lịch sử và văn hóa cùng văn học Phật giáo Việt Nam qua nội dung của chính các thủ bản quý hiếm hiện tồn

[Lược dẫn theo: Aspects of Buddhism; Proceedings of the International Seminar on Buddhist Studies. Liw, 25 June 1994. Edited by Agata Bareja-Starzynska and Marek Mejor. Warsaw, Oriental Institute, Warsaw University, 1997. 202 pages, 9 colour photographs. ISSN 1232-4663. (Studia Indologiczne, Volume 4, 1997)]

(1)Xem chi tiết về các thủ bản được tìm thấy và nội dung tư liệu quý hiếm này trong: Lê Mạnh Thát, Thiền uyển tập anh, Nxb TP.HCM, 1999.


---o0o---


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/201311:28(Xem: 5916)
Quyển “Phật Giáo Việt Nam và Thế Giới” (PGVNvTG) của Thiền sư [sic] Định Lực và Cư sĩ [sic] Nhất Tâm biên soạn [sic], được NXB Văn Hoá Thông Tin cấp giấy phép số 1715/XB-QLXB của Cục Xuất Bản ngày 11-12-2001, có mặt trên thị trường sách khoảng giữa năm 2003. Sách dày 632 trang, khổ 16x24 cm, được in trên giấy couche, bìa cứng, rất sang trọng. Sách được xuất bản theo dạng “đội mủ” của quyển “Tôn Giáo và Lịch Sử Văn Minh Nhân Loại,”
13/01/202010:29(Xem: 813)
Danh hiệu "TAM TẠNG" là một danh vị vô cùng cao quí được trao tặng cho các vị tỳ khưu chuyên sâu về Pháp Học được tuyển chọn từ 500.000 chư đại đức tăng thành viên của giáo hội Tăng già trên khắp nước Miến.
21/03/202018:31(Xem: 784)
Như thường niên, cứ đến tháng Tư âm lịch, mùa sen nở, mùa hoa Vô Ưu lại về, báo hiệu mùa Phật Đản. Cùng với hàng trăm triệu người con Phật trên khắp 5 châu, lòng tràn đầy hân hoan, đón chào ngày Đản sinh lần thứ 2.643 của đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, chúng ta cùng vọng hướng về Thánh địa Lâm Tỳ Ni, nơi Bồ tát thị hiện ra đời, thành tâm cúi đầu đảnh lễ và xưng tụng đại nguyện độ sinh cao cả của Đấng Thiên Nhân Sư.
16/03/201122:43(Xem: 1595)
Vì sao khi đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố từ bỏ quyền lãnh đạo chính trị, Bắc Kinh lại nổi điên? Ngày 20 tháng Ba này, cộng đồng Tây Tạng trên thế giới sẽ bầu cử để chọn người lên làm Thủ tướng của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng, có trụ sở tại thành phố Dharamsala miền cực Bắc Ấn Độ.
19/05/201614:52(Xem: 12060)
Bắt đầu từ ngày 06 tháng 4 năm 2016, cá biển tự nhiên và cá nuôi lồng bè của ngư dân ven biển chết hàng loạt, bắt nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), lan xuống các tỉnh lân cận (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng…) suốt dọc trên 200 cây số bờ biển. Ngay cả rạn san hô, “nhà ở” của các sinh vật dưới biển, cách bờ biển từ 1-6 hải lý, chạy dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Quảng Bình, cũng đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua; san hô chết, nhiều sinh vật biển chết theo (theo báo cáo ngày 06.5.2016 của chính quyền địa phương thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
10/04/201312:19(Xem: 6228)
Nhằm mục đích giúp cho những bệnh nhân vào thời kỳ cuối của bệnh ung thư sống những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời một cách thanh thản, bình yên về mặt tinh thần cũng như tâm linh trên phương diện y tế được đón nhận sự chăm sóc một cách toàn diện về thân thể, tâm lý và xã hội. Vào ngày 8 tháng 8 năm 1996 Bệnh Viện Đa Khoa Từ Tế Phật Giáo ở Hoa Liên Đài Loan đã thành lập "AN NINH LIỆU HỘ BỆNH PHÒNG"chuyên môn chăm sóc những bệnh nhân thời kỳ cuối của bệnh ung thư và được Ni Sư Chứng Nghiêm (người sáng lập Hội Từ Tế) đặt tên là "Tâm Liên Bệnh Phòng".
10/04/201313:32(Xem: 6819)
Hôm nay là ngày 20 tháng 6 năm 2001 nhằm ngày 29 tháng 4 nhuần năm Tân Tỵ, tôi chắp bút bắt đầu viết quyển sách thứ 32 nầy trong mùa An Cư Kiết Hạ của năm nay. Hôm nay cũng là ngày rất đẹp trời. Vì mấy tháng nay, mặc dầu đã vào hạ; nhưng bầu trời vẫn vần vũ bóng mây, như dọa nạt thế nhân là ánh sáng của thái dương sẽ không bao giờ chan hòa đến quả địa cầu nầy nữa.
28/11/201023:24(Xem: 1503)
Ngày nay, các nhà nghiên cứu lịch sử võ học đều thừa nhận, Thiếu Lâm không những là cội nguồn của nhiều môn võ khác, mà còn được tôn xưng là Ngôi Sao Bắc Đẩu trong nền võ học.
10/04/201312:28(Xem: 8484)
Vào những năm cuối đời Ðông hán, sau khi Phật giáo truyền vào TQ, trải qua những năm chiến loạn của các triều đại như Tam quốc, Tây Tấn 16 nước và Nam Bắc triều, trong chiến tranh và khổ nạn như thế, Phật giáo đã truyền bá 1 cách nhanh chóng. Các lịch đại vương triều, từ việc giữ gìn, bảo vệ chiếc ngai vàng của mình lâu dài vững mạnh, đã biết áp dụng, lưïa chọn chính sách bảo vệ và đề xướng giáo lý Phật giáo. Do vậy, chùa chiền và số lượng tăng chúng không ngừng tăng thêm.
07/07/201120:06(Xem: 15295)
Lời Ban Biên Tập: Nhằm mục đích góp phần giúp thế hệ trẻ Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại biết rõ lịch sử Việt Nam trong năm 1963 xảy ra như thế nào và nhất là để có nhận thức sâu sắc hơn về điều mà dân tộc đã khẳng định: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một”. Cho nên chúng tôi lưu trữ vào Thư Viện Hoa Sen CÁC BẢN DỊCH TỪ KHO DỮ LIỆU BỘ NGOẠI GIAO, BỘ QUỐC PHÒNG, CƠ QUAN TÌNH BÁO TRUNG ƯƠNG & CÁC NGUỒN KHÁC đã giải mật. Các tư liệu này có liên quan đến sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Sự việc này chắc chắn sẽ có những ý kiến ủng hộ và chống đối, nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Ban biên tập website Thư Viện Hoa Sen chân thành cảm tạ nhà văn Cư sĩ Nguyên Giác, Cư sĩ Nguyễn Kha, và Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức Publications đã gửi tặng các phiên bản vi tính điện tử và trân trong giới thiệu đến toàn thể quý độc gỉa trong và ngoài nước.