Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bên trong “Ngôi làng Phật giáo” bí ẩn lớn nhất thế giới

26/04/201507:17(Xem: 4138)
Bên trong “Ngôi làng Phật giáo” bí ẩn lớn nhất thế giới
 
      
Nằm trên thung lũng xanh Larung cao 4.000m, cách thị trấn Sertar, Garze, Tây Tạng khoảng 15 km, nhìn từ xa Học viện Phật giáo Larung Gar như một ngôi làng nhỏ xinh chứa đựng vô vàn điều thiêng liêng và dung dị nhất của đạo Phật.

Được xây dựng từ những năm 1980 ở một khu vực hoàn toàn không có người ở, nhưng học viện Larung Gar không ngừng phát triển. Tính đến thời điểm hiện tại, Larung Gar đã trở thành ngôi nhà cho hơn 40.000 tu sĩ, nữ tu ở khắp mọi nơi hội tụ về học tập rèn luyện. 
 
Cách trở, xa xôi và tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, nhưng Larung Gar vẫn thu hút được sinh viên và trở thành “ngôi làng Phật giáo” lớn nhất thế giới. Nếu từng một lần đến thăm Larung Gar, chắc chắc tất cả các du khách sẽ sửng sốt trước kiến trúc hoàn toàn giống nhau của các ngôi nhà bằng gỗ với hai gam màu chủ đạo: nâu trầm và đỏ thẫm. Những ngôi nhà nằm sát nhau nối tiếp như những đợt sóng đỏ dài bất tận.

Mỗi ngôi nhà có từ 1 đến 3 phòng, thường không có lò sưởi và nhà vệ sinh. Tất cả các hoạt động sinh hoạt được quy định trong một địa điểm chung của từng khu vực. Nơi ở của các tăng ni Phật tử được đặt gần trường đại học và được phân theo độ tuổi, giới tính. 

Trong 40.000 tăng ni, Phật tử hội tụ về Larung Gar thì hơn nửa số đó nữ tu. Hầu hết các sinh viên Phật giáo đang theo học tại học viện đến từ các quốc gia và khu vực có ảnh hưởng của đạo Phật như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và Malaysia. Tùy theo trình độ mà nhà quản lý phân chia lớp học theo tiếng phổ thông và tiếng Tây Tạng. 

Để đến được Larung Gar cũng không phải là một chuyện dễ dàng, bởi thành phố gần học viện nhất là Thành Đô cũng cách gần 650km, mất nhiều giờ đi đường ghập ghềnh khúc khuỷu. Wanson Luk, một Phật tử 34 tuổi đã phải ngồi xe mất 20 giờ đồng hồ để đến Larung Gar. 

Cảm nhận đầu tiên của Luk về Larung Gar đó là sự thanh bình, yên tĩnh nhưng cũng không thiếu đi những sắc màu riêng của một cuộc sống tôn giáo. Larung Gar chào đón tất cả du khách thập phương và tạo điều kiện cho những người như Luk được tham gia và trải nghiệm những buổi tụng kinh cầu nguyện và hành lễ. 

Ở lại Larung Gar hai ngày, Luk may mắn có dịp được chứng kiến lễ thiên táng của vùng đất Tây Tạng. "Tôi ngạc nhiên nhất về cách mọi người cảm nhận về cái chết”, Luk nói. 

"Tôi đã tham gia vào buổi lễ an táng ngoài trời, nơi có hàng trăm, hàng nghìn con kền kền đang chờ đợi lặng lẽ. Có 7 thi thể người chết vào ngày hôm đó, trong đó có một đứa trẻ”.

"Trong buổi lễ, một nhà sư sẽ cầu nguyện, sau đó các thi thể sẽ được cắt thành từng phần phơi ra giữa khu vực thiên táng rộng lớn. Kết thúc buổi lễ là hình ảnh lũ kền kền tha các phần thi thể người đi khắp nơi. Họ tin rằng càng có nhiều kền kền ăn thịt thì càng tốt và kền kền sẽ không ăn thi thể của những người xấu”, Luk nói.

Ở học viện Larung Gar, tivi bị cấm, nhưng các tăng ni Phật tử được phép sử dụng điện thoại, nhiều người trong số đó cũng sở hữu những chiếc iPhone 4S như một công cụ để liên lạc. 

Toàn cảnh Học viện Phật giáo Larung Gar 


Những ngôi nhà bằng gỗ nằm san sát nhau

Các khu ở được phân theo độ tuổi và giới tính, ngăn cách nhau bằng một con đường

 
Mỗi ngôi nhà có 1 đến 3 phòng và không 
có lò sưởi hay nhà vệ sinh

Mọi sinh hoạt được gói gọn trong một 
địa điểm chung của từng khu vực

Trường đại học, nơi các Phật tử đến 
học tập hàng ngày

Các lạt ma đang ngồi nghe giảng kinh

Một phòng của hai vị tu học

Một nửa trong số 40.00 sinh viên 
học viên là nữ tu

Larung Gar đã trở thành ngôi làng 
Phật giáo lớn nhất hành tinh

Những hòn đá trang trí, có câu chân ngôn Lục tự Đại Minh chữ Phạn (Om mani Padme Hum) trong khuôn viên học viện

Học viện Larung Gar khi lên đè


Hà Triệu
Theo Dailymail


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/05/202105:58(Xem: 163)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
01/01/202109:18(Xem: 78464)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
15/05/202112:01(Xem: 114)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/202111:49(Xem: 57)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/202111:23(Xem: 141)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/202111:18(Xem: 83)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/202111:13(Xem: 98)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/202119:02(Xem: 75)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/202111:49(Xem: 162)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.
04/05/202118:51(Xem: 301)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.