Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Một Cõi Đi Về (thơ & tạp bút)

06/06/201407:52(Xem: 14143)
Một Cõi Đi Về (thơ & tạp bút)
Mot Coi Di Ve_T Phuoc Thai

 


Vài Lời Giới Thiệu

 

Sự có mặt của con người hôm nay là kết quả của những nghiệp nhân do đời trước hoặc nhìều đời trước mà chúng ta đã gây tạo. Những gì mà chúng ta đang nhận chịu quả báo hôm nay, tất cả đều do chính chúng ta tạo lấy. Nhìn vào những hiện tượng nghiệp báo sai khác, đó là do con người tạo nên những nghiệp nhân sai khác. Do đó, mà đời sống của mỗi người mới có những nỗi khổ đau, hay hạnh phúc khác nhau. Hướng thượng thăng hoa làm đẹp cá nhân và cuộc đời, đó là nếp sống dựa trên căn bản nhân phẩm đạo đức. Tránh những điều ác, làm những điều lành, đó là hướng tiến chuyển hóa đời sống tâm linh của mỗi cá nhân và cải tiến làm đẹp chung cho xã hội.

 

Thơ văn là một trong những yếu tố văn hóa có tác năng chuyển tải những điều hay đẹp nhằm cung ứng đem lại nguồn vui sống hạnh phúc cho con người. Sự phân chia ranh giới giữa đời và đạo, tạo thành hai phạm trù đối nghịch dị biệt, đó là cái nhìn cục bộ đóng khung trong cánh cửa nhị nguyên. Với cái nhìn cục bộ đóng khung đó, tạo thành sự phân tranh lưỡng cực đối đầu gây nên những bạo động hận thù để rồi nhơn loại tàn hại lẫn nhau. Hiện tượng nầy, hiện nay nhơn loại đã và đang hứng chịu không biết bao nhiêu những điều thảm họa hệ lụy tang thương.

 

Thiết nghĩ, nhơn loại muốn được sống chung hòa bình, chỉ có một con đường duy nhứt là tất cả hãy cùng nhau phá tung cánh cửa đối đãi nhị nguyên nầy. Bởi cánh cửa đó ngày nào còn khép chặt lại, thì ngày đó nhơn loại vẫn còn tranh chấp gây hấn chiến tranh và rồi đưa đến hậu quả là nhơn loại phải chịu đau khổ dài dài. Nguyên nhân nội tại cũng bởi do lòng tham chấp và cái nhìn kỳ thị thiên kiến của con người mà ra.

 

Lâu nay, chúng ta cứ mãi nhìn đời bằng những cặp kính màu vọng chấp. Do đó, nên chúng ta không nhận diện được cái chân lý thực tại hiện hữu. Cái chân lý thật đơn giản và luôn hiện hữu trong mỗi cá thể. Chỉ cần xoay lại bình tâm quán chiếu thật sâu sắc thì chúng ta có thể trực nhận được. Chúng ta hãy dừng lại đừng tiếp tục phiêu lưu làm nô lệ cho bọn vô minh sai sử nữa. Càng làm nô lệ cho chúng sai sử thì chúng ta càng chuốc thêm nhiều đau khổ. Mỗi người mang mỗi cặp kính màu khác nhau. Do đó, nên mới có những ý niệm phân biệt khác nhau. Từ đó tạo thành những cuộc chiến tranh ý thức hệ.

 

Trong quá khứ lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy rất rõ điều đó. Chỉ khi nào chúng ta thực sự tháo gỡ những cặp kính màu nhị nguyên xuống, thì chừng đó chúng ta mới thực sự nhận diện được tình người. Đó là tình đồng loại có dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Pháp môn Bất Nhị trong Kinh Duy Ma Cật cho chúng ta một lối nhìn bao dung rộng mở phá chấp. Có mở rộng tâm thức thì chúng ta mới thực sự có hạnh phúc. Càng khép kín tâm thức vị kỷ trong thế giới tương tranh nhị nguyên, chúng ta càng đánh mất hạnh phúc. Vì tất cả đều có chung một bản thể, một nguyên lý sống như nhau. Có nhận diện thiết thực như thế, thì chúng ta mới thực sự sống yêu thương cảm thông trong tình huynh đệ. Bằng không, thì nhơn loại khó mà sống chung hòa bình. Mong sao mọi người cùng ý thức đến sự khổ đau mà cùng nhau cải tiến bản thân và xây dựng xã hội đầy chất liệu tình người.

 

Tác phẩm “Một Cõi Đi Về”, là danh đề của quyển sách tổng hợp Thơ và Tạp Bút của Đại Đức Thích Phước Thái, nhằm phát họa một hướng đi dung hợp giữa đời và đạo hòa quyện với nhau trong tinh thần xây dựng, khai phóng về nguồn. Tục đế và chơn đế là hai thực thể bất khả phân ly. Nói cách khác giữa “Bản môn” và “Tích môn” nương nhau mà tồn tại. Lâu nay, chúng ta có thói quen phân biệt đời đạo khác nhau. Nhưng ở đây tác giả đã hé mở cho chúng ta thấy giữa đời và đạo có sự liên hệ mật thiết hòa quyện với nhau. Tình đời và ý đạo đó là chủ đích mà tác giả đã mở rộng tâm thức khai thông trong ý hướng giải thoát. Khác nào hương nhụy của một đóa hoa tiềm ẩn trong những cánh hoa. Nói rõ hơn, Bồ đề không rời phiền não mà có. Ngay nơi phiền não nhận được thể tánh Bồ đề, ngay nơi sanh tử nhận được thể tánh Niết bàn. Rải rác đọc qua những bài thơ của tác giả ta thấy rất rõ điều đó. Ý niệm phân biệt đời khác, đạo khác, anh khác, tôi khác v.v… đó là ý niệm nhị nguyên đối nghịch tạo nên bao thế chiến tranh hận thù gây khổ đau cho nhau hệ lụy truyền kiếp.

 

Về phần văn xuôi, có những bài viết mà nội dung mang tính chất văn hóa về đời nhằm mục đích xây dựng con người và xã hội. Như những bài: “Chung quanh về vấn đề giáo dục con cái hay ngôn ngữ của Kiều v.v…” Ngoài ra, những bài khác đều mang hẳn tính chất nghiêng nặng về phần đạo lý.

 

Nhìn chung, chúng ta thấy qua những lời thơ và những bài viết, tác giả đã chọn cho mình một khuynh hướng đặc biệt kết hợp giữa Đời và Đạo trong ý hướng trở về cội nguồn. Vì đời và đạo bất khả phân ly. Trong đời có đạo và trong đạo có đời. Nói cách khác tình đời nhưng ý đạo, mượn đời để nói lên đạo, đó là chủ yếu chính của quyển sách.

 

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả một tập sách không những có giá trị về mặt học thuật văn chương mà nó còn có giá trị về mặt văn hóa đạo đức đặt trên cơ sở nền tảng xây dựng tình người. Sách còn hướng dẫn chúng ta một hướng tiến xa hơn là khai phóng về nguồn.

 

Trân trọng kính giới thiệu

 

Nhà Xuất Bản Quang Minh




Lời Đầu Sách

 

Thơ và Tạp Bút là tập sách mà chúng tôi kết hợp chia làm hai phần: Phần đầu là những bài thơ mà chúng tôi đã sáng tác sau khi tập thơ Hướng Dương ra đời. Phần hai là những bài viết rời rạc qua những chủ đề khác nhau. Chúng tôi kết hợp lại tất cả những bài viết đó để in chung trong tập sách. Chúng tôi đặt danh đề chung cho quyển sách là “Một Cõi Đi Về”. Vì chúng tôi thiết nghĩ, cõi đời có muôn vạn nẻo nhưng lối về nguồn chơn thì chỉ có một. Giống như trăm sông, ngàn suối tuôn chảy mỗi hướng có khác nhau, nhưng tất cả cũng đều chảy chung về biển cả. Nói cách khác, đứng về mặt hiện tượng sự tướng thì vạn pháp có ra muôn ngàn sai khác, nhưng bản thể thì chỉ có một. Đó là ý nghĩa của câu nói: “Vạn vật đồng nhứt thể hay vạn pháp quy nhứt”.

Thơ văn từ xưa tới nay vẫn là nguồn cảm hứng của con người. Tâm và cảnh lúc nào cũng tác động ảnh hưởng liên quan mật thiết với nhau. Chúng tôi nghĩ giữa đời và đạo mới nhìn như là có sự khác biệt, nhưng nếu chúng ta chịu khó nhìn sâu vào thì, không có gì khác biệt nhau. Ý niệm phân chia đời khác, đạo khác, đó là ý niệm bất toàn dễ rơi vào thế giới nhị nguyên. Từ đó, gây nên bao sự tranh chấp hận thù làm khổ đau cho nhau.

Khi đọc qua những bài viết, quý độc giả sẽ thấy có những bài mang chủ đề hoàn toàn đời và một số bài mang chủ đề hoàn toàn đạo. Sở dĩ có sự khác biệt đó, là vì chúng tôi viết từng chủ đề qua nhiều thời điểm khác nhau để đăng báo.

Tuy chủ đề của mỗi bài viết trên hình thức đời và đạo dường như có khác, nhưng, tựu trung hướng tiến vươn tới “Cõi Về” thì chỉ có một mà thôi. Vì “Đời” và “Đạo” là hai thực thể bất khả phân ly. Trong Đời có Đạo và trong Đạo có Đời. Nói cách khác trong phiền não có bồ đề, trong sanh tử có Niết bàn hay ngược lại cũng thế. Muốn tìm bồ đề mà rời phiền não, muốn tìm Niết bàn mà rời sanh tử, thì chẳng khác nào chúng ta muốn có nước trong mà bỏ đi nước đục vậy. Quả đó là điều nghịch lý không thể nào có được. Đó cũng còn là lý “Tương Tức, Tương Nhập” của hệ tư tưởng siêu việt trong Kinh Hoa Nghiêm. Do nghĩ thế, nên chúng tôi sưu kết lại những bài viết rời rạc từ trước tới nay đã đăng tải trong các tờ báo, nhất là báo đặc san Phước Huệ, kết hợp lại chia làm hai phần. Phần đầu là Thơ và phần sau là Tạp Bút.

Vì chúng tôi không phải là một nhà thơ, nhà văn chuyên nghiệp, nên chắc chắn là chúng tôi không sao tránh khỏi những khuyết điểm sai lầm về hình thức và nội dung. Nhất là về phần ý tưởng còn rất nông cạn vụng về. Nếu tập sách nầy được may mắn có duyên nằm trong tay của quý độc giả, thì xin quý vị vui lòng cảm thông và niệm tình thứ lỗi bỏ qua cho những điều sai lầm sơ suất đó. Và chúng tôi xin hết lòng đón nhận lắng nghe một cách chân tình qua những lời chỉ giáo ưu ái của quý vị.

Sách nầy được hình thành là nhờ công ơn của những thí chủ đã phát tâm ủng hộ tịnh tài in ấn. Điều mà chúng tôi thật vô cùng cảm kính và thán phục là những vị nầy đã yêu cầu chúng tôi không nên nêu bày danh tánh. Thật đó là một nghĩa cử thật vô cùng cao quý của việc bố thí cúng dường, chúng tôi xin hết lòng tùy hỷ tán dương công đức của quý vị. Nguyện cầu Tam bảo chứng minh cho tấm lòng chân thành của quý vị. Ngoài ra, chúng tôi cũng xin chân thành cám ơn:

- Đại Đức Thích Phước Quảng đã tận tình giúp cho phần phát họa hình bìa.

- Đại Đức Thích Phước Viên giúp cho phần in ấn.

- Sư Cô Thích Phước Thanh đã giúp sửa bản in.

- Đạo hữu Minh Quang và Thảo Phạm đã giúp cho phần kỹ thuật trình bày.

Xin tất cả nhận nơi đây lòng tri ân sâu xa của chúng tôi. Và chúng tôi cũng không quên nguyện cầu Phật lực gia hộ cho toàn thể quý vị thân tâm thường lạc, vạn sự kiết tường, sở cầu như ý.

Nguyện đem công đức pháp thí nầy hồi hướng cho pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật Đạo.

 

Tịnh Lạc Niệm Phật Đường

Mùa Phật Đản Phật lịch 2555

Ngày 8 tháng 5 năm 2011

Nhằm ngày mùng 6 tháng tư âm lịch năm Tân Mão.

Trân Kính

Thích Phước Thái.


 

 

 

 

 

 Phần Một

 

 Thơ

 

 

 

 


Một Cõi Đi Về

 

 

Mênh mông một cõi không bờ

Gió lay cành trúc dật dờ bèo mây

Nước in soi bóng trăng đầy

Biển trời rộng khắp cỏ cây thanh nhàn

Nơi nào cũng đẹp bình an

Không gian yên lặng một đàn chim bay

Thong dong tự tại tháng ngày

Đi về một cõi vui thay một mình.

 

 

Ai Say, Tôi Say

 

Ai đã say theo dòng đời lôi cuốn

Tôi luôn say trong ý muốn lợi tha

Ai từng say trong men rượu sa đà

Tôi chỉ muốn say trong an hòa tịnh niệm

Ai đã say theo bạc bài ngập nghiện

Tôi luôn say trong việc học cùng tu

Ai đã say theo con ma túy che mù

Tôi say thích trong thâm tình giao du kết bạn

Ai đã say theo sắc tài mê loạn

Tôi luôn say chay lạt trong ánh đạo mầu

Ai đã say trong trường danh lợi chìm sâu

Tôi chỉ thích say theo câu kinh tiếng kệ

Ai thích say trong mùi hương vô kể

Tôi đây say trong huynh đệ chí tình

Ai muốn say làm đồ đệ Lưu Linh

Tôi chỉ biết say cho riêng mình một cõi.


 

Ân Cha Mẹ

 

Khi ta mở mắt chào đời

Hai bàn tay trắng ai mời đến đâu

Bởi do nghiệp thức trồng sâu

Đủ duyên hội tụ ban đầu mà ra

Lớn lên nhờ có mẹ cha

Dày công giáo dưỡng mới ra thân người

Ơn cha nghĩa mẹ cao vời

Núi cao biển rộng khó thời sánh đâu

Có đêm thức suốt canh thâu

Mẹ ngồi bên cạnh lâu lâu thăm chừng

Vì con mẹ phải nhọc nhằn

Quên ăn mất ngủ tảo tần nuôi con

Cha thì lặn suối trèo non

Gian lao cực khổ cho con học hành

Mong con nên phận danh thành

Ngày sau no ấm trưởng thành quang huy

 

 

 

 

An Phận Sống

 

Ai ơi cứ sống thật vui

Đừng buồn, đừng tủi ngoay nguôi việc đời

Trải lòng vui với đất trời

Cỏ cây hoa lá tùy thời ngao du

Cũng đừng tự trách vụng tu

Sao mà khổ sở lu bu hằng ngày

Giữ cho lòng dạ thẳng ngay

Đói ăn, khát uống, chẳng nài nhọc chi

Lúc buồn ta cứ ra đi

Trải qua cảnh lạ vơi đi nỗi sầu

Mặc ai danh lợi tranh nhau

Phận mình cứ giữ lo âu chi phiền

Tương rau đạm bạc tùy duyên

Tụng kinh niệm Phật an nhiên cõi trần

Gieo trồng hạt giống tịnh nhân

Di Đà sáu chữ tham sân tiêu dần

Về chùa nghe tiếng chuông ngân

Hòa theo nhịp mõ an thần định tâm

không mơ ước vọng xa xăm

Vui cùng kinh kệ quanh năm tháng ngày.

 

 

 

 

Bài Thơ Không Tên

 

Tôi muốn viết bài thơ không tên tuổi

Gởi cho ai và cũng không biết gởi cho ai

Vì cõi đời nhiều lắm nỗi đắng cay

Luôn say đắm tình đầy sao nói hết

Lầu tình ái biết bao người mộng dệt

Để chôn mình nhiều vết lắm thương tâm

Tình yêu nào không đau khổ mê lầm

Chim hạnh phúc bặt tăm xa mỏi cánh

Đời cạm bẫy với muôn ngàn vặt vãnh

Đua tranh nhau vì sức mạnh của kim ngân

Trọn cuộc đời làm nô lệ cho tham sân

Gây tang tóc cho nhơn sanh thống khổ

Cảnh trời thu chiều buồn mưa lá đổ

Đợi xuân về mang cam lộ nước từ bi

Rưới tắt đi bao ngọn lửa sân si

Cho cuộc sống bất tư nghì giải thoát.

 

 

 

 

 

Bến Cũ

 

Về chùa hái lá từ bi

Vào vườn “hỷ xả” quả si vứt ngoài

Nụ cười duyên thắm hoa mai

Trồng cây nhân ái hằng ngày tốt tươi

Về chùa dạo bước thảnh thơi

Tâm kinh trong sáng dạo chơi khắp miền

Phật đài một đóa hương liên

Dâng hương cúng Phật gieo duyên căn lành

Bao la biển nước trời xanh

Thuyền về bến cũ tịnh thanh an nhàn

Trời chiều mây trắng thênh thang

Khắp bay pháp giới dọc ngang Ta bà

Thiền môn nghiêng ánh trăng tà

Vàng gieo ngấn nước đậm đà yêu thương

Thế gian là cảnh vô thường

Hồi đầu tỉnh giác tỏ tường bản tâm.

 

 

 

 

Biểu Hiện

Em đứng bên bờ dậu

Khép nép nở nụ cười

Hỏi em từ đâu đến?

Em đến chẳng từ đâu.

 

Sự có mặt của em

Cũng như bao loài khác

Khi đủ duyên biểu hiện

Tất cả không ngoài em

 

Em là nguồn sống mới

Mang đến cho cuộc đời

Những nụ cười tươi mát

Hồn em luôn xinh tươi

 

Em là rừng cây đó

Là hạt bụi tinh cầu

Là muôn ngàn thế giới

Đều liên hệ với nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình Minh

 

Sáng hôm nay ngoài trời mây u ám

Có sương mù giăng khắp cả không gian

Cảnh vật kia sau giấc ngủ mơ màng

Cùng thức dậy lắng nghe trời đất chuyển

Chim ríu rít hò reo như trò chuyện

Mừng bình minh ca hát khúc nhiệm mầu

Lắng tâm tư quán niệm cảnh vui đau

Của trần thế lắm trò nhiều ảo mộng

Xin dừng lại hãy lắng nghe từng tiếng vọng

Nó nói gì trong cảnh động quá bi thương

Hãy về đi trở lại nếp sống của “Bình Thường”

Để chấm dứt tình trường trong đau khổ.

 

 

 


Buông Gánh

 

Lưu luyến thêm chi khổ lụy nhiều

Đường trần gánh nặng mỏi chân xiêu

Trăng lạnh mây sầu thôi vương vấn

Bóng hạc qua mau tuổi xế chiều

 

Chung bước ta đi một con đường

Tìm về bến cũ dứt tơ vương

Sau lưng bỏ lại niềm mơ ước

Chỉ có trăng vàng một chữ thương

 

Nặng nợ đường trần đã mấy thu

Ra vào khổ lụy gót phong lưu

Thuyền đời trôi mãi từ bao kiếp

Buông gánh cho rồi trọn kiếp tu

 

 

 

Buông Xả

 

Nếu ai bực tức giận buồn ta

Ta hãy bình tâm giữ ôn hòa

Không nên tranh cãi gây thù hận

Chớ trách lỗi người, xét lại ta.

 

Học hạnh từ bi tánh vị tha

Mở rộng lòng thương khéo thuận hòa

Dẹp lòng ích kỷ tâm sân hận

Gắng chí tu hành, khổ thoát ra.

 

Giận trách chi người khổ lụy sâu

Nhiều đêm không ngủ, tóc bạc đầu

Sao bằng hoan hỷ tâm buông xả

Thoát khỏi giam mình giữa vực sâu.

 

 

 

Cạm Bẫy

 

Đời cạm bẫy với muôn ngàn cạm bẫy

Như lưới giăng bủa khắp cả bầu trời

“Tình” và “Tiền” là hai cạm bẫy đó người ơi!

Không sáng suốt sẽ rơi vào trong bi thảm

Lời ngọt dịu êm tai như gió thoảng

Biết bao người bị lường gạt đáng thương thay!

Trải gió sương năm tháng quá dạn dày

Khi chợt tỉnh cả tương lai đều mất hết.

Lê kiếp sống trong cõi đời đầy chán mệt

Cảnh đoạn trường thống khổ mấy ai hay?!

Vào lầu xanh bán phấn chịu đọa đày

Để kiếm sống dạn dày tiêu thân xác.

Từng giây phút cõi lòng như tan nát

Thân đọa đày như cá chậu lồng chim

Thôi! còn đâu vui sống cảnh êm đềm

Của tuổi trẻ thơ ngây đầy trong trắng!

 

 

 

 

 

Cám Ơn Người

 

Cám ơn người đã cho ta những lời chân thật

Là những lời xuất phát tự trái tim

Ta ghi nhớ những lời người tâm sự

Xin người chớ lo toan hay tư lự

Hãy vươn lên trong cuộc sống thăng trầm

Bến giác kia còn hãy quá xa xăm

Nhưng nếu khéo kiếm tầm không xa quá

Lời người nói tình thương là cao cả

Chớ đắm mình trong biển ái đau thương

Vì cõi đời là muôn nỗi vấn vương

Hãy giải thoát khỏi tình trường trong muôn thuở.

 

 

 

 

 

 

 

 

Cảm Thông

 

Ta biết ta nay tuổi đã già

Vui gì chen lấn chốn phồn hoa

Sớm kinh chiều kệ cho xong kiếp

Gởi trọn thân nầy chốn Phật gia

 

Nghĩ đến phận người ta xót xa

Lẻ bóng neo đơn mấy năm qua

Buồn trông cửa bể chiều hôm vắng

Lủi thủi ra vào chỉ có ta.

 

Khuyên người cố gắng nhẫn nại qua

Vui sống bình an khéo thuận hòa

Nếu có thương ta thì tu niệm

Quyết lòng vượt thoát khỏi phong ba.

 

 

 

Tâm Như Họa Sĩ

 

Tâm của ta như anh chàng họa sĩ

Vẽ muôn màu đủ loại sắc thế gian

Vẽ thiên đường và địa ngục trần gian

Chàng vẽ mãi và vẽ rồi lại thích

Cứ ngắm nghía bức tranh mình đã vẽ

Tâm chúng sanh cũng vẽ đủ muôn màu

Vẽ muôn ngàn ra cảnh khổ vui đau

Vẽ đủ thứ nghiệp dữ lành đều có

Vẽ sướng khổ hay tột cùng khốn khó

Vẽ Thánh phàm cũng tự nó mà ra

Tạo điều lành thì hưởng phước báo hằng sa

Gây nhân ác thì chịu muôn đường quả khổ.

Nhân với quả như bóng theo hình khắp chỗ

Bóng hình kia không thể đổ cho ai

Gây nhân lành trong cuộc sống hằng ngày

Hưởng quả tốt trải dài trong cuộc sống.

 

 

 

 

 

Chí Nữ Nhi (Riêng tặng Phật tử Tâm Hải )

 

Quang Minh vắng bóng một quần thoa

Tâm nguyện luôn luôn vẫn thiết tha

Phụng sự cho đời không mệt sức

Quyết lòng phục vụ chí thiên nga!

 

Đạo nghĩa vẹn toàn phận làm con

Dù sống cách xa dạ sắc son

Hay tin thân phụ lâm trọng bệnh

Quyết về phụng dưỡng hiếu vẹn tròn

 

Đạo đời hai ngã chẳng phân ra

Nếp sống theo đời ở tại gia

Nhưng lòng lại hướng nơi Tam bảo

Hết lòng phục vụ chẳng rên la

 

Noi gương Phật Tổ đức Thích Ca

Học đạo từ bi hạnh vị tha

Tùy duyên phụng sự ngôi Tam Bảo

Chướng ngại san bằng quyết vượt qua

 

Mặc ai phỉ báng nhạo cười ta

Lý tưởng muôn đời đã vạch ra

Thuyền đã ra khơi không sợ sóng

Muôn ngàn cách trở vượt phong ba.

 

Chiều Đông Nhớ Mẹ

 

Chiều buồn nhớ mẹ, nhớ thiết tha

Nhớ mẹ lòng tôi, thấy xót xa!

Mẹ đi biền biệt, không nơi chốn

Biết mẹ nơi nào, để kiếm ra.

 

Nhớ lại khi xưa mẹ ẩm bồng

Ru con mẹ hát giữa mùa đông

Cho con ấm áp trong cơn lạnh

Gió táp mưa sa khắp bão bùng.

 

Có một buổi chiều mẹ gọi cha

Để con nó ngủ ông chớ la

Cha liền ngậm miệng câm như hến

Mẹ đắp mền bông chăn kéo ra

 

Có một buổi chiều tựa cửa trông

Cha ở phương xa mẹ nóng lòng

Tiếng súng nổ dòn nơi trận địa

Ra vào thấp thỏm mẹ ngóng trông.

 

 

 

 

 Cho Trọn Nghĩa Tình

 

Vào vườn chàng hái hoa mai

Tặng người một đóa để thay tấm lòng

Dù cho nước chảy ngược dòng

Cả hai cùng quyết một lòng thủy chung

Thuyền đi cho đến tận cùng

Dù cho sóng gió ngại ngùng chẳng than

Thương nhau chỉ có một đàng

Quyết lòng vượt thoát đài vàng bước lên

Trọn tình trọn nghĩa đáp đền

Cho tròn ước nguyện vững bền không phai

Sống vui, sống đẹp hằng ngày

Vượt qua thử thách chẳng nài gian lao.

 

 

 

 

 

 

Chúc Tết

 

Mùng hai liên hữu đến thăm

Gọi là chúc Tết mấy năm vẫn đều

Ngày xưa ăn Tết hạ niêu

Ngày nay ăn Tết lắm điều nhọc thân

Đi cày nào dám nghỉ mần

Chủ cho mất việc không cần nói chi

Tết về bóp trán nghĩ suy

Mấy năm xa xứ cu ly cả đời

Vui xuân vui khắp bầu trời

Sầu xuân riêng chỉ một người đó thôi

Tâm tư nghĩ đến chuyện đời

Trở về chuyện đạo một thời đáng ghi

Bây giờ mình biết chúc chi

Theo dòng Tục Đế cười khì chúc nhau

Chúc tình liên hữu ngọt ngào

Cùng nhau xây dựng rạt rào tình thâm

Tết nầy đã hơn một năm

Trên hòa dưới thuận đạo tâm sáng ngời

Mỗi người an lạc thảnh thơi

Giữ câu niệm Phật trọn đời không quên

Chúc cho liên hữu niệm bền

Di Đà sáu chữ bước lên đài vàng.

 

 

 

 

 Cuộc Đời

 

Ta đến cuộc đời hai tay không

Tiếng khóc oa oa mới lọt lòng

Tung hoành ngang dọc nơi trần thế

Nhắm mắt lìa đời tay rỗng không

 

Thôi thế là xong hết một đời!

Còn chi tham vọng để vui chơi

Đời người một thoáng nhanh như chớp

Sân khấu diễn rồi để trống chơi

 

Ý thức cuộc đời giả tạm thôi

Đua tranh chi lắm mệt than trời!

Sao bằng an phận tùy duyên sống

Nhắm mắt lìa trần được thảnh thơi!

 

 

 

 

 

 

 

 

Về Chùa

 

 

Hôm nay em đã về chùa

Tụng kinh niệm Phật chẳng thua ai nào

Đời người thắm thoát qua mau

Xuân xanh mới đó bạc đầu rồi đây

Về chùa học hỏi quý Thầy

Kính Tăng trọng Phật dựng xây đạo tình

Lắng nghe thuyết pháp giảng kinh

Tâm thành lễ bái chẳng nhìn lỗi ai

Việc mình soi lại hằng ngày

Phải lo sám hối tội dày trồng sâu

Cùng nhau tha thiết nguyện cầu

Cầu cho cha mẹ sống lâu tu hành

Chẳng ham danh lợi đua tranh

Ân đền nghĩa trả chí thành nơi tâm

Vọng tưởng dấy khởi chớ lầm

Một lòng niệm Phật thân tâm an nhàn

 

 

 

 

 

Đóa Sen Hồng

 

 

Trăng sáng vườn thơ gió thông reo

Hoa lá đong đưa giữa núi đèo

Không gian thơ mộng đầy trăng cả

Bóng dáng người đi ánh trăng theo

 

Sen hồng một đóa giữa bùn nhơ

Nắng hạ ve sầu mộng ước mơ

Bóng ai thắp thoáng ngoài hiên cửa

Một chiếc thuyền nang trôi lửng lơ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  Đời Có Chi Đâu

 

Đời có chi đâu mà khóc với sầu

Đời có chi đâu mà than với rầu

Của tiền nào có bền lâu

Hôm nay ở trong tay mình

Ngày mai về tay kẻ khác

Cuộc đời như áng mây trôi

Khó khăn bao nỗi dập dồn

Phù du chớp mắt lầm than

Bạc tiền nào có chi đâu

Đeo theo danh lợi càng thêm chuốc sầu

Sao bằng niệm Phật bền lâu

Niệm Phật dứt hết khổ sầu

Mong người niệm Phật bền lâu

Thân an niệm chánh khổ sầu tiêu tan.

 

 

 

 

 

 

 Đối Diện

 

Người từ phương nào tới?

Có mặt ở nơi đây

Người đi về đâu nhỉ?!

Cho ta một lời hay

 

Ta đến nơi cõi này

Trong dòng đời trôi chảy

Nhìn ánh mắt thương đau

Sương gió quá dạn dày

 

Người về trong nếp sống

Của lứa tuổi đôi mươi

Điểm trang một nụ cười

Cho hồn thơ sống lại.

 

Muôn cảnh chỉ qua đi

Như màn sương khói bay

Những gì nắm trong tay

Phút chốc chẳng còn gì!

 

 

 

 

 

 Đời Người

 

Đời người như hạt sương

Giàu sang như mây hường

Tình đời như vôi bạc

Chỉ có một lòng thương.

 

Bước đi giữa hư không

Bầu trời rộng mênh mông

Tâm hồn vui thanh thản

Chỉ có một trời trong

 

Đường trần chân gối mỏi

Nhiều kiếp trôi lang thang

Thân phận gã cùng tử

Khổ sở gấp trăm ngàn

 

Vườn tâm từ vô thỉ

Hoang vắng không người trông

Nay về tu sửa lại

Vườn lòng mát sạch trong

 

 

 

 

 

Đón Chào

 

 

Ta về đây cỏ cây mừng chào hỏi

Đón ta về trong ánh nắng bình minh

Toàn cỏ cây hoa lá rất đẹp xinh

Là bạn lữ trong muôn nghìn trăm kiếp

Mọi cảnh vật khác nhau vì biệt nghiệp

Đừng phân chia tách biệt hữu, vô tình

Hỏi vật nào mà chẳng có tánh linh?

Cùng thể tánh đừng nhìn trong khác biệt

Phàm có tướng đều nằm trong sanh diệt

Chịu luân hồi trong muôn kiếp nổi trôi

Hãy cùng nhau xây dựng lại cuộc đời

Đừng gây chiến tạo nên nhiều đau khổ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Động Hoa Vàng

 

 

Ta mơ lên động hoa vàng

Mơ về một cõi thanh nhàn ngao du

Vào vườn hái lá mùa thu

Sầu đông bỏ lại vẹt mù sương giăng

Ta mơ hái ánh trăng vàng

Cỡi mây cỡi gió băng ngàn vượt qua

Hỏi trăng bao tuổi trăng già

Trăng về với nước đậm đà tình giao

Rừng phong thay lá đổi màu

Bên đàng dạo cảnh thanh tao đẹp lòng

Ấm lòng thời tiết vào đông

Ta đi một cõi thong dong tháng ngày.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dựng Lại Mùa Xuân

 

Ta về dựng lại mùa xuân

Cho vườn hoa nở chim mừng hát ca

Ta về một cõi riêng ta

Bình minh nắng ấm chan hòa tình thương

Ta van cát bụi bên đường

Xin đừng lưu luyến vấn vương khổ sầu

Thuyền tình trôi dạt nơi đâu

Trở về bến cũ dứt sầu tơ vương

Sáng soi chỉ có con đường

Nguồn tâm thanh tịnh chơn thường dài lâu

 

Dứt Khổ Đời

 

Không ai thay khổ, khổ cho ta

Vui khổ, khổ vui chỉ ta mà

Nghiệp dữ hay lành ta tạo lấy

Muốn cho hết khổ niệm Di Đà

 

Lăn lộn vào ra mấy kiếp rồi

Biển trần khổ lụy mãi nổi trôi

Gặp duyên Phật pháp ta gieo hạt

Kết quả ngày sau dứt khổ đời

 

 

 

 

 

Giấc Mơ

 

Đêm qua ta lại nằm mơ

Mơ về viễn xứ khói mờ sương giăng

Ta mơ thấy có ánh trăng

Chiếu soi xuống đất chị Hằng hỏi ta

Phải chăng đây cõi Ta bà

Thưa rằng: đúng vậy nhưng mà hỏi chi

Chị Hằng vui miệng cười khì

Quả ngươi không biết chuyện gì xảy ra

Trông ngươi ta thấy cũng già

Ráng lo tu niệm Phật Đà nhớ luôn

Cõi đời lắm kẻ điên cuồng

Tranh nhau chém giết trời buồn đổ mưa

Lòng tham biết mấy cho vừa

Cái gì cũng muốn chẳng chừa thứ chi

Thiên tai ách nạn li bì

Gây nên thảm cảnh có gì bền lâu

Căn lành chẳng chịu trồng sâu

Mãi lo tranh chấp mong cầu chẳng thôi

Ta đây chỉ có mấy lời

Nhắc cho trần thế kịp thời lo tu

Thế gian là cảnh ngục tù

Nếu không tỉnh thức mịt mù khổ đau

Vậy ngươi tỉnh thức cho mau

Gắng công niệm Phật ngày sau an nhàn

 

 

 

 

Gió Xuân

 

Người hãy cùng ta đi hái thơ

Hái về cất giữ trọn ước mơ

Âm thầm ta giữ trong im lặng

Đợi gió xuân về mới đọc thơ

 

Người hãy cùng ta lên hái trăng

Đừng hỏi, đừng than nỗi băn khoăn

Mùa thu đã đến ta thương tiếc

Lên động hoa vàng có vui chăng?

 

Người hãy cùng ta đi hái hoa

Hái về cất giữ để trong nhà

Ngắm nhìn hoa ấy ta thương nhớ

Một kiếp đời hoa trọn ước mơ

 

Người hãy cùng ta ra biển khơi

Lên thuyền một chiếc để dạo chơi

Hướng về Tiên cảnh ngoài xa tít

Gió mát cùng ta dạo thảnh thơi.

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoa Hồng

 

Đôi lời nhắn gởi, gởi cho ai

Muốn hái hoa hồng phải nhớ gai

Hoa đẹp nhìn xem ta cứ ngắm

Xin đừng vội hái sẽ nát tay

 

Khi đã vướng rồi mắc phải gai

Lòng ta đau khổ suốt tháng ngày

Biết bao người chết vì hoa ấy

Cũng bởi liều mình chẳng sợ gai.

 

 

Hoàng Hôn

 

Hoàng hôn buông xuống đất trời

Phủ che vạn vật khắp nơi một màu

Vầng hồng le lói đồi cao

Nắng vàng yếu ớt một màu thê lương

Ngàn cây thảm cỏ bên đường

Đứng buồn ủ rủ hứng sương bạc đầu

Chiều buồn ảm đạm cỏ sầu

Mây hồng ráng đỏ vòng cầu tóc tang

Giật mình trong cảnh bàng hoàng

Đất trời đã vẽ ngàn trang lụy buồn

Nặng lòng nước mắt trào tuôn

Người đây cảnh đó như tuồng mây bay

Ngẩn người chết lặng chiều nay

Lòng buồn sợ hãi ai hay hôn hoàng.

Hờn Dổi

 

 

Ai hay giận hay hờn thêm đau khổ

Hãy vui cười là thuốc bổ sống thêm lâu

Ai hờn dai sẽ héo úa sớm bạc đầu

Thân tàn tạ buồn rầu không an giấc

Đời đau khổ hơn thua còn với mất

Tội gây nên chồng chất biết bao nhiêu

Bởi tham sân như lửa cháy đốt thiêu

Gây tang tóc biết bao điều khổ lụy

Thân tạm bợ có chi là bền bỉ

Cảnh vô thường bức ngặt lắm tang thương

Hãy thắp lên với ngọn đuốc soi đường

Phá u tối biểu dương nguồn tuệ giác

Chỉ có thế mới không còn trôi dạt

Giữa biển đời sống thác chốn trầm luân

Bỏ hờn đi đừng chấp ngã tham sân

Thì an thoát sáng ngần nơi Lạc quốc.

 

 

 

 

 

 

Hướng Niệm

 

 

Người đi một cõi trời mơ

Vạn sầu bỏ lại nắng thơ êm đềm

Trăng soi lặng lẽ về đêm

Buồn thương lẫn lộn tơ vương lụy sầu

Nắng vàng trải lá nương dâu

Thuyền về bến cũ chôn sâu mối tình

Từ đây thuyền hết lênh đênh

Dây neo chánh niệm mặc tình ngao du

Lá vàng thôi hái mùa thu

Mây sầu giả biệt công phu dặn lòng

An nhàn tự tại thong dong

Trải bao nắng hạ mấy đông chẳng màng

Mơ về một cõi Tây phang

Không còn vương vấn lụy than bao đời

Trăng lên sáng tỏ rạng ngời

Thuyền về bến nước một trời tâm giao

 

 

 

Khổ Vui

 

Cuộc đời khổ khổ, vui vui

Khổ vui, vui khổ, cái “tôi” tạo thành

Xin đừng đổ trút trời xanh

Hay cho số phận sẵn dành cho ta

Khổ vui mình đã tạo ra

Gây nhân thọ quả ấy là luật công

Tránh nhân thì quả cũng không

Đã gây nhân ác đừng hòng trốn đâu

Dù cho xa chạy cao sâu

Cũng không thoát khỏi lưới mầu trả vay

Làm lành lòng dạ thẳng ngay

Nhân nào quả nấy nên gây nhân lành

Những lời Phật dạy đành rành

Gắng công gìn giữ phải răn lấy mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

Không Gian

 

Ta có cả một không gian rộng lớn

Có muôn loài vạn vật ở bên ta

Có sơn hà và cả thế giới hằng sa

Có tất cả tâm hồn sao trống vắng?

Hãy vui sống trong biển trời đầy yên lặng

Hãy vượt lên những cái “CÓ” cùng “KHÔNG”

Để tâm hồn luôn lắng đọng sạch trong

Không chết lịm trong dòng sông sanh tử

Đừng tranh chấp hơn thua sanh tâm hung dữ

Cũng đừng theo ý niệm mãi tranh giành

Vì cõi đời là giả tạm diệt sanh

Sanh với diệt là hai phạm trù đối nghịch

Dẹp đối đãi đi vào trong không tịch

Thấy rõ đời là vạn pháp sắc không

Muôn vật đều quyết không để trong lòng

Thôi, dẹp hết chỉ còn lại một bầu trời viên giác.

 

 

 

 

 

Lối Về 

 

Mưa rơi nặng hạt tàn đông

Có người nơi ấy đợi trông tin mừng

Cõi lòng ấm áp mùa xuân

Bao nhiêu phiền muộn dần dần tiêu tan

Không còn chim nhạn lạc đàng

Từ đây đã có bên đàng hoa mai

Trải qua những tháng ngày dài

Năm canh thao thức dạn dày gió sương

Nay đà sưởi ấm tình thương

Không còn vướng mắc tơ vương ngày nào

Đường trần đã mỏi kiếp nao

Thuyền chèo xuôi gió ba đào đã qua

Duyên xưa nay gặp Phật Đà

Quyết lòng niệm Phật Ta bà yểm ly

Gìn lòng dẹp bớt sân si…

Hoa vàng tươi nở sầu bi không còn

Những là sông núi nước non

Nước non sông núi lòng son một bề

Tuệ đăng chỉ hướng nẻo về

Không còn vướng bận nhiêu khê cõi trần.

 

 

 

Mong Đợi (Riêng tặng Phật tử TH )

 

Phương xa gởi đến cánh thư hồng

Chúc người mạnh khỏe luống chờ trông

Sài Gòn đất Việt người đang sống

Nước Úc Quang Minh vẫn đợi mong

 

Người về phụng dưỡng ở bên cha

Sắp xếp cho xong những việc nhà

 Hiếu trung tròn vẹn phần nhi nữ

Nhanh nhẹn trong ngoài chẳng rên la

 

Thông minh lanh lẹ lại bôn ba

Sáng láng việc làm thích xông pha

Việc gì khó nhọc không màng kể

Gánh việc đạo đời chẳng kêu ca

 

Nhớ người nhi nữ ở phương xa

Từ lúc ra đi đến quê nhà

Liên hữu đạo tràng luôn nhắc nhở

Mong người trở lại sớm đi nha!

 

 

 

 

 

Một Chữ T

 

Ở đời sống chết một chữ T

Mấy ai thoát khỏi, khổ trăm bề

Danh lợi phù hoa như bóng chớp

Sắc tài đắm nhiễm bởi si mê

 

Sắc tài đắm nhiễm bởi si mê

Sớm biết hồi tâm rõ lối về

Buông gánh trần ai mau cất bước

Thẳng về Lạc cảnh thoát lưới mê!

 

Thẳng về Lạc cảnh thoát lưới mê!

Quyết chọn nơi xưa chốn hương quê

Niệm Phật tụng kinh đừng xao lãng

Được thế mới hòng thoát chữ T.

 

 

 

 

 

 

 

 

Mượn Lời

 

Xin mượn lời ai dệt nên thơ

Mỗi lời mỗi chữ mấy ai ngờ

Tâm hồn trong sáng như gương sạch

Trọn nẻo đường trần một ý thơ

 

Ta mượn lời thơ tỏ với ai

Lời người ta nhớ mãi bên tai

Làm sao quên được người trong mộng

Mộng ước hoàn thành sống thẳng ngay.

 

Nắng Đã Lên

 

Nắng đã lên và nắng đã lên

Nắng về cho lá lại xanh thêm

Nắng ôm lấy lá trong hơi ấm

Cho trọn vòng tay mộng ấm êm

 

Gió về mang lại chút hương thơm

Hoa trái xanh tươi mãi ngắm dòm

vườn ai rộng mở vui chào khách

Bướm lượn đàn ong hút nhụy thơm.

 

 

 

 

 

Nắng Lên

 

Nắng đã lên rồi người thấy không

Mây sầu vắng lạnh chỉ trời trong

Chim kêu hoa nở trong vườn đó

Một chiếc thuyền trôi ở giữa dòng

 

Người đã đi rồi biết ở đâu

Biển nhớ thương mây đến bạc đầu

Đêm khuya sương lạnh ngồi hơ lửa

Dưới áng trăng vàng suốt canh thâu

 

Thôi hãy về đi chớ ở lâu

Bóng dáng người thương chiếc áo nâu

Mây sầu giả biệt từ đây nhé!

Vui sống thanh bình giữa vực sâu

 

Người hiện đây rồi chớ tìm đâu

Người về mang lại vết thương đau

Ta đi một cõi nào ai biết

sạch trần ai chốn bể dâu.

 

 

 

 

Cặp Bến

 

Một ngày nắng mới

Lòng người thơ thới

Vì đã ấm lòng

Hết đợi chờ trông

Tin người gởi đến

Thuyền đà cặp bến

Không để ra khơi

Sóng gió tơi bời

Chìm sâu giữa biển

Quyết lòng hướng tiến

Vượt khỏi sông mê

Cùng nhau quay về

Quê hương giải thoát.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nếu Tôi Chết

 

Nếu tôi chết xin mọi người chớ khóc

Nếu thương tôi xin chỉ tặng một nụ cười

Vì cuộc đời rốt lại chỉ trò chơi

Muôn cảnh vật cõi đời đều bỏ lại

Còn vướng mắc là còn đi trong quái ngại

Còn tử sanh trong vạn loại thương đau

Còn nổi trôi trong kiếp sống ba đào

Vui hay khổ chỉ do mình tạo lấy

 

Đời dệt mộng với muôn ngàn cái thấy

Đến và đi như hoa đốm giữa hư không

Dẹp khái niệm có không đừng vọng tưởng

Không lưu lại vết hình đầy âm hưởng

Chỉ đưa tôi trong cõi trống vô hình

Bằng nụ cười với tiếng kệ lời kinh

Bằng tất cả âm thinh không thành tiếng

Nếu tôi chết xin mọi người đừng phúng điếu

 

 

 

Tặng cho tôi chỉ một đóa hoa thôi

Hoa tình thương trang trải khắp mọi nơi

Cho cuộc sống mọi người vui hạnh phúc

Nếu tôi chết xin mọi người đừng cầu chúc

Chỉ tụng cho tôi bằng tiếng nói không lời

Đem lời nầy cầu chúc khắp nơi nơi

Cho nhơn loại vạn lời thương yêu mến

Nếu tôi chết xin mọi người đừng thắp nến

 

Mà hãy mang thắp sáng lại niềm tin

Thắp cho đời bao ánh sáng đẹp xinh

Cho thế giới an bình trong vui sống.

 


Người Đó

 

Nắng vàng hôn lá chiều đông

Bên hàng liễu rũ suối trong hững hờ

Hoa lan màu tím nên thơ

Đong đưa trước gió vật vờ bướm ong

Mái hiên tựa cửa chờ trông

Người đi biền biệt kẻ mong đợi hoài

Đếm từng chuỗi hạt tháng ngày

Thu tàn đông đến lòng nầy xót xa

Buồn trông cửa bể xa nhà

Người xưa đã vắng trăng tà bóng nghiêng

Bóng ai thấp thoáng cửa Thiền

Thì ra “Người” đó dõi tìm từ lâu

 

 

 

 

 

 

Nguyện Cầu

 

Dâng hoa con thành kính

Cúng dường Tam bảo tôn

Lạy Phật từ bi chứng

Chân thật tấm lòng con.

 

Dâng hương con kính nguyện

Bày tỏ nén hương lòng

Cho bụi trần tẩy sạch

Đừng vương vấn lòng con.

 

Con lạy Phật chứng minh

Cho lòng con an bình

Trong cõi đời sóng gió

Dứt nỗi khổ điêu linh.

 

Con lạy Phật chứng tri

Cho lòng con vơi đi

Những nỗi niềm ân ái

Hết dục nhiễm sân, si.

 

Con lạy Phật từ bi

Cam lộ bất tư nghì

Cứu đời con thoát khổ

Trong ánh sáng tư duy.

 

 

 

 

 Khổ

 

Đã biết khổ sao lòng còn tự hỏi

Nghiệp gây ra cũng bởi tại tâm ta

Đã bao đời ta đắm nhiễm lụy sa

Vì tất cả cũng do tâm ta tạo lấy

 

Đường danh lợi đã xô người vào cạm bẫy

Bẫy đường tình nắng hạ lắm tang thương

Bẫy ái ân ôi! khắp muôn vạn nẻo đường

Khó thoát khỏi đoạn trường trong bi thảm

 

Biết tỉnh mộng quay về tìm lẽ sống

Đó là nguồn ước vọng của chúng ta

Khổ trầm luân trong biển khổ ái hà

Phải cương quyết thoát ra về bến giác

 

Bước hành trình dĩ nhiên nhiều thử thách

Lắm gian truân giữa biển sóng bao la

Thuyền lênh đênh vững lái vượt phong ba

Quyết gìn giữ sáu chữ Di Đà luôn vững chắc.

 

Chúc ai đó bền lòng thêm thắt chặt

Gắng kiên tâm nhẫn nại mọi khó khăn

Đã từ lâu nhờ phước báo của thiện căn

Nên vượt thoát những khó khăn trong cuộc sống.

 

 

 

 

Nước Mắt

 

Nghe người khóc âm thầm trong đêm vắng

Nước mắt nào còn đọng lại ở bờ my

Nước mắt kia một thuở đã biệt ly

Ngăn đôi cách lẻ sầu trong thương nhớ

Nay khép kín tủi buồn thêm dang dở

Ánh trăng vàng nức nở mấy đêm thu

Núi rừng kia mờ nhạt ánh trăng lu

Cùng cảnh ấy một chiều thu nào ai biết?

Đêm vắng vẻ lệ sầu thôi! thương tiếc

Khóc một lần cho nước biếc thắm màu xanh

Nhìn ngọn đồi qua đôi mắt ánh trăng thanh

Thôi giả biệt người xưa lần khóc cuối.

 

 

 

 

 

 

Quê Xưa

 

Đất khách quê người chốn tạm dung

Trải bao năm tháng khổ không cùng

Quê xưa biền biệt trong thương nhớ

Lạc quốc hướng về luôn nhớ nhung

 

Trúc biếc hoa vàng đứng nghiêm trang

Đón chào nắng mới rộng thênh thang

Chim cười đón gió tan niềm tục

Cảnh vật nhiệm mầu chính Lạc bang

 

Xuân về muôn cảnh gợi vui tươi

Nắng ấm bình minh hoa mỉm cười

Suối reo nước chảy lòng an thoát

Nhẹ bước bầu trời dạ thảnh thơi!

 

Đường về Lạc quốc chẳng xa xôi

Niệm Phật bền tâm suốt cả đời

Vọng niệm dấy lên liền nhận rõ

Nơi nào cũng đẹp cũng vui chơi.

 

 

 

 

 

Sầu Riêng

 

Sầu riêng ai hái tặng cho ta

Một quả thơm ngon chín tới da

Có phải ai kia vừa gởi đến?

Lòng buồn cảm thấy quá xót xa!

 

Hương vị thơm tho quá đậm đà

Nhìn xem chú Cuội với Hằng Nga

Yêu thương một cõi hồn đau chết

Ngất lịm thân tàn một bóng ma!

 


Ta Làm Thơ

 

Ta làm thơ để cho người thư giãn

Vì cuộc đời nhiều biến động lắm tang thương

Ta làm thơ để tâm được bình thường

Để vui sống trong những ngày còn lại

Ta làm thơ để cho đời hăng hái

Trở về nguồn mang lại suối yêu thương

Sự giàu sang đâu phải chỉ có một con đường

Vui vật chất nhưng tinh thần luôn đau khổ

Ta làm thơ để cho hồn thơ sống lại

Sống yêu thương và sống lại với lương tâm

Sống rộng lòng thương khắp cả chúng sinh

Tình thương ấy mới thật an bình chơn hạnh phúc.

 

 

 

 

 

 

Tắm Nắng

 

Tắm mình trong nắng ấm

Nhìn thấy bầu trời trong

Giữ lòng không vướng bận

Đắm nhiễm cấu bụi trần

 

Em là vì sao sáng

Là biển rộng mênh mông

Là bầu trời tươi mát

Là tất cả hồn anh

 

Hãy nhìn đời vui sống

Bằng ánh mắt vị tha

Của tâm hồn Bồ Tát

Trong ánh nắng chan hòa

 

Xin cám ơn tất cả

Cảnh vật chung quanh ta

Đã cho ta nguồn sống

Thênh thang trở về nhà.

 

 

 

Tan Niềm Tục

 

 

Cây cỏ thì thầm trong ánh mai

Một đàn cò trắng vỗ cánh bay

Hương hoa gió thoảng tan niềm tục

Trăng sáng vườn xuân hết đọa đày

 

Xuân về én lượn khắp trời xanh

Mặt hồ yên lặng chim bay nhanh

Cành liễu thướt tha in rõ bóng

Sen vàng một đóa đẹp thanh thanh

 

Trong hồ ngát tỏa đóa hoa thơm

Soi bóng hình ta thấy rõ dòm

Bóng khác chi hình sao kiếm mãi

Bóng hình tuy khác một mà hai.

 

 

Thiền Hành

 

Thiền hành theo bờ sông

Nước chảy cuộn theo dòng

Lá vàng rơi lả tả

Thanh thoát tận cõi lòng

 

Bình minh trong nắng ấm

Cảnh vật nhiệm mầu tươi

Hoa nở chim hót cười

Sương trắng gió mây trôi

 

Chiều về nắng vàng phai

Thong dong dạo tháng ngày

Lòng an nhiên tự tại

Theo gió cuốn mây bay

 

Bầu trời ánh trăng thanh

Lốm đốm lá trên cành

Một mình trên tảng đá

Tĩnh lặng thật an lành.

 

 

Thoát Lưới

 

Cá đã vẫy vùng thoát lưới ra

Nhởn nhơ cá lội tránh thật xa

Một lần mắc lưới luôn ghi nhớ

Cá nguyện trọn đời chẳng lân la

 

Bầu trời bể cả rộng bao la

Bơi lội mặc tình hát vui ca

Tội gì phải chịu chui vào rọ

Dính kẹt lưới rồi khó thoát ra.

 

Chim bay cá lội mách gần xa

Nếu muốn thảnh thơi dạo Ta bà

Chớ để mắc vào lồng với chậu

Suốt đời đau khổ hết kêu ca

 

Ráng giữ thân mình khỏi đọa sa

Vướng vào lưới ái khó thoát ra

Ngục tù còn có ngày ra khỏi

Biển ái phu thê khó vượt qua!

 

 

 

Thong Dong

 

Trời chiều én lượn ngang đồi

Mình cây nắng nhuộm một trời quê hương

Rụt rè e thẹn bên đường

Có cô thôn nữ vào vườn hái hoa

Tiếng người cười nói gần xa

Bên đồi hái trái làm quà cho em

Gió xuân nhẹ thổi bên rèm

Trời đà khuất bóng nhìn xem không tường

Tịnh bình nước rảy cành dương

Cầu cho thế giới mười phương an lành

Trăng lên soi sáng trời xanh

Nước hồ yên tĩnh tịnh thanh cõi lòng

Ánh trăng tỏa khắp cánh đồng

Hàng dừa xanh lá bên dòng suối trong

Tựa mình vào gốc cây thông

Riêng ta lặng bước thong dong tháng ngày.

 

 

 

 

 

Đừng Thương Tiếc

 

Thương tiếc người đã mất

Thử hỏi được lợi gì?

Sao không để người đi

Tự do và giải thoát?

 

Người nặng lòng bi đát

Chỉ tổn hại thêm thôi

Tình luyến ái muôn đời

Là nghiệp duyên muôn thuở

 

Xin có lời nhắc nhở

Nếu thật sự thương người

Hãy để người về nơi

Cõi an lành tự tại

 

Chỉ có người ngu dại

Mới ôm lấy bóng ma

Nếu không chịu buông ra

Thì cả hai đều khổ!

 

Hãy để người yên chỗ

Hãy lo liệu thân ta

Đó mới quả thật là

Tình yêu thương chân thật.

 

 

 

Tỉnh Thức

 

Thơ đến hồn ta ngất lịm người

Thơ chi sầu khổ lắm người ơi!

Bàng hoàng tỉnh thức trong cơn mộng

Thơ quyện hồn ta chết giữa đời.

 

Ta muốn làm thơ gởi đến người

Nhưng lòng lại ngại lắm người ơi!

Biển sầu bơi lội trong chua chát

Mấy kiếp vào ra chốn nổi trôi!

 

Kiếp sống con người hơi thở thôi!

Giàu sang đâu giữ được muôn đời?

Sương khuya tóc bạc màu da đổi

Thoáng chốc lìa xa với cõi đời

 

Buồn tủi phận mình sống lẻ loi

Đời người rốt lại chỉ thế thôi!

Sớm khuya kinh kệ vui an phận

Tranh chấp hơn thua khổ lụy đời.

 

 

 

Tình Yêu Muôn Thuở

 

Ta cũng có tình yêu từ muôn thuở

Yêu đất trời và yêu tất cả núi sông

Ta yêu thương cây cỏ với cánh đồng

Yêu…yêu tất cả những ai cùng dòng máu đỏ

Tình yêu ấy từ ngàn xưa như còn đó

Đang vang lên trong ánh mắt với con tim

Đang tự hào soi sáng mãi kiếm tìm

Như réo gọi âm thầm trong bàn tay nâng đỡ

Đã bao kiếp ta vụng về si mê lầm lỡ

Theo dòng đời muôn thuở chẳng tỉnh ra

Rồi hôm nay nhờ giáo lý Phật Đà

Bừng tỉnh dậy ta hát ca trong nắng mới.

 

 

 

 

 

 

Trăng Thu

 

Vầng trăng sáng lung linh treo lơ lửng

Thu gợi buồn mờ nhạt chút hồn thơ

Trăng lên cao khỏi núi bóng trăng mờ

Trăng tỏ sáng trong lời thơ đầy chan chứa

Người hãy sống để cho trăng tròn lời hứa

Đừng quên đi khi trăng vẹn lời thề

Hãy xuôi về theo ánh sáng bóng trăng quê

Trong thơ mộng ấp yêu mùa thu chết

Thôi dừng nhé! Vì mùa thu đã chết

Ánh trăng tàn rơi rụng biết về đâu?!

Trăng thu kia không vướng bận ưu sầu

Trăng trở lại và mùa thu vừa sống lại.

 

 

 

 

 

 

Trẻ Mồ Côi

 

Thân phận trẻ mồ côi

Lang thang giữa chợ đời

Nắng mưa đầy nước mắt

Một manh áo tả tơi!

 

Thân phận trẻ mồi côi

Đói khát ôi! rã rời!

Đầu đường nơi xó chợ

Gầy ốm như ma trơi!

 

Thân phận trẻ mồ côi

Có miệng không có lời

Người đời khinh ghét bỏ

Mang kiếp sống bỏ rơi!

 

Thân phận trẻ mồ côi

Lang thang khắp cùng nơi

Mong tình thương ai đó

Xoa dịu chút khổ đời!

 

 

Trường Mộng

 

Một thoáng đời người đã đi qua,

Biết bao nước mắt lệ châu sa

Vui chi danh lợi trong trường mộng

Thức tỉnh tu hành khổ thoát ra

 

Đời người ngắn ngủi khác chi hoa

Sớm nở chiều tàn như bóng ma

Lang thang khổ lụy phong trần khách

Như thuyền không lái giữa phong ba

 

 

Đời người khác thể hạt sương sa

Tan biến vô thường trong sát na

Tranh danh đoạt lợi gây thêm khổ

Phút chốc tan tành mộng đi qua

 

 

Buông xả thật hành hạnh vị tha

Đêm ngày cố gắng niệm Di Đà

Tu nhân hành thiện không nhàm mỏi

Một dạ tu hành mộng thoát ra.

 

Tùy Duyên

 

Người ơi gặp gỡ làm chi

Trăm năm biết có duyên gì hay không

Duyên thì đã có một lòng

Nợ thì chưa có sợ vòng trầm luân

Có duyên trao đổi không dừng

Hết duyên thì cũng thôi đừng trách chi

Duyên đời kẻ ở người đi

Khi tan, khi hợp lo chi khổ sầu

Thương nhau trao đổi cho nhau

Những lời chia sẻ ngọt ngào tình thâm

Dù cho cách trở xa xăm

Trước sau vẫn giữ bền tâm không dời

Nhớ nhau xin gởi mấy lời

Còn duyên thì gặp hết thời xa nhau

Giữ lòng trước cũng như sau

Một lòng chung thủy bền lâu không rời.

 

 

 

 

 

Vạn Cảnh Tùy Tâm

 

Ta mãi mãi vẫn làm thơ ca tụng

Cảnh duyên trần đẹp đẽ rất nên thơ

Khi tâm buồn thì vạn cảnh vẫn đục nhơ

Tâm thanh tịnh thì muôn ngàn thơ mộng

Đời đau khổ bởi do nhiều tham vọng

Tham càng sâu thì khổ lụy càng nhiều

Ở trên đời sống được có bao nhiêu

Khi nhắm mắt thì muôn điều đà buông hết

Theo danh lợi cả đời đầy thắm mệt

Nhìn lại mình nhiều vết lắm thương đau

Bước đường trần mỏi gối đã gầy hao

Thôi buông bỏ ngàn sau không ân hận.

 

 

 

 

 

 

Về Chùa

 

Hôm nay em về chùa

Cùng gia đình lễ bái

Đức Phật đấng trung tôn

Nguyện Phật pháp trường tồn.

 

Hôm nay em về chùa

Vào giảng đường nghe pháp

Giáo lý thật thậm thâm

Quyết suy cứu nghiên tầm

 

Hôm nay em về chùa

Đến chào thầy đáng kính

Trong chiếc áo vàng phai

Tự tại vui tháng ngày

 

Hôm nay em về chùa

Trong chiếc áo lam dài

Cùng với hàng Phật tử

Tụng những lời kinh hay

 

Hôm nay em về chùa

Không ý niệm hơn thua

Mọi duyên trần buông bỏ

Hạnh phúc thôi tranh đua.

 

 

 

Về Đâu?

 

Đường trần vạn nẻo biết về đâu?

Đường đạo thênh thang Bát nhã mầu

Phủi sạch trần ai bao nghiệp chướng

Nghiên tầm giáo pháp thật cao sâu

 

Nặng bước đường trần lắm khổ đau!

Quay về chánh pháp học đạo mầu

Trời xanh rộng khắp không ngăn ngại

Bạn cùng gió mát với trăng sao

 


Về Thực Tại

 

Thơ đã gởi nhưng tin nào có thấy

Bóng nhạn bay không lưu lại vết hình

Mảnh trăng vàng yên ngủ rất đẹp xinh

Tình cạn trót mây hồng bay lơ lửng

Trong ánh mắt lung linh đầy chứa đựng

Biển sâu tình xây dựng ngát yêu thương

Cho hồn ta bay tận khắp mười phương

Cho tất cả không một lòng hối tiếc

Nhành dương liễu in sâu ngàn nước biếc

Nước cam lồ rưới tắt cõi hồn đau

Nhìn cuộc đời qua ánh mắt thương nhau

Mang sức sống đi vào trong quên lãng

Đời rất đẹp ngàn hoa nào biết chán

Mảnh tình kia gói trọn trái tim yêu

Nhìn áng mây vẻ đẹp rất yêu kiều

Về thực tại muôn điều trong hỷ xả.

 

 

 

 

 

Vườn Hoa Nhơn Loại

 

Em là màu tím hoa lan

Còn anh màu đỏ chứa chan ân tình

Em là màu trắng đẹp xinh

Anh màu nước biển đẹp tình quê hương

Em màu sắc đậm hoa hường

Anh màu xanh lợt tình thương chan hòa

Em màu xanh đậm hoa cà

Anh màu vàng đậm một nhà an vui

Em là hoa nở xanh tươi

Mỗi màu nét đẹp vẹn mười sánh nhau

Mỗi người vẻ đẹp khác nào

Màu nào sắc nấy xiết bao đẹp lòng

Tình người xử đẹp thủy chung

Là màu đạo đức sống cùng với nhau

Mỗi màu tuy khác nhìn vào

Cùng chung dòng máu đồng bào yêu thương.

 

 

 

 

 

Vườn Thơ

 

Vườn thơ người bỏ đi rồi

Lòng thơ còn lại trọn đời khắc ghi

Người về bến cũ rồi đi

Trăng lên đầu núi biệt ly xa vời

Đời người khác thể cuộc chơi

Khi tan, khi hợp, khi thời yêu thương

Khổ buồn cũng tại vấn vương

Mây sầu hoa héo lụy thương vì tình

Sao bằng sớm kệ chiều kinh

Vui trong cửa Phật nhục vinh chẳng màng

Tuổi chiều bóng xế lo toan

Mấy chiều trôi nổi khóc than bao đời!

Mây tan trăng tỏ sáng ngời

Nguồn chơn hiển hiện khắp nơi không cùng

Người về xây lại tình chung

Thương yêu vạn loại khắp cùng thế gian.

 

 

 

 

 

Xuân Buồn

 

Đã mấy mùa xuân ở xứ người

Xuân nào cũng khổ lắm người ơi!

Mỗi năm thêm tuổi thân cằn cỗi

Cái chết theo sau khổ khóc cười?!

 

Đâu có xuân nào ở quê tôi

Tết đến lòng tôi thật rối bời

Nhớ đến quê hương lòng chạnh tủi

Biết bao kỷ niệm để vui chơi

 

Xuân đến thì ta cũng muốn cười

Nhưng cười sao nổi hỡi xuân ơi!

Răng long tóc bạc da mồi nổi

Chân yếu lưng còng khổ tới nơi

 

Xuân về ai nấy thích vui chơi

Rộn rịp ngày xuân khắp mọi nơi

Riêng tôi cảm thấy lòng tê tái

Đạo nghiệp chưa tròn thẹn hổ ngươi!

 

 

 

Xuân Cảm

 

Sáng nay nghe chim hót

Nhìn ánh nắng ban mai

Đẹp xinh một ngày mới

Cho ta một nụ cười

 

Xuân về mang hơi ấm

Sưởi lại những ngày qua

Nhìn người qua ánh mắt

Tình ta thấy đậm đà

 

Người tươi cười khẽ nói

Êm nhẹ như hồn ru

Đi vào trong giấc ngủ

Ôi! mộng đẹp thiên thu.

 

 

 

 

 

 

 

Xuân Phong

 

Người đi một cõi trời mơ

Ta đi một cõi làm thơ tặng người

Nắng lên hoa nở tươi cười

Gió xuân mang đến cho người vui thêm

Chúc người vui sống êm đềm

Dệt nên mộng đẹp an nhiên với đời

Trời chiều khúc nhạc vui chơi

Mưa sầu thôi vướng sáng ngời đạo tâm

Vườn xuân đâu khó kiếm tầm

Vào vườn hái trái chớ lầm quả sâu

Chiều thu tan tác một màu

Lá rơi nhẹ cánh bể dâu ai tường

Người về mang lại tình thương

Chan hòa sưởi ấm muôn đường khổ đau

Suối nguồn tuôn chảy dạt dào

Cho đời hơi ấm một màu yêu thương.

 

 

 

 

 

Người Đã Ra Đi

 

Người đã đi rồi phận đã an

Duyên trần đã mãn hết lo toan

Quả nghiệp trả xong tròn một kiếp

Tội người ở lại khóc thương than!

 

Hãy để người đi được bình an

Nguyện hồn người được vãng Tây phang

Mấy ai thoát khỏi đường sanh tử?

Bọt nước chiều hôm hợp phải tan.

 

Một kiếp làm người lắm gian nan!

Biết bao nước mắt lệ tuôn tràn

Tranh danh đoạt lợi trong trường mộng

Đâu khác loài hoa nở lại tàn!

 

Làm người ai chẳng muốn giàu sang

Toan tính lo âu khổ ngút ngàn

Tiền của tạo ra bao nước mắt

Vô thường cướp mất khóc buồn than!

 

 

 

 

 

 

Tự Tỉnh

 

Hoa vẫn tàn, lá vẫn thay

Chuyện đời thay đổi xưa nay vẫn thường

Thương hoa, tiếc nuối vì thương

Muốn cho hoa đẹp bình thường không phai

Đó là nghịch lý an bày

Vô thường luật định xưa nay vẫn là

Thấy người chạnh nghĩ đến ta

Mấy ai thoát khỏi sanh, già, bệnh đau

Muốn cho hết khổ ngày sau

Con đường tu niệm kíp mau thật hành

Giữ thân, khẩu, ý nghiệp lành

Hằng ngày vui sống tâm thanh tịnh nhàn

Bước đi nhịp thở bình an

Vững tâm chánh niệm bạc vàng khó mua

Việc đời thôi chớ hơn thua

Gìn lòng niệm Phật ngăn ngừa ác duyên

Sen vàng nở rộ cửa Thiền

Nguyện về Tịnh cảnh vui miền Lạc bang.

 

 

 

 

 

 

Hạt Sương Mơ

 

Mộng nầy tan vỡ mộng khác theo

Chồng chất lên nhau khổ vạn sầu

Mấy ai tỉnh thức trong cơn mộng

Chìm đắm sâu vào mộng trong mơ

 

 

Mộng thân, mộng cảnh, mộng vu vơ

Đuổi bắt theo nhau đến bơ phờ

Nhìn lại điểm sương đầu tóc bạc

Vẫn còn theo mộng lắm đục nhơ

 

Óng ánh kim cương hạt sương mơ

Làn khói bay qua phủ sương mờ

Đưa tay nắm bắt cho là thật

Nào ngờ tan biến thật ngu ngơ

 

 

Ta đã trải qua mấy kiếp khờ

Làm người ngu dại thật ngây thơ

Cõi đời mộng giả cho là thật

Vì bởi si mê khổ dại kh

 

Mưa

 

 

Cơn mưa rào đêm qua

Gợi buồn nhớ thiết tha

Nhớ khoảng đời thơ ấu

Tôi đã sớm mất cha.

 

Mưa chiều buồn hôm qua

Gợi tôi nhớ quê nhà

Cánh đồng vàng lúa chín

Dạo khúc hát lời ca

 

Mưa nặng hạt trưa qua

Tôi nhớ đến mẹ già

Suốt một đời vất vả

Nuôi con chẳng kêu ca

 

Cơn mưa sáng hôm nay

Gợi tôi nhớ lại ngày

Cùng mẹ về quê ngoại

Đồng ruộng tát gàu dai

 

Bướm Ong

 

Bướm ong bay lượn ngang tường

Bay qua rừng trúc vào vườn hút hoa

Ong chuyên hút mật nhụy hoa

Nhưng không vì thế sắc hoa úa tàn

Làm người sống ở thế gian

Học theo ong bướm chớ ham sang giàu

Hút hoa chẳng hút hết đâu

Chỉ cần đủ sống chẳng cầu dư thêm

Miễn sao cuộc sống êm đềm

Tâm hồn thanh thoát chẳng hiềm với ai

Gắng công niệm Phật hằng ngày

Tu nhân tích đức ngày mai hưởng dùng.

 

 

 

 

 

 

Bầu Trời Xanh

 

Bầu trời xanh trong vắt

Không một áng mây trôi

Em hít thở mỉm cười

Bầu trời, em không khác

 

Nếu nhìn bầu trời trong

Mang ý niệm ước mong

Thật tình em chưa thấy

Chỉ thấy khoảng trống không

 

Muốn thấy bầu trời trong

Em không cần ước mong

Lắng lòng yên lặng lẽ

Mầu nhiệm thật không cùng

 

Sự có mặt của em

Giữa bầu trời rộng khắp

Lòng em vui tràn ngập

Hạnh phúc không gì bằng.

 

 

 

 

 

Sống Thực

 

Bây giờ có mặt thương nhau

Nếu không tận hưởng về sau hận tình

Nhiệm mầu cảnh vật đẹp xinh

Đâu cần tìm kiếm quanh mình thiếu chi

Xin đừng mơ mộng nghĩ suy

Sống sao cho thật, đẹp tình quý nhau

Đời người như giấc chiêm bao

Bạc tiền giàu có chắc nào bền lâu

Lặng yên quán chiếu thật sâu

Tịnh tâm chánh niệm còn đâu vui bằng

Gắng công thực tập siêng năng

Trở về hơi thở vết nhăn không còn.

 

 

 

 

 

 

Đâu Là Hạnh Phúc

 

 

Tôi biết anh có quá nhiều hạnh phúc

Đôi mắt anh còn trong sáng nhìn trời

Một thiên đường màu sắc khắp muôn nơi

Anh thấy rõ không có gì là ngăn ngại

Anh vẫn còn có trái tim không hư hoại

Nhịp đập tim anh vẫn mãi an lành

Lá phổi kia còn hít thở khí trời xanh

Và bao tử vẫn còn luôn khỏe mạnh

Anh thử nghiệm, anh còn nhiều hình trạng

Cơ thể anh và tất cả chung quanh

Anh nghe như mọi thứ vẫn an lành

Và như thế, anh còn quá nhiều hạnh phúc.

Tôi thành thật xin có lời cầu chúc

Chúc cho anh mãi vui sống an lành

Đem đời mình phục vụ cho nhơn sanh

Được vui sống an lành trong hiện tại.

 

 

 

 

Cảnh Mưa Đời

 

 

Nhìn thấy mưa rơi rơi!

Tôi cảm thương cho đời

Sao quá nhiều ác nghiệp

Càng gây khổ nhau thôi!

 

 

Nhìn thấy mưa rơi rơi!

Biết bao kẻ trong đời

Chịu quá nhiều đau khổ

Như những trẻ mồ côi!

 

 

Nhìn thấy mưa rơi rơi!

Tiếng gió than khóc đời

Chiến tranh và bạo lực

Gây thảm khổ cùng nơi!

 

 

Nhìn thấy mưa rơi rơi!

Biết bao kẻ trên đời

Lang thang vì bệnh tật

Nghèo đói rách tả tơi!

 

Nhìn thấy mưa rơi rơi!

Thương cho kẻ trên đời

Sống không người cấp dưỡng

Đành chịu chết mà thôi!

 

Nhìn thấy mưa rơi rơi!

Muốn nói, nhưng nghẹn lời

Biết bao người khổ nạn

Thiên tai chết rã rời!

 

 

Một Là Tất Cả

 

Ta có mặt ta trong đám mây

Trải dài hoa lá khắp rừng cây

Nơi nào cũng có ta trong ấy

Cùng dựng mùa xuân để đắp xây

 

Tôi thấy hạt mưa rất thân quen

Hạt mưa không nói sự sang hèn

Sang hèn là tại ta phân biệt

Đã chết lâu rồi trong đảo điên

 

Không có thứ gì chẳng phải ta

Sống chết là hai mặt khác là

Ai còn lầm nhận phân chia ấy

Thế giới điên cuồng khổ tại ta.

 

Cực Lạc đâu xa tại Ta bà

Có gì không phải ở tâm ta

Muôn pháp thảy đều quy một chữ

Một là tất cả khắp hằng sa.

 

Nhắn Gởi

 

Gió đến thăm ta giữa đêm nay

Ru hồn ta ngủ giữa cơn say

Cho ta quên hết đời cô quạnh

Để mảnh hồn ta khỏi đọa đày

 

Ai về ta nhắn một lời hay

Chúc người thôi hết nỗi đắng cay

Nắng hạ qua đi nhiều mộng đẹp

Xuân về mang lại ấm nồng say

 

Mưa đến thăm hoa buổi chiều nay

Bướm đậu trên cành gió lung lay

Hoa vẫn hương thơm bay tỏa ngát

Mây trời vẫn nhớ, nhớ không phai.

 

 

 Mây Trắng

 

Mây trắng ngang qua bầu trời tâm thức

Đi thong dong không vướng mắc nơi nào

Từ ngàn xưa cho mãi đến ngàn sau

Mây trắng vẫn là đường xưa mây trắng

Trời vẫn đẹp và có nhiều ánh nắng

Vẫn chiếu soi với muôn vạn cõi lòng

Vượt băng ngàn qua mọi nẻo đục trong

Về thực tại hòa đồng trong hơi thở

Hãy rộng mở vòng tay luôn che chở

Mắt thương đời hoa sen nở khắp cùng nơi

Trái tim ơi! hãy vực dậy xoa dịu để cứu đời

Thầm lặng bước sáng ngời trong tâm tưởng.

 

 

 

 

 

 

Bé Thơ

 

Trong mây có một bé thơ

Ra vào tự tại ai ngờ được đâu

Thế gian muôn vẻ muôn màu

Bé không hình tướng làu làu suốt thông

Vượt ngoài thinh sắc đục trong

Vượt ngoài đắm nhiễm trong vòng trầm luân

Dù cho trong cõi bụi trần

Bé nào dính mắc sáng ngần tịnh thanh

Bé không vướng lụy tranh giành

Thênh thang rộng khắp diệt sanh ngoài vòng

Dạo chơi một cõi thong dong

Hòa cùng muôn vật không trong không ngoài.

 

 

 

 

 

 

Vui Với Thiên Nhiên

 

Thiên nhiên hoa lá một màu tươi

Ai nấy an vui nở nụ cười

Không gian nắng đẹp trời thanh thoát

Chim hót reo vang buổi sáng mơi

 

Cùng nhau hội tụ dưới tàng cây

Niềm vui mang lại ấm tràn đầy

Hòa nhịp cây rừng vang điệu hát

Đạo tràng xây dựng quyết đắp xây

 

Bình minh nắng ấm ở nơi nầy

Cùng nhau sinh hoạt thật vui thay

Thiền hành, niệm Phật trong an thoát

Thọ thực, nghe kinh hết đắng cay.

 

Kìa hãy nhìn xem ngọn gió lay

Trở về thực tại hết mê say

Rong chơi đau khổ muôn ngàn kiếp

Cũng bởi lòng ta luôn đắm say.

 

 

 

 Sám Hối

 

Ai gục khóc trong đêm thâu buồn tủi

Ai hận mình trong cảnh khổ bơ vơ

Ai than thân trách phận đếm từng giờ

Hởi ai đó thẫn thờ trong đêm tối!

Vì một phút vô minh gây nên lầm lỗi

Bởi ham tiền đánh đổi cả lương tâm

Gây biết bao thảm cảnh quá sai lầm

Nay phải chịu âm thầm trong đau khổ

Mong ai đó hãy mau nên giác ngộ

Hãy quay về bờ giác kíp hồi tâm

Để tránh đi những vết đổ sai lầm

Chóng tỉnh thức thành tâm luôn sám hối.

 

 

 

 

 

 

Sinh Hoạt Ngoài Trời

 

Sinh hoạt ngoài trời vui lắm thay!

Cùng nhau ca hát trong vòng tay

Hoa lá cây rừng ôi tươi mát

Nắng đẹp trời trong buổi sớm mai

Tịnh tọa, thiền hành trong cảnh vắng

Nghe kinh, thọ thực dưới tàng cây

Còn chi vui đẹp hơn tình đạo

Liên hữu một nhà vui lắm thay!

 

 Chủ nhật ngày 17/10/2010


Thiên Tai Khổ Nạn

 

Gió chiều mang hơi cay

Thiên tai khổ nạn hoài

Bao nhà tan cửa nát

Người chết chẳng ai hay!

 

Gió chiều mang hơi cay

Bao kẻ sống đọa đày

Cảnh màn trời chiếu đất

Quần áo chẳng còn thay!

 

Gió chiều mang hơi cay

Bao cảnh khổ dạn dày

Bệnh tật nằm lây lất

Đói khát khổ trần ai

 

Gió chiều mang hơi cay

Nhìn không rõ hình hài

Thân cằn người hốc hác

Nhận không biết là ai!

 

Gió chiều mang hơi cay

Thiên tai ách nạn hoài

Cảnh đất bằng dậy sóng

 Bao kẻ sống lạc loài

 

Gió chiều mang hơi cay

Đồng ruộng không người cày

Nước dâng tràn ngập hết

Người chết nằm phơi thây

 

Gió chiều mang hơi cay

Bao tiếng khóc đêm dài

Rên la nằm giãy chết

Bao giờ hết nạn tai?!!!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đi Trong Mưa

 

Gió chiều thổi lạnh đến tận xương

Mưa phùn lất phất ướt trên đường

Kỷ niệm mọi người lưu nhiếp ảnh

Gương mặt vui cười thật dễ thương

 

Bước đi trong gió lại mưa rơi

Tuy thế, mọi người vẫn thảnh thơi

Kẻ nói người cười trong thân thiết

Ngoài giờ sinh hoạt thật vui chơi

 

Sáng sớm mưa phùn khi tới nơi

Mọi người tay xách vẫn vui cười

Lạnh lùng chẳng ngại trong mưa gió

Đã đến đây rồi phải vui thôi

 

Một ngày sinh hoạt đã trôi qua

Chuẩn bị ra xe trở lại nhà

Cao đẹp tình người sao nói hết

Tinh thần tu học thật thiết tha.

18/10/2010

 

 

 

Hướng Niệm Quan Âm

 

Mười chín tháng chín vía Quan Âm

Phật tử đến chùa dự hơn trăm

Ai nấy vui tươi lòng hớn hở

Tất cả chí thành niệm Quan Âm

 

Trì danh lễ bái rất thành tâm

Noi gương Bồ tát hạnh nguyện thâm

Mười hai lời nguyện ơn cao cả

Nguyện độ chúng sanh khổ kiếm tầm

 

Đại chúng một lòng niệm Quan Âm

Phá tan phiền muộn khổ tối tăm

Đưốc tuệ nêu cao hằng cháy sáng

Hướng nội tìm về tánh Quan Âm

 

Chiều nay vân tập trước lộ thiên

Nghìn mắt nghìn tay đấng Mẹ hiền

Tưởng niệm chí thành đầu lễ bái

Nguyện cầu thế giới được bình yên

 

20/10/2010

 

 

 

 

 

Hoài Niệm Cố Hương

 

Tôi đến đảo Bidong trong buổi chiều nhạt nắng

Nghe cõi lòng rung động mấy tầng mây

Hàng dừa xanh xen lẫn những tàng cây

Cao vi vút trên ngọn đồi đá nổi

Một hải đảo hoang vu ôi! cằn cỗi

Vẫn vươn mình đọ sức với phong ba

Mang tình thương che ấm kẻ xa nhà

Đem sức sống tự do nguồn sưởi mát

Một khung cảnh trong tình người trôi dạt

Vượt trùng dương trong phận bạc đau thương

Cảnh chia ly là cảnh đoạn trường

Vì sự sống nên tìm đường an thoát

Rồi một sớm nghe lòng tôi bi đát

Nhớ mẹ già nhớ cả quê hương

Nhớ hàng cây đến cả con đường

Nơi ấp ủ trong tình thương cao cả

Trong đêm vắng nghe mưa rơi tầm tả

Một nỗi buồn như nát cả con tim

Hàng dừa xanh rủ lá đứng im lìm

Như bất động như cảm thông người viễn xứ

Mẹ hởi mẹ xin rộng lòng tha thứ

Nơi cố hương con biết mẹ mỏi mòn trông

Chờ tin con như tắt lịm cõi lòng

Tội bất hiếu con cam tòng lỗi đạo

Ngày giã biệt con cảm nghe lòng áo não

Phút chia ly mẹ khó bảo nên lời

Mẹ nhìn con bằng giọt lệ tuôn rơi

Chỉ khẩn nguyện Phật trời gia hộ trẻ

Nơi Bidong con ngồi buồn nhớ mẹ

Chạnh niềm đau con thỏ thẻ giữa trời đêm

Ôi! Bidong! Bidong! Ta xin gởi một niềm

Niềm luyến tiếc và niềm thương đất Mẹ

Ta gởi gắm Bidong trong cộng đồng thương trẻ

Một tâm tình mát mẻ kẻ ly hương

Ta nhờ mi hướng dẫn một con đường

Dẫn lối cũ tìm tự do vui sống

Đây hải đảo, có suối trong có tấm lòng thương cao cả

Có bầu trời dịu ngọt với trăng sao

Có bóng cây che mát giữa đồi cao

Như chực sẵn đón chào người bất hạnh

Bidong ơi! giữa khung trời trong tạnh

Nghe trong mi một sức mạnh vô biên

Thầm cảm mi như bà mẹ dịu hiền

Thương con trẻ mọi ưu phiền khổ lụy

Nơi đất Việt đồng bào ta nhứt trí

Quyết ra đi tìm ánh sáng Tự Do

Đến Bidong anh chị sẽ hết lo

Trút gánh nặng đắn đo nghe khó thở

Anh miền quê tôi người ở chợ

Chị đồng bằng em ở cao nguyên

Đến Bidong quyết một lời nguyền

Nuôi ý chí sắt son cùng tổ quốc

Đờn đã trổi so dây cùng cung bậc

Là con Hồng dòng giống Lạc Long

Đồng bào ta chung quyết một lòng

Tương trợ giúp cộng đồng người dân Việt

Trang hùng sử lưu danh Thường Kiệt

Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn bản hùng ca

Đã nhiệt tâm giữ nước xây nhà

Ta đã có ông cha lưu truyền thống

Bidong ngày 14/5/1981

 

 

 

 

 

 

 

Kính Mừng Thầy

 

Hôm nay chúc thọ mừng thầy

Chúng con đệ tử sum vầy bên nhau

Ơn thầy khác tợ núi cao

Dựng xây Tam Bảo công lao nhọc nhằn

Trải bao khổ cảnh gian truân

Tạo nên điện báu ngày sau lưu truyền

Chúng con đầy đủ thiện duyên

Nương nơi Tam Bảo cửa Thiền học tu

Vô thường chớp mắt phù du

Mùa xuân tươi tốt mùa thu rụng rời

Sao bằng an phận tùy thời

Trao dồi trí đức sáng ngời đạo tâm

Nhớ lời Phật dạy cao thâm

Chúng con quyết chí vâng làm noi theo

Đời người như giấc chiêm bao

Ơn thầy ghi nhớ trước sau đáp đền.

 

 

 

 

 

Tin Sét Đánh

 

Tin sét đánh rằng chùa đổ nát

Bởi chiến tranh tàn phá gây nên

Bao năm kiến tạo dựng lên

Nào ngờ phút chốc vách phên tan tành

Luật vô thường đã đành là thế

Song nào ai khỏi lệ trào tuôn

Công Thầy tạo lập tròn vuông

Ngày nay đổ vỡ in tuồng mây bay

Con kính lạy Phật Ngài chứng giám

Cho lòng thành đệ tử thơ ngây

Con không dám trách ai gây

Chỉ hồi tưởng nhớ ơn Thầy khổ công

Thế là xong một đời bồi đắp

Chịu nhọc nhằn nắng bụi gió sương

Ai ơi! thật cảnh nhiễu nhương

Lòng nầy quặn thắt như dường kim châm

 

 

 

Lạy Phật Tổ thành tâm khẩn nguyện

Cho đệ huynh ách nạn chóng qua

Bao nhiêu nghiệp chướng gây ra

Nhứt tâm sám hối thoát qua tai nàn

Dù cảnh tượng muôn vàn đau khổ

Song lòng nầy cảm thấy vơi đi

Bởi nhờ chất liệu từ bi

Cam lồ của Phật bớt đi não phiền

Đời tạo nghiệp triền miên sanh tử

Chém giết nhau trong bã lợi danh

Tham sân cướp giựt tranh giành

Biết đời nào hưởng thanh bình vinh quang

(Một chiều buồn hồi tưởng hậu Tổ

Chùa Liên Trì bị bom đạn tiêu hủy )

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lời Tâm Sự

 

Chùa Phước Thanh sắp hư đổ nát

Nhìn xem qua bi đát chạnh lòng

Bà con kẻ của người công

Cùng nhau góp sức cùng chung nhau làm

Ngày mùng một cùng đàm thảo luận

Vạch chương trình xây dựng cho mau

Trước tiên tài chánh phải cao

Hầu mua vật liệu đặng trau sửa bồi

Đáng kể nhứt là ngôi chánh điện

Hơn hai trăm tôle miếng típ rô

Dự trù tiền phải thâu vô

Khoảng chừng mười triệu mới hô nhau làm

Nghĩ con số khổng lồ dường ấy

Biết làm sao mà chạy cho ra

Cũng nhờ Phật tử gần xa

Kẻ nhiều người ít xuất ra hộ chùa

Nửa thế kỷ mới tua?? lần sửa

Hơn nửa đời mới có một lần

Việc làm công đức sáng ngần

Ráng lên đi chị ghi phần phước ta

Nầy anh ạ! Nhân ra vài buổi

Cùng qua chùa hè hụi nhau làm

Việc chung đóng góp quyết tâm

Có nơi chiêm bái ngày rằm cho ta

Việc làm nầy cũng là lịch sử

Hầu lưu truyền gìn giữ mai sau

Nệ hà chi chút công lao

Chúng ta cố gắng gây cao nhân nầy

Gieo nhân tốt ắt tầy quả tốt

Không điêu ngoa bốc lột đâu anh

Hạt nào trái nấy đành rành

Lẽ đâu gieo ớt cam sành cho anh

Hơn thế nữa mang danh Phật tử

Đã quy y ngũ giới giữ gìn

Việc làm lợi ích nhơn sinh

An nhiên tọa thị ngắm nhìn được sao?!

Nghĩ thế ấy ta mau làm phước

Noi tấm gương bắt chước Thích Ca

Xả thân cắt ái ly gia

Hy sinh tầm đạo vị tha muôn loài

Không ích kỷ đoái hoài vương vị

Bỏ vinh hoa chẳng nghĩ riêng mình

Từ bi gieo khắp sanh linh

Tấm gương cao cả đậm tình yêu thương

Ngài đã dạy cúng dường tạo phước

Một hạnh lành khắp được người theo

Gắng công gắng sức ta gieo

Mai sau ta hưởng thoát nghèo khổ thân

Người con Phật xa gần lưu ý

Cùng khuyên nhau nhứt trí chung làm

Hạnh lành bớt được lòng tham

Đôi lời bày tỏ can tràng khuyên nhau.

 

Kỷ niệm ngày 30 tháng 11 năm Kỷ Mùi (1979)

Viết tại chùa Phước Thanh, Quận Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hạnh Ngộ

 

Duyên đâu hội ngộ ở nơi đây

Có phải duyên xưa tự bấy chầy

Trước lạ ngỡ ngàng chưa cạn trót

Sau quen mật thiết tỏ tâm bày

Trọn bề gia thất trong cơn đổ

Chu tất am thiền giữa bão xoay

Thế sự tình đời sao nói hết

Tùy duyên an phận mới là hay.

 

Duy Tâm

 

Duy tâm vạn pháp cảnh không hoa

Tham trước sanh tâm khổ đó mà

Mấy kẻ nhận ra nguồn bổn tịnh

Bao người tỉnh giác gốc mê sa

Luân hồi sáu nẻo do tâm cả

Giải thoát ba đường bởi tâm ra

Học đạo suy nghiên luôn phản tỉnh

Hồi quang trực nhận dứt phiền ma.

 

 

 

 

 

Hoa Vô Ưu

 

Hoa Vô Ưu một đóa

Chào đón ánh bình minh

Vũ trụ đều nghiêng mình

Cỏ cây lời tán tụng

 

Ngàn năm hoa linh thoại

Mới hé nụ một lần

Nhơn thiên tiếng vang rân

Mừng bậc Thầy giác ngộ.

 

Bậc cứu tinh ra đời

Giữa muôn ngàn đau khổ

Bao tiếng khóc rên la

Cõi Ta bà chìm đắm

 

Vầng nhật nguyệt sáng soi

Ánh bình minh tỏ rạng

Chiếu khắp cả không gian

Cứu đời thoát lầm than!

 

Người về trong nắng ấm

Cảnh vật nhiệm mầu tươi

Hoa nở chim hót cười

Thênh thang trời rộng mở

 

Muôn vạn lời cung kính

Trong ánh mắt vị tha

Từ bi nguyền cứu độ

Chúng sanh cõi Ta bà

 

Con chắp tay nguyện cầu

Cho mọi người thương nhau

Không hận thù tranh chấp

Cùng sống chung hòa bình.

 

Mùa Phật đản 2635. Dương lịch 2011.

 

Thắp Hương

 

Lòng thành dâng một nén hương

Thắp nhiều khói bụi môi trường nhiễm ô

Chắp tay thành kính nam mô

Di Đà sáu chữ lau khô lệ sầu

Ai ơi Phật pháp nhiệm mầu

Gắng công niệm Phật trồng sâu căn lành

Gìn lòng nhiếp niệm tịnh thanh

Chuyên tâm niệm Phật vãng sanh liên đài.

 

 

 

Chiều Tàn (Thân tặng cháu Bích Trâm )

Nắng vàng trải khắp đồng xanh

Mái tranh lam khói trên cành chim reo

Trên ghe thôn nữ cầm chèo

Dòng sông uốn khúc cánh bèo bình trôi

Đàn cò vỗ cánh ngang trời

Tìm về tổ ấm một thời bôn ba

Trời chiều bóng ngã nghiêng tà

Mây hồng ráng đỏ Ta bà trầm luân

Niềm riêng nặng gánh bâng khuâng

Bao năm vất vả một thân trong ngoài

Nuôi con chẳng quản tháng ngày

Thân cò lặn lội chẳng nài nhọc thân

Ngược xuôi tất tả tảo tần

Nuôi con khôn lớn sáng ngần mai sau

Thân gầy nào quản nhọc lao

Mẹ ơi! đã khuất lòng đau khôn lường

Mẹ là tất cả tình thương

Bỏ con ở lại trên đường bơ vơ

Vu Lan nhớ Mẹ ngẩn ngơ

Mẹ về Lạc cảnh tuổi thơ khổ sầu.

 

 

 

 

 

Phần hai

 

Tạp Bút

 

 

Cầu siêu trên biển

 

Lễ cầu siêu cúng thất cho những người đã mất, thì không có gì là lạ đối với người Phật tử. Vì đây là một tập tục cổ truyền của nền tín ngưỡng Phật giáo từ ngàn xưa. Thông thường, người chết được tụng kinh cầu siêu trong thời gian 49 ngày. Theo Kinh Địa Tạng nói, người chết sau 49 ngày, thì tùy nghiệp mà chiêu cảm thọ sanh. Nếu khi còn sống, mà người đó khéo biết tu nhân hành thiện, làm lành lánh dữ, thương cứu giúp người, nghĩa là tạo nhiều thiện nghiệp, thì khi chết, người đó sẽ tái sanh trong cảnh giới an lành hưởng nhiều phước báo. Đó là chúng ta khéo biết để chuẩn bị tạo cho mình một môi trường tái sanh tốt. Ngược lại, người nào tạo nhiều nghiệp ác, tùy theo nghiệp nhân đã gây tạo nặng nhẹ, mà phải chiêu cảm đọa lạc thọ khổ nhiều ít có khác nhau. Đó là theo luật tắc nhân quả. Ác nhân ác báo, thiện nhân thiện báo, không một mảy may sai chạy. Làm lành hay làm dữ cuối cùng rồi cũng phải trả, không thể cao bay xa chạy mà có thể trốn thoát được. Kinh nói: “Giả sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ”. Nghĩa là: Dù cho trải qua trăm ngàn kiếp, chỗ mình tạo nghiệp thiện, ác không bao giờ mất, một khi nhân duyên đã đến rồi, thì quả báo tự mình phải chịu lấy.

Ở xứ Úc này, phần nhiều người ta ít khi có thời gian rảnh rỗi trong tuần, vì ai nấy đều phải vất vả bận rộn lu bu với bao nhiêu công việc làm ăn. Cho nên nhà chùa cũng tùy theo đó mà thường cúng cầu siêu chung cho các hương linh thờ tại chùa vào những ngày chủ nhật. Những buổi lễ cúng thất cầu siêu, thường trong tang quyến của người đã mất tới chùa làm lễ. Vì để cho tiện lợi thời gian, nên chùa thường cúng cầu siêu vào những buổi sáng chủ nhật hằng tuần.

Riêng đối với chùa Quang Minh, thì ngày chủ nhật rất đông khách thập phương tới lui chiêm bái sinh hoạt. Đủ mọi thành phần viếng chùa. Ngoài những liên hữu trong đạo tràng ra, còn có các đoàn thể sinh hoạt khác. Như gia đình Phật tử Đại Hoan Hỷ và các đoàn sinh võ thuật Vô Vi Nam cũng như một vài nhóm Phật tử sinh hoạt linh tinh khác. Dù rằng, chùa trong thời gian đang xây cất, nhưng không vì thế mà kém đi lượng người đến sinh hoạt tu học, hoặc thăm viếng lễ bái đông đảo.

Muốn biết sự sinh hoạt của chùa Quang Minh như thế nào, thì bạn có thể đến chùa vào mỗi sáng ngày chủ nhật, thì bạn sẽ thấy rõ. Vì chùa là môi trường có tác dụng thực tiễn trong chiều hướng nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Sự sinh hoạt tuy đa dạng qua nhiều lĩnh vực hình thức khác nhau, nhưng tựu trung cũng đều có chung một ý nghĩa, là nhằm bảo tồn duy trì nền tín ngưỡng Phật giáo cũng như phát huy những sắc thái văn hóa Phật giáo và dân tộc trong chiều hướng phục vụ nhân sinh thắm sâu tình người. Cửa chùa rộng mở có khả năng ôm lấy tình người và thắt chặt tình đạo cao đẹp hơn. Đó là hướng tiến đích thực của truyền thống Phật giáo xưa nay.

Trở lại vấn đề nêu trên, hôm nay lần đầu tiên, tôi được tham dự một buổi lễ cầu siêu thật là đặc biệt. Nói đặc biệt, là vì buổi lễ cầu siêu này không diễn ra ở trên đất liền hay ở chốn Già lam thanh tịnh. Mà nó lại diễn ra ở giữa biển trời nước bao la. Đoàn người chúng tôi tham dự trên dưới khoảng 30 người.

Hôm nay là thứ bảy ngày 4 tháng 10 năm 2008, là ngày thọ bát thường lệ của một số quý liên hữu trong đạo tràng Quang Minh. Tôi đến rất sớm hơn mọi khi. Sau khi truyền giới xong, tất cả chúng tôi đều tập trung ra xe để đi làm lễ cầu siêu ở trên biển. Tôi rất ngạc nhiên, tại sao hôm nay, thầy trụ trì bảo chúng tôi chuẩn bị ra xe để đi dự lễ cầu siêu. Tôi cũng không biết cầu siêu cho ai, mà tại sao lại phải cầu siêu trên biển? Tôi đâm ra thắc mắc và tự hỏi như thế? Tôi cũng không được nghe thầy trụ trì nói qua về vấn đề này. Tôi thấy các liên hữu Phật tử đều mặc áo tràng lam, trong tư thế chuẫn bị sẵn sàng để ra biển hành lễ.

Bên chư Tôn Đức Tăng, ngoài tôi ra, còn có một số quý thầy: T. Phước Tấn, T. Phước Hựu, T. Minh Lực ( từ VN qua ) T. Phước Nguyên. T. Phước Nghĩa. Còn bên quý sư cô thì có: Sc Như Bửu, Sc Phước Chơn, Sc Phước Hồng. Tổng cộng gồm có 9 vị.

Buổi sáng hôm nay khí trời mát dịu. Có nắng ấm đủ để sưởi ấm làm êm dịu tươi mát lòng người thật dễ chịu. Đoàn người chúng tôi lên xe, và xe chạy thẳng ra vùng biển Willamtown. Tới nơi, nhìn đồng hồ tay, là đúng 9 giờ sáng. Thầy Phước Tấn bảo chúng tôi nhanh chân xuống tàu. Tất cả đều lần lượt bước chân xuống tàu. Chiếc tàu có hai tầng không lớn lắm. Nhưng cũng đủ cho đoàn người chúng tôi đứng ngồi thoải mái. Quý thầy và quý sư cô ngồi hai bên ghế dài. Chính giữa là cái bàn đã có sẵn. Cái bàn không lớn lắm, nhưng cũng không nhỏ lắm, vừa đủ để bày biện thức ăn. Nhưng trước khi bày thức ăn ra, thì cô Tâm Hải thiết trí hình tượng Phật, lư hương, nhang đèn… Đặc biệt còn có một cái hũ nhỏ đựng tro cốt.

Trước khi tiến hành lễ cầu siêu, T.T. Thích Phước Tấn trụ trì chùa Quang Minh tuyên bố lý do. Thầy trình bày rõ lý do tại sao có buổi lễ cầu siêu trên tàu ngày hôm nay. Thầy nói, ông Robert, ( thường gọi tắt tên ông là Bob ) ông đã quy y thọ giới theo Phật giáo từ lâu, có pháp danh là Minh Phúc. Trước kia, ông đã có một đời sống ở trong quân ngũ phục vụ trong ngành binh chủng hải quân và ông lại là một tay thủy thủ lái tàu rất tài giỏi.

Sau khi giải ngũ về hưu, nhất là ở tuổi xế chiều, ông thường đến chùa Quang Minh để làm công quả. Ông vui tính rất dễ thương mến. Gặp ai ông cũng said helo chào hỏi. Khi vào chùa, ông làm tất cả mọi việc, không từ nan bất cứ việc gì. Tùy theo sức khỏe và khả năng của ông. Người ta thường thấy ông hay lau chùi ở bên hong?? chánh điện. Từ đó, ông trở thành một người rất quen thuộc đối với quý Phật tử thường tới lui sinh hoạt ở chùa.

Được biết, ông không có con đông. Nghe đâu, ông chỉ có một người con gái hiện ở Sydney. Ông có một tâm nguyện là sau khi ông mất, thì số tiền của ông dành dụm được, một phần, ông sẽ hiến tặng cho những cơ quan từ thiện để cứu giúp người. Và số còn lại, theo sự di chúc của ông với luật sư, thì ông sẽ nhờ thầy thuê tàu và đem tro cốt của ông rải xuống biển. Vì nửa phần đời của ông, ông thường sống rày đây mai đó trên biển cả. Lúc sống thì ông là người bạn chí thân gắn liền với nước và sau khi chết ông cũng muốn gần gũi làm bạn thân với nước. Và đồng thời, ông cũng muốn có một buổi lễ cầu siêu cho ông và cúng dường trai tăng ở trên tàu. Đó là lý do đơn giản, mà có ra buổi lễ ngày hôm nay.

Sau lời tuyên bố ngắn gọn của T.T, Thích Phước Tấn, tiếp theo, là khóa lễ cầu siêu. Dù chiếc tàu đã ngừng lại hẳn để cho mọi người dễ hành lễ, nhưng nó không chịu đứng yên cứ mãi lắc lư chồng chềnh, làm cho mọi người ngã tới ngã lui như người đang say rượu. Thì ra, đến giờ phút này, tôi mới hiểu rõ tại sao có buổi lễ cầu siêu và trai tăng trên tàu. Tuy có chút cảm động, nhưng rất tràn đầy thú vị của một buổi lễ giữa trời nước bao la. Và đây, cũng là cơ hội tốt để mọi người hưởng một không khí rất trong lành mát mẻ, do thiên nhiên ban cho.

Sau khóa lễ cầu siêu ngắn gọn là đến phần cúng vong. Cúng vong xong là đến phần trai tăng. Cô Tâm Hải thay mặt tang quyến đứng ra làm lễ tác bạch cúng dường. Dù không phải làm lễ tại chùa như những buổi trai tăng thường lệ, nhưng buổi lễ trai tăng ở trong tàu hôm nay, thức ăn để cúng dường trai phạn cho Tăng Ni, thật cũng không kém gì ở chùa. Cũng có nhiều món ăn, do ban trù đường Quang Minh chuẩn bị khá chu đáo. Thật là một khung cảnh và không khí rất là kỳ đặc tuyệt vời. Nhìn thấy khung cảnh đặc biệt này, tôi ngẫu hứng làm bài thơ ghi lại để kỷ niệm:

 

Trời trong nắng ấm biển bao la

Buổi lễ cầu siêu đã diễn ra

Trên tàu Tăng chúng Kinh cầu nguyện

Nguyện cầu Minh Phúc thượng liên hoa.

 

Phật tử tâm thành rất thiết tha

Hiệp lòng cung kính niệm Di Đà

Cúng dường trai phạn trên tàu lắc

Ngồi đứng chồng chềnh vẫn thiết tha.

 

Nguyện cầu Minh Phúc chóng thoát qua

Sinh tử từ đây vượt ái hà

Về miền Cực lạc vui tròn nguyện

Kính chúc ông mau thượng liên tòa

 

Tro cốt nằm yên biển bao la

Đời ông với biển nặng thiết tha

Biển tình thôi dứt xong an phận

Dục thoát Ta bà nỗi khổ đa!

Thọ trai xong, tàu trở về bến cũ. Đoàn người lặng lẽ bước lên bờ. Nhìn ngắm cảnh trời nước bao la, lòng tôi như trải rộng chan hòa cùng nhịp thở với không gian. Đời người rốt lại cũng chỉ là một đống tro tàn lạnh tanh. Giờ này, tro cốt của Phật tử Minh Phúc ( Bob ) đã hòa tan chìm sâu vào lòng đáy biển. Dù tro cốt của ông đã trả về cho tứ đại, nhưng dòng sống của ông vẫn tiếp diễn muôn đời. Đưa tiển linh cốt của ông ra biển, tôi cảm nghe lòng mình như chùn xuống và tự hỏi, mình và biển có khác gì nhau không? Biển là mình hay mình là biển?

Thân xác hình hài mà mình đang mang đây, cũng từ tứ đại, tức bốn yếu tố: đất, nước, gió, lửa tạo thành. Đủ duyên thì hội tụ, có mặt với đời một thời gian, hết duyên thì tan rã. Thân này, có khác gì là bọt nước, tụ tán bất thường. Đã là bọt nước, thì có ai tài gì mà gìn giữ cho nó khỏi tan. Tan hợp là chuyện của bọt biển. Tại sao mình khờ dại nhận bọt cho là mình mà mình lại quên mất cái biển nước bao la kia. Có phải mình ngu ngơ khờ dại lắm không? Cứ nhận thân này là mình, phải trái hơn thua tranh chấp nhau quyết liệt, cuối cùng, mình là cái gì? Và những cái tranh chấp hơn thua phải trái kia bây giờ nó ở đâu? Nó có tồn tại với mình không? Mình là cái gì? Quả chúng ta từ lâu đã quên mất đi cái thể tánh chân thật mà lại cứ nhận thân này cho là mình. Có khác nào nhận bọt biển có một chút xíu mà quên đi cái biển nước bao la.

Biết rõ 4 chất đó không phải là mình, như thân của ông Bob làm công quả cho chùa, giờ đây có ai nhìn thấy cái thân đó nữa hay không? Nhưng ông Bob có thực sự mất hẳn không? Với cái nhìn bằng tuệ giác của đạo Phật, thì ông Bob thật sự không mất. Không mất vậy thì ông Bob đi đâu và đang ở đâu? Ông Bob không đi đâu cả. Ông Bob tùy duyên mà tiếp nối biến dạng biểu hiện với một hình thức khác. Vì ông Bob là một dòng sống luân lưu bất tận, không đến cũng không đi, không sinh cũng không diệt. Bóng đèn sài lâu bị đứt, nhưng dòng điện nào có mất đi đâu. Nhưng có ai khờ dại lại hỏi, điện ơi! giờ này mầy đang ở đâu? Mầy trốn ở nơi nào hãy ra trình diện cho tao biết.

Thật là một câu hỏi quá ngớ ngẩn. Ngớ ngẩn đến độ không còn gì để nói. Tại sao ta phải cứ kẹt cái nhìn ở nơi hữu tướng mà không thấy được cái lẽ thật vô tướng. Cứ dính mắc vào đám mây, khi mây tan thì ta cho rằng là mây mất dạng, mà ta không thấy được những hạt mưa biến dạng của mây. Hạt mưa là sự tiếp nối của mây. Vậy thì mây có mất đi đâu. Hạt mưa tiếp nối để đủ duyên sinh thành những thứ khác. Hiểu thế, là ta đã có một tuệ giác và trực diện với sự sống chết. Hiểu thế để chi?

Xin hãy để cho tâm hồn mình trải rộng và phẳng lì êm ả như mặt biển kia đi. Đừng tạo thêm sóng gió cho mình và cho mọi người phải chìm ngập trong biển đời đầy tang thương hệ lụy này nữa. Vì cuộc đời vốn dĩ đã có quá nhiều đau khổ. Ta không nên tạo thêm và mãi gây đau khổ cho nhau.

Vâng! bạn cứ hãy nhìn ông Minh Phúc đã thật sự trải rộng lòng như mặt biển và ông đã khéo sống khoảng đời còn lại của ông cũng êm ả cũng tươi mát cũng thắm đượm tình người trong dòng máu cùng đỏ và trong biển nước cùng mặn. Chúng ta không mất đi đâu hết ông Bob của tôi ơi! Tôi biết rằng, ông đang ôm lấy chúng tôi trong vòng tay yêu thương của ông và rồi ông sẽ nở một nụ cười tươi vui trong khung trời chánh pháp bất diệt có ông và tôi.

 

 

Chung quanh vấn đề giáo dục con cái

 

Ngày nay, nhìn chung mối quan tâm lớn nhứt được đặt lên hàng đầu của các bậc phụ huynh, đó là vấn đề giáo dục con cái. Hiện trạng nầy, đã và đang được các nhà giáo dục Việt Nam khắp nơi trên thế giới nói chung, Úc Châu nói riêng, tất cả đều có cùng một nhịp độ ưu tư như nhau và họ không ngừng cố gắng tìm mọi phương cách hướng dẫn các bậc làm cha mẹ biết cách dạy dỗ con cái của mình qua sự hướng dẫn trực tiếp hay bằng phương tiện truyền thông gián tiếp sách báo v.v… Riêng tại Úc, trong những năm qua, Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục tại Victoria có tổ chức những buổi hội thảo thuyết trình, nhằm tạo mối thông cảm giữa các nhà có trách nhiệm giáo dục cùng với các bậc cha mẹ hầu tìm ra một giải pháp thỏa đáng thích nghi trong việc điều hướng giáo dưỡng con cái.

Điều mà làm cho các bậc cha mẹ phải chịu nhiều đau khổ lo sợ trăn trở nhứt, là có nhiều con em của họ bỏ nhà đi hoang, sống lang thang bụi đời, gây ra nhiều tội phạm. Hằng ngày đã xảy ra nhiều vụ phạm pháp gây ra tình trạng bất an cho gia đình và xã hội. Đây là một vấn nạn to lớn thật vô cùng nan giải khắp nơi trên thế giới. Hằng ngày, báo chí đã đăng tải nhiều tin tức liên quan đến giới trẻ nổi loạn gây ra nhiều vụ phạm pháp như: băng đảng, hút chích xì ke ma túy, buôn lậu á phiện, trộm cắp, cướp của, hiếp dâm, giết người v.v…Thật không thể nào thống kê hết được. Nguyên nhân do đâu? Đây là một câu hỏi, thật khó mà trả lời cho chính xác. Nhưng theo các nhà chuyên nghiên cứu về giáo dục giới trẻ, tuy họ có nêu ra nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính yếu vẫn là phát sinh từ căn bản mấu chốt của gia đình. Điều nầy, thiết nghĩ, các bậc làm cha mẹ chúng ta cũng nên tự tra vấn kỹ lại qua những ý nghĩ, ngôn ngữ và hành động của chính mình.

Dựa trên ý hướng căn bản xây dựng tình người, mà trước hết là tình thân thuộc trong gia đình, chúng tôi xin được nêu ra một vài ý kiến thô thiển, hầu để chia sẻ tâm tình cùng với các bậc phụ huynh trong vấn đề giáo dục con cái. Chúng tôi vẫn biết, đây là một vấn đề rất quan yếu và thật hết sức khó khăn, mà chúng tôi không phải là một nhà giáo dục chuyên môn có kiến thức thực dụng nhiều kinh nghiệm trong vấn đề nầy. Thế mà, hôm nay chúng tôi lại nêu ra vấn đề nầy để lạm bàn, thì quả thật, tôi là kẻ chẳng biết tự lượng sức mình, dám đem trống đánh trước cửa nhà sấm, hay múa rìu qua mắt thợ. Tuy nhiên, vì muốn trang trải biểu lộ chút tấm lòng thành xây dựng, qua những gì mắt thấy tai nghe trong phạm vi hiểu biết cạn cợt hạn hẹp của mình, mong được đóng góp một chút gì đó để chia sẻ tâm tình cùng với các bậc làm cha mẹ hơn là mang tâm trạng của kẻ có cái cao vọng lên mặt dạy đời. Chúng tôi xin được lặp lại, bài viết nầy mang tính cách tâm tình chia sẻ xây dựng, hơn là một bài có tính cách phân tích nghiên cứu. Kính mong quý độc giả, nhất là các bậc phụ huynh xin lượng tình thứ lỗi, nếu có điều gì sai trái mà không được vừa lòng quý vị. Mong tất cả hãy niệm tình thứ lỗi bỏ qua cho. Xin chân thành cám ơn quý vị trước.

I. Thử đặt lại vấn đề bổn phận làm cha mẹ.

Thật tình mà nói, có khi nào chúng ta tự hỏi và tự kiểm điểm lại mình, rằng mình đã thiết thực sống trọn vẹn cho con và đã thật sự hết lòng vì con chưa? Và cách nhìn cũng như sự điều hướng giáo dưỡng con cái của chúng ta có thực sự phù hợp thích nghi với hoàn cảnh xã hội của nước Úc đa văn hóa nầy không? Theo thiển nghĩ của chúng tôi, thì đó là hai vấn đề then chốt của những bậc làm cha mẹ mà chúng ta cần phải suy nghiệm minh định đặt lại.

1. Vấn đề thứ nhứt là tất cả cho con và vì con.

Thực ra, tâm trạng của bất cứ người làm cha mẹ nào, ngay từ buổi đầu, cũng đều có chung một tâm trạng đó. Bởi vì hơn ai hết, tận bản chất của người Việt Nam chúng ta, vốn đã hấp thụ bởi những chất liệu giáo dưỡng hun đúc của một nền văn hóa lấy đạo đức nhân bản làm nền, đặt tình người lên trên mọi thứ tình khác. Do đó, nên trong dòng máu của người mẹ là đã có dòng máu của đứa con, hay ngược lại cũng thế. Bởi vậy, nên tình mẹ con là một thứ tình yêu thương thiêng liêng cao cả bất khả phân ly.

Theo truyền thống văn hóa đạo đức của dân tộc ta, hẳn không ai có thể phủ nhận được điều đó. Tuy nhiên, khi sang định cư ở Úc, phần vì lo việc mưu sinh cho gia đình ở đây, cũng như sự lo lắng cấp dưỡng cho những thân nhân ruột thịt ở quê nhà; phần vì phải lo thích nghi với cuộc sống mới có những khó khăn, do đó, ai cũng phải nỗ lực chịu khó cần cù làm việc để kiếm sống, mong tạo dựng lại cuộc sống hạnh phúc cho gia đình. Chính vì muốn làm việc kiếm nhiều tiền để trang trải mọi chi phí đó, cho nên trách nhiệm bổn phận làm cha mẹ của chúng ta có phần nào xao lãng hay thờ ơ với con cái.

Có nhiều phụ huynh, suốt tuần, ít khi gặp mặt con. Tất cả thời giờ dồn hết cho việc mưu sinh, thời giờ còn lại, khi buông công việc ra, là tìm chỗ nghỉ ngơi tịnh dưỡng cho khỏe, để lấy sức chuẩn bị đi “cày” tiếp. Có người cày ngày không đủ, tranh thủ cày đêm. Thế thì, thử hỏi, còn thời giờ đâu mà gần gũi lân la chuyện trò thân thiết với con. Từ đó, tạo thành một khoảng cách giữa cha mẹ và con cái. Do đó, mà dường như chúng ta đã quên bẳng đi cái trọng trách chính yếu của chúng ta. Rồi cũng từ đó, tình yêu thương gắn bó trong gia đình, đã đâm ra lỏng lẻo. Chúng ta ít quan tâm theo dõi con cái, mà nếu có, thì cũng chiếu cho có lệ mà thôi. Khi buông thả chúng như vậy, chúng cảm thấy như mất đi cái tình yêu thương nồng nàn ấm áp của cha mẹ dành cho chúng. Chúng mặc cảm tự nghĩ, tuy còn cha mẹ song toàn, nhưng chúng không được cái diễm phúc được sự quan tâm yêu thương lo lắng của cha mẹ. Từ đó, chúng có mặc cảm là mình đã bị cha mẹ bỏ rơi!

Song song với vấn đề đó, lại có những gia đình mà cha mẹ lại hay bất hòa thường xuyên cãi vã với nhau. Bầu không khí trong gia đình càng lúc càng trở nên căng thẳng nặng trĩu nghẹt thở. Vì thiếu sự hòa kính yêu thương, tìm hiểu, cảm thông nhau, nên rồi đưa đến tình trạng ly thân, ly dị với nhau. Theo kiểu: “đường anh, anh đi, đường em, em đi, tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi”! Đành rằng, tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi, nhưng hậu quả là những đứa con ngây thơ khờ dại kia, chúng phải gánh chịu những chuỗi ngày dài đau khổ bất hạnh sau nầy. Đó là chưa nói đến cái cảnh nhậu nhẹt say sưa, bài bạc trong gia đình. Có nhiều phụ huynh ghiền bài bạc, thường hay vào casino để vui chơi. Họ bỏ phế không quan tâm gì đến con cái, phó mặc chúng làm chi thì làm. Theo quan niệm của họ cho rằng, mỗi người có cuộc sống riêng và cần phải thụ hưởng. Thậm chí, việc học hành của các con như thế nào, họ cũng không cần quan tâm để ý đến. Đời sống phóng thể buông trôi của cha mẹ như thế, thử hỏi làm sao mà họ có thể giáo dục con cái của họ cho được?

Thế thì, chúng ta hãy tự tra vấn lại lương tâm của chúng ta, rằng, chúng ta có thực sự hy sinh sống trọn vẹn cho con và vì con chưa? Hay là chúng ta vẫn còn sống ích kỷ cho cái tư ngã, tư dục, tư cầu, tư lợi cho riêng mình? Nếu chưa được như vậy, thì chúng ta cũng đừng vội trách và đổ trút hết mọi tội lỗi lên đầu con cái của chúng ta. Người xưa thường nói: “Tiên trách kỷ, hậu trách bỉ”. Nghĩa là, trước hết, chúng ta hãy mạnh dạn thành thật nhìn lại với chính mình, xem mình có thực sự quan tâm lo lắng, yêu thương hết dạ đối với con mình chưa? Và mình đã thực sự làm tròn cái trọng trách làm cha làm mẹ của mình chưa? Đó là những vấn đề mà thiết nghĩ, chúng ta cần nên quán chiếu lại thật kỹ ở nơi chính mình.

Vì thiếu sự tìm hiểu thiết lập truyền thông cảm thông nhau, nên đưa đến tình trạng giữa cha mẹ và con cái có sự xung đột mâu thuẫn bất hòa với nhau một cách rất trầm trọng. Thậm chí sống chung trong một nhà mà không ai nói chuyện với ai. Mỗi người là một ốc đảo khép kín. Bao nhiêu uất ức dồn chứa vào trong tâm thức nặng trĩu, lâu ngày tạo thành một khối nội kết ung nhọt thật khủng khiếp đáng sợ. Một sự mâu thuẫn đến đổi thật khó mà hòa giải hàn gắn lại với nhau. Phần cha mẹ, thì lấy trách nhiệm quyền hạn của mình ra, mà la rầy trách phạt chửi mắng chúng. Tức nước phải vỡ bờ, chúng không còn chịu đựng được nữa, nên đành phải bỏ nhà ra đi. Đây cũng là một thói quen của các bậc làm cha mẹ khi còn ở Việt Nam. Theo kiểu:

Thương con cho roi cho vọt

Ghét con cho ngọt cho bùi.

Phần chúng, một phần, vì ảnh hưởng lối giáo dục đề cao chủ nghĩa cá nhân ở đây quá mức; một phần, vì chúng bị nhiều áp lực bên ngoài xã hội, nhà trường, bạn bè v.v…đè nặng lên tâm hồn ngây thơ non dại của chúng. Từ đó, tạo thành một áp lực rất nặng nề giữa cha mẹ và con cái gây nên mối xung đột căng thẳng với nhau. Có nhiều em, vì quá buồn chán cảnh gia đình xào xáo mất hạnh phúc, muốn ra ngoài tìm nơi giải trí cho khuây khỏa. Trong lúc buồn chán đi lang thang như kẻ bụi đời, không may lại gặp những bạn bè xấu xa đê tiện cám dỗ rũ rê. Từ đó, các em bắt đầu bước chân vào con đường trụy lạc sa đọa, phạm pháp.

Có nhiều em tìm đủ mọi cách lường gạt qua mặt cha mẹ. Cha mẹ cứ tưởng là các con của mình đến trường chăm chỉ học hành đàng hoàng. Vì không quan tâm đến sự học hành của chúng, nên cha mẹ không thường xuyên hợp tác với nhà trường. Những buổi họp mặt phụ huynh do nhà trường gởi thơ mời, cha mẹ cũng không đến dự. Cứ đinh ninh con mình chăm chỉ ngoan ngoãn lo học hành. Nhưng họ đâu có ngờ rằng, chúng chỉ đến trường cho có lệ, rồi bỏ học trốn đi chơi. Đến khi vỡ lẽ biết được, thì ôi thôi đã quá muộn màng rồi! Chúng nó đã thực sự lặm vào con đường nghiện ngập hút xách, mà không còn phương cách nào cứu vãn được nữa. Chừng đó, cha mẹ chỉ còn có nước ngước mặt lên trời mà dặm cẳng khóc than kêu trời. Nhưng trời thì cao quá làm sao cứu được các con của họ đây?! Đó là hậu quả tai hại rất lớn mà hiện nay trong cộng đồng Việt Nam chúng ta đã và đang phải gánh chịu.

Chúng tôi được biết, một gia đình người Việt có hai đứa con trai đang học trung học. Ông chồng thì thích nhậu nhẹt say sưa bài bạc. Cuối tuần, gia đình hay tổ chức tiệc tùng mời bạn bè về nhà ăn uống và đánh bài. Khi uống say quá chén thì không sao tránh khỏi cái cảnh lớn tiếng cãi vã với nhau. Họ thốt ra toàn là những lời lẽ dao búa khó nghe. Dĩ nhiên, giữa ông chồng và bà vợ đã có sự bất hòa với nhau. Nhưng người vợ thì nhẫn nhịn chịu đựng, vì bà quá thương hai đứa con, nên cố nhịn chồng cho qua chuyện. Nhưng việc gì cũng phải có giới hạn. Cho đến một hôm, bà không còn nhịn nhục chịu đựng được nữa, thế là hai vợ chồng xảy ra chuyện cãi vã ấu đả với nhau. Và rồi đưa đến tình trạng ly thân, ly dị. Phần hai đứa con, nhìn thấy cảnh gia đình như thế, nên chúng không còn thiết tha trong việc học hành nữa. Và từ đó, chúng bỏ học theo bạn bè đi chơi lêu lỏng và cuối cùng, cũng bỏ nhà đi luôn.

Lại một trường hợp khác, hai vợ chồng người Việt cũng có hai đứa con trai đang học trung học. Hai vợ chồng lãnh đồ về nhà may. Hai người cứ lo cặm cụi ngày đêm làm kiếm tiền, ít khi quan tâm đến sự học hành của con cái. Chúng học hành như thế nào họ cũng không cần tìm hiểu biết đến. Họ giao khoáng hết cho nhà trường lo. Hai vợ chồng cứ đinh ninh tưởng rằng con mình siêng năng lo chăm chỉ học hành. Nào ngờ, khi nhận giấy báo của nhà trường là chúng luôn trốn học đi chơi. Cứ sáng chúng mang cặp đi, chiều chúng mang cặp về. Nhưng mang cặp để qua mắt phỉnh lừa cha mẹ, chớ chúng nào có học hành chi đâu!

Bấy giờ, khi vỡ lẽ ra, hai vợ chồng mới biết là con mình đã nghiện ngập xì ke ma túy và rồi chúng đi bán để kiếm tiền hút xách. Không phải chỉ một đứa mà cả hai anh em đều vướng hết. Lúc đó, người mẹ như điên cuồng và không bao lâu phải đưa bà ta vào bệnh viện tâm thần để điều trị. Còn người chồng thì lớp lo cho con, rồi còn phải lo cho bà vợ, thét rồi anh ta như người không hồn, gầy ốm xanh xao, vì mất ăn mất ngủ. Thật là một tâm trạng, một hoàn cảnh quá bi thương đau khổ ngút ngàn. Bởi do lúc đầu cha mẹ không quan tâm đến, cứ mải miết lo làm kiếm tiền, cuối cùng phải lãnh lấy một hậu quả rất là bi đát thê thảm như thế.

2. Vấn đề thứ hai, cách nhìn cũng như sự điều hướng giáo dưỡng con cái của chúng ta có thực sự phù hợp thích nghi với hoàn cảnh xã hội của nước Úc đa văn hóa nầy không?

Trả lời xong câu hỏi nầy, tất nhiên là chúng ta đã san bằng được một phần của cái hố sâu dị biệt khó khăn trong việc điều hướng dạy dỗ con cái. Thường chúng ta hay mắc phải chứng bệnh: “cố chấp, bảo thủ”. Từ đó, nó sanh ra cái tệ nạn độc đoán, áp đảo con cái. Cho chúng nó là sản phẩm của chúng ta, nên chúng ta có quyền bắt cái sản phẩm đó phải chìều theo cái ý muốn của ta. Nếu ngược lại, thì chúng ta lên án kết tội chúng nó gắt gao. Bắt buộc chúng nó cái gì cũng phải giống mình, nếu khác đi, thì cho chúng nó là đồ mất dạy, hư thân, mất nết, vô dụng, hết xài v.v… Từ đó, việc xung đột bất hòa giữa cha mẹ và con cái trở thành một hố sâu ngăn cách rất lớn.

Cái lối giáo dục đó, đối với xã hội hiện tại, thật không còn phù hợp nữa. Bởi vì cách nghĩ và lối sống của chúng ta nó thuộc về quá khứ xa xưa rồi. Chúng ta đừng quên rằng, trào lưu tư tưởng của nhơn loại luôn luôn tiến bộ phát triển không ngừng. Nếu chúng ta bắt buộc con cái của chúng ta sống theo cách sống nếp nghĩ của mình, thì vô tình chúng ta lại kéo chúng trở về hằng mấy chục năm về trước. Đó là lạc hậu, là lỗi thời. Lẽ ra, chúng ta cần phải khuyến khích chúng học hỏi những điều hay mới lạ, theo kịp đà văn minh tiến bộ của nhơn loại. Nếu không được như thế, thì chúng ta cũng đừng ngăn chận bước tiến của chúng.

Do đó, theo chúng tôi, thì trong việc điều hướng giáo dục con cái, chúng ta phải luôn luôn mở rộng tâm thức. Phải khéo biết uyển chuyển linh động tùy thời, tùy cảnh, đừng bắt buộc chúng phải làm theo ý mình. Nhưng sự tùy thời nầy, không có nghĩa là chúng ta buông trôi phó mặc. Sự buông thả phó mặc, đó là thái độ thiếu trách nhiệm bổn phận của chúng ta. Chúng ta lúc nào cũng phải quan tâm theo dõi chúng. Nhưng quan tâm theo dõi như thế nào? Có phải là chúng ta luôn tìm cách bám sát theo dõi chúng nó không? Điều nầy, hẳn nhiên là không phải như thế. Bám sát theo dõi chúng nó như thế, coi chừng việc làm nầy chẳng những không có kết quả như ý mình muốn, mà trái lại nó còn phản tác dụng và không khéo sẽ mất luôn đứa con. Vì chúng nó sẽ không thể nào chịu nổi cái hành động của cha mẹ làm như thế. Chúng nó có lòng tự trọng tự ái của chúng. Đừng bao giờ hành động như mật vụ công an theo dõi.

Như trên, chúng tôi đã nói, chúng ta phải khéo biết uyển chuyển linh động thích nghi từng lứa tuổi, đồng thời cũng phải thích nghi từng hoàn cảnh môi trường mà chúng ta đang sinh sống. Nếu chúng ta cố chấp theo định kiến một chiều, thì rất khó có sự cảm thông với nhau. Hai thái độ: nuông chìu hay kềm kẹp thái quá, hoặc là phó mặc thờ ơ, cả hai đều đưa đến hậu quả không tốt đẹp.

Vì kềm kẹp thái quá, nên chúng ta luôn luôn để tâm kiểm soát gắt gao. Vì sợ con hư hỏng, nên chúng ta luôn theo dõi sát cánh. Thậm chí, chúng xin đi đâu chúng ta cũng không cho. Chúng ta lấy quyền làm cha làm mẹ, la rầy cấm đoán chúng đủ điều. Chúng cảm thấy, sống trong một xã hội tự do, mà riêng chúng như bị nhốt giam hãm trong ngục tù. Đây là vì quá thương con, sợ con hư hỏng, mà vô tình chúng ta đã làm cho chúng trở lại ôm lòng oán hận thù ghét chúng ta. Đó là điều mà ta cần nên tránh. Nếu không khéo ta sẽ phạm phải một lỗi lầm là thương con mà trở lại hại con.

Ngược lại, nếu như chúng ta quá thờ ơ hay phó mặc, chúng làm chi thì làm, ta không cần quan tâm đếm xỉa tới, thì đây cũng là một tai hại. Thái độ nầy, chúng ta thiếu trách nhiệm và giao khoáng con cái chúng ta cho nhà trường. Chúng làm gì chúng ta không cần biết đến, nên hư do chúng quyết định lấy. Với cái tuổi còn ngây thơ khờ dại, thử hỏi làm sao chúng có thể quyết định được cuộc đời của chúng? Chúng rất cần được sự hướng dẫn chỉ dạy của cha mẹ. Trong khi đó, thì cha mẹ lại không ngó ngàng để ý gì đến chúng. Chúng ta nên biết rằng, khi đi học hoặc giao tiếp bạn bè, có đôi khi chúng nó chịu nhiều áp lực của nhà trường, của những bạn bè xấu ác gây nên. Do đó, chúng ta cần phải thường xuyên quan tâm theo dõi. Theo dõi để chia sẻ, để cảm thông để tìm phương cách an ủi xoa dịu chúng. Nếu không, thì chúng sẽ có nhiều nỗi lo âu sợ hãi mà chúng ta không hề hay biết.

Tóm lại, người xưa nói, muốn giáo dục người, trước hết phải tự giáo dục mình. Cha mẹ phải làm gương mẫu cho con cái. Nếu bạn khuyên con bạn không nên hút xách, bài bạc, rượu chè say sưa v.v… thì trước hết, chính bạn phải thực hiện những điều nầy. Bởi cha mẹ là tấm gương phản chiếu trực tiếp vào tâm thức của con cái. Nếu mình khuyên bảo chúng nó nên làm thế nầy, thế kia, trong khi đó mình lại làm hoàn toàn ngược lại. Như thế, thì thử hỏi làm sao chúng nó có thể kính phục nghe theo lời mình dạy. Vì đó là một nghịch lý tương phản không thể nào chúng chấp nhận được.

Muốn xây dựng hạnh phúc gia đình, thì đó là trách nhiệm lớn lao của cha mẹ. Nếu cha mẹ có hòa kính thương yêu nhau, khéo biết cư xử nhường nhịn tốt đẹp hạnh phúc với nhau, thì thiết nghĩ, bạn không cần phải dùng lời lẽ răn dạy chúng nó nhiều, mà chính hành động việc làm của bạn đã nhắc nhở răn dạy chúng nó rồi. Do đó, nếu bạn là người Phật tử, thì Đức Phật dạy mỗi người nên áp dụng năm nguyên tắc đạo đức căn bản của người Phật tử (tức 5 giới cấm của người Phật tử tại gia) để xây dựng hạnh phúc gia đình.

Năm nguyên tắc đạo đức nầy còn gọi là năm Nguyên Tắc Thực Hành Tỉnh Thức. Đây là kim chỉ nam để bạn thiết lập mối quan hệ gia đình trong sự hòa hợp, thương yêu, truyền thông tương kính lẫn nhau. Ngoài năm nguyên tắc căn bản đạo đức nầy ra, không còn cách nào khác mà bạn có thể mang lại nguồn hạnh phúc yêu thương chân, thiện, mỹ cho bản thân và gia đình của bạn. Nếu mỗi cá nhân trong gia đình, ai ai cũng thật hành giữ gìn năm nguyên tắc đạo đức căn bản Phật dạy nầy, thì chắc chắn đảm bảo gia đình của bạn sẽ là một gia đình lý tưởng cao đẹp êm ấm hạnh phúc nhứt trong cuộc đời nầy. Và từ đó, sẽ làm nền tảng xây dựng hạnh phúc chung cho xã hội và rộng ra là cho cả thế giới nhơn loại đều chung sống trong cảnh thái bình an lạc vậy.

 

  Độc Tố

Sống giữa một thế giới đầy biến loạn, hận thù, tranh chấp. Con người mãi sống trong sự phập phồng lo sợ từng giây phút. Ngoài việc lo mưu sinh vật lộn với đời, giành giựt hơn thua nhau từng miếng ăn lời nói. Con người còn biết bao nhiêu nỗi ưu tư khác. Động cơ gây ra những biến loạn và cuộc sống đảo lộn rối bời hiện nay, tất cả cũng chỉ vì tham, sân, si mà ra. Đây là ba thứ độc tố mà con người đã bị thâm nhiễm từ lâu. Vì tham lam quá độ, muốn chiếm hữu cả thế giới về mình. Tham không được như ý muốn, không thỏa mãn lòng dục vọng, thì nổi sân. Khi đã nổi sân hận, thì con người bất chấp mọi thủ đoạn, chế tạo nhiều loại vũ khí tinh vi ác độc để tàn hại lẫn nhau. Lớn thì như thế, nhỏ thì cá nhân với cá nhân, đoàn thể với đoàn thể, tranh chấp, ấu đả, chém giết nhau. Hiện trạng nầy đã và đang xảy ra hằng ngày, không nơi nào là không có. Ngày nào ba thứ độc tố nầy, còn hung hãn, tác oai, tác quái, thì ngày ấy con người vẫn mãi sống trong nỗi lo âu sợ hãi và đau khổ ngút ngàn.

Nhìn theo lý duyên sinh Phật nói, thì không một ai thoát khỏi cọng nghiệp. Cái cọng nghiệp của nhơn loại ngày nay, đã và đang bị nhiễm độc đủ mọi thứ. Từ những thực phẩm cho đến môi sinh. Không một thứ nào không ngầm chứa độc tố. Những thứ độc tố nầy từ đâu mà có? Phải chăng cũng do xuất phát từ cái nhân chính là: ba thứ độc tố căn bản: tham, sân, si, trong mỗi con người mà ra. Xin đơn cử một thí dụ điển hình. Như nước mưa ngày xưa là một loại tương đối tinh khiết. Người ta dùng nó rất nhiều. Nhưng bây giờ nó không còn tinh khiết nữa rồi. Bởi con người tạo ra quá nhiều thứ hóa chất, thảy ra biết bao nhiêu lượng khí dơ bẩn, độc hại, tưởng đâu không liên hệ đến sự sống con người. Sự sống con người, đâu phải chỉ có ăn, mặc ở không thôi, mà điều quan trọng nhứt là hít thở không khí. Nếu không khí trong lành tươi mát, thì con người hít thở cảm thấy khỏe khoắn. Ngược lại, không khí bị ô nhiễm, thì sẽ gây ra nhiều thứ bệnh tật. Cuộc sống của con người là một sự liên hệ chằng chịt. Một người gây ra nhân xấu, có thể gây ảnh hưởng không tốt cho biết bao nhiêu người chung quanh.

Rồi đến những thứ ẩm thực hằng ngày, những nhà chế tạo sản xuất thức ăn, thức uống, vì lòng tham vọng muốn làm giàu, ai chết mặc ai, tạo ra nhiều thứ hóa chất độc hại. Người tiêu thụ, đâu cần biết đến sự tai hại của nó, nhưng dẫu có biết, thì vì nhu cầu của sự sống, cứ mua lấy mà dùng, tới đâu hay đó. Sự tích lũy ngấm ngầm của những thứ độc tố nầy rất là tai hại. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh nan y. Các nhà y học, hay các khoa học gia đôi khi phải bó tay trước những căn bệnh hiểm nghèo, không tìm ra được nguyên nhân chữa trị. Đó là một hậu quả lắm tang thương mà ngày nay nhơn loại đang hứng chịu.

Từ đó suy ra, ngày nay con người luôn sống trong sự đe dọa của tử thần. Nguyên nhân đó do đâu? Chính do con người tạo ra những độc tố tàn hại lại con người. Giống như sắt sanh ra sét và chính chất sét ấy trở lại tiêu hình của sắt. Cho nên, khoa học dù nhìn dưới dạng thức nào, nó cũng là con dao hai lưỡi. Lợi và hại luôn luôn tương phản tác dụng ảnh hưởng nhau. Suy gẫm kỹ, kiếp sống của con người có bao nhiêu năm. Nói năm tháng là nói thời gian hơi kéo dài một chút. Bởi vốn dĩ con người quá sợ chết. Một mặt thì sợ chết, ham sống, mặt khác lại tạo ra toàn là những thứ giết người. Như thế có phải là mâu thuẫn lắm không? Nếu ai cũng nghĩ đến cái chết, thời gian sống quá ngắn ngủi, chỉ trong nháy mắt thôi, thì đừng gây thêm khổ đau cho nhau. Bởi khi chúng ta sinh ra đời không ai mang gì ra, đến khi nhắm nghiền khép kín đôi mắt lại cũng trả lại hết cho đời, không có ai mang gì theo. Của cải, tiền tài, danh vọng, địa vị bây giờ nó ở đâu? Hay nó chỉ là vang bóng một thời. Nó có trung thành theo mình không? Hay là nó đã qua tay người khác? Bấy giờ còn lại hai kẻ trung thành của mình nhứt, đó là nghiệp lành và nghiệp dữ mà thôi. Chính hai chú nầy mới là kẻ trung thành theo mình không rời một bước. Vì vậy, khi còn một hơi thở, ta phải cố gắng tạo nghiệp lành. Chuẩn bị cho khi nhắm mắt, ta còn có quả lành để hưởng.

 

Việc đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng làm chi?! Quả đúng với câu: “Nhắm mắt rồi cũng nắm tay không”. Nói nắm tay, chẳng qua là một cách nói. Thật ra khi chết có mấy ai nắm tay lại bao giờ? Khi mới mở mắt chào đời, thì hai tay nắm chặt lại. Đó là biểu hiện cho lòng tham, muốn nắm cả vũ trụ vào trong tay của mình. Nhưng tiếc thay! Thử hỏi con người nắm được bao lâu? Bạn có muốn nắm thật chặt đi chăng nữa, nhưng chắc gì nó ở mãi trong tay của bạn hoài. Bởi vốn dĩ nó là những thứ vô thường, sinh diệt, giả trá, tạm bợ. Hơn nữa, nó thuộc của 5 nhà: Hỏa gia, thủy gia, sung công gia, tặc gia và tử gia. Bạn cứ bình tâm chiêm nghiệm lại thật kỹ, có phải tất cả tài sản của mình tạo ra, nó có ở bền bỉ với mình hay không? Hay là nó luôn phản bội mình? Trong đời, có biết bao người, ăn không dám ăn, mặc không dám mặc, cắt ca cắt cõm chắt mót dành dụm từng đồng từng cắt. Muốn cho mình có tiền thật nhiều, nhưng một mai “bà hỏa” đến viếng thăm, thì ôi thôi! Bộ đồ còn không có mặc, nói chi đến những thứ khác. Cho nên, trong Kinh Đức Phật thường khuyên nhắc con người nói chung, Phật tử nói riêng, nên hằng nhớ đến “tài sản thuộc về năm nhà”ø. Tránh nhà nầy, cũng bị nhà kia cướp đoạt. Có lắm người đau khổ, vì nạn cướp của, có khi đến mất mạng cũng chỉ vì do có nhiều của cải. Người khác, thì lại bị chính đứa con ngỗ nghịch của mình nó phá tiêu tan gia sản. Như vậy, xét cho cùng, con người sống vì của cải, rồi cũng đau khổ hay chết cũng vì tiền tài của cải. Bởi thế, trong Kinh Phật nói chứa vàng bạc trong nhà như chứa rắn độc. Đã là rắn độc, nên nó cắn mình bất cứ lúc nào. Có người lo cất chứa tiền của cho nhiều, không nghĩ đến tu tạo phước đức, bạn bè khuyên bảo nên bố thí cúng dường, thì họ lại ngoảnh mặt làm ngơ. Vì tâm bỏn sẻn, keo kiết, đến khi bị nhơn tai hay thiên tai gây ra tiêu tan hết tài sản, bấy giờ họ mới ăn năn hối tiếc. Khi hối tiếc, họ thốt lên hai tiếng: “Phải dè”. Phải dè hồi đó mình lo tu tạo phước đức, thì bây giờ dẩu có tiêu hao hết đi, mình cũng còn có chút phòng thân để sau nầy mình hưởng. Hối tiếc, ân hận, đã muộn màng quá rồi! Khổng Tử nói: “Nhơn vô viễn lự, tắc hữu cận ưu”. Nghĩa là, người không biết lo xa, ắt có buồn gần. Phải chăng, đó cũng do độc tố tham, nên mới có hối tiếc. Nên Phật dạy người Phật tử cố gắng phá trừ bớt đi ba thứ độc tố nầy. Dù mình có đi chùa, làm phước nhiều, mà mình không đá động gì đến ba thứ nầy, cũng chưa xứng danh là người tu. Bởi tu là sửa. Đi chùa, bố thí, cúng dường, tuy được phước, nhưng chưa phải là người thật tu. Người thật tu, là hằng ngày phải cố gắng nhìn lại thật kỹ ở nơi mình để lo tảo thanh ba thứ độc tố căn bản nầy. Có lắm Phật tử đi chùa thật lâu năm, nhưng nhìn lại ba thứ nầy vẫn còn nguyên vẹn. Tệ hơn nữa, có người đi chùa lại tính theo thời gian lâu, mau. Đi càng lâu năm, thì mình lại tự hào cho rằng mình tu nhiều. Chưa phải thế đâu. Đi chùa, dù lâu năm, mà ba thứ nầy chưa đụng tới, thì Phật không có khen ngợi hay thương lắm đâu! Chẳng những không thương mà Phật Tổ còn quở trách, rằng, mình chưa biết tu hành gì cả. Người thật sự tu hành là phải lo dũa gọt bào mòn ba thứ nầy, cho đến ngày nào mà chúng nó không còn quậy phá nữa, thì chừng ấy mình mới được an nhàn giải thoát. Như thế, thì đời mình mới thật sự hết khổ.

Mong sao mỗi người tự ý thức nhớ lời Phật dạy, cố gắng nhìn lại mình từng giây phút để dẹp trừ ba thứ độc tố nầy.

 

 

Họa hay phúc

Đọc truyện cổ, cách nay khá lâu, tôi còn nhớ mang máng câu chuyện nói về “Tái Ông Thất Mã” nghĩa là ông già mất ngựa. Chuyện kể rằng: Trong làng nọ, có một cụ già, ông có một đứa con trai và nuôi một con ngựa. Con ngựa sắc lông rất đẹp. Con trai ông rất thích cỡi con ngựa đó.

Một hôm, con ngựa của ông sổng chuồng chạy mất. Con trai của ông rất buồn. Vì mất con ngựa để cỡi. Được tin ấy, người hàng xóm đến chia buồn cùng ông. Ông nói: “Sao mấy người biết tôi mất ngựa là họa mà đến chia buồn cùng tôi”. Thời gian không lâu, con ngựa của ông nó dẫn về thêm một con ngựa nữa. Con ngựa nầy vừa đẹp lại vừa hay. Được tin nầy, người hàng xóm cùng đến chia vui với ông. Ông nói: “Sao mấy người biết tôi có thêm con ngựa là phước mà đến chia vui cùng tôi”.


Được ngựa hay và đẹp, đứa con trai của ông rất thích cỡi. Ngày nào nó cũng thích cỡi ngựa cho chạy nhảy khắp nơi.


Một hôm, vì bất cẩn, nên nó bị té gãy hết một chân. Được tin, mọi người đến chia buồn cùng ông. Ông nói: “Sao mấy người biết con trai tôi bị gãy chân là họa mà đến chia buồn cùng tôi.

Chẳng bao lâu, trong nước có loạn, giặc giã nổi lên, lệnh truyền của vua là mọi thanh niên trong lứa tuổi con trai của ông đều phải nhập ngũ tùng quân giết giặc. Tất cả những thanh niên cùng trang tuổi con trai ông đều phải đi lính hết, chỉ có con trai của ông bị gãy một chân, nên được miễn dịch. Thế là, mọi người đến chia vui cùng ông…

Thú thật, khi xưa, đọc qua câu chuyện nầy, tôi không để tâm nghiền ngẫm. Vì thấy cũng chỉ là câu chuyện thường thôi. Có lẽ, lúc đó, trình độ hiểu biết của tôi chưa đủ để nhận xét tìm hiểu cái hay của cốt chuyện. Cho nên, tôi không mấy quan tâm đến. Nhưng càng lớn tuổi có thêm chút ít kinh nghiệm sống với đời và học hiểu lõm bõm chút ít giáo lý nhà Phật nói về họa phước, nên tôi nghiền ngẫm lại câu chuyện trên thấy hay hay. Do đó, nên hôm nay, tôi muốn kể lại để chia sẻ cùng với các bạn đọc. Nói hay mà hay ở điểm nào? Dĩ nhiên, mỗi người sẽ có cái nhìn khác nhau. Ở đây, tôi chỉ xin được trình bày theo chỗ nhận xét hiểu biết cạn cợt vụng về của tôi mà thôi. Nếu có gì không đúng, xin các bạn thương tình mà bỏ qua cho.

Thói thường, người ta nhìn sự vật theo một chiều. Phước là phước mà họa là họa. Ít ai nhìn thấy, trong phước có họa, trong họa có phước. Nói theo người đời là trong cái rủi, nó có cái may và ngược lại trong cái may, thì lại theo sau, nó có cái rủi. Nhìn vào một sự vật, nếu ta chỉ nhìn theo một chiều, đó là cái nhìn định kiến cục bộ. Đó là cái nhìn theo lăng kính đóng khung chủ quan của mình. Chính cái nhìn nầy, mà tự mình có nhiều nỗi khổ niềm đau. Ở đây, ta thấy, ông già có một cái nhìn rất sâu sắc. Cái nhìn của ông không hạn cuộc một chiều. Mà ông nhìn thấu suốt được hai mặt của một sự vật. Do có cái nhìn tương đối đó, nên ông rất bình tĩnh sáng suốt mà thốt lên những câu nói trên, khi mọi người đến chia sẻ buồn vui với ông.


Khi mất ngựa, ông không hốt hoảng lo sợ. Trong khi đó, thì những người khác thiếu cái nhìn bình tĩnh sáng suốt như ông, nên họ kéo nhau đến chia buồn cùng ông. Ở đời, tất cả mọi việc xảy đến, người ta ít khi chịu khó suy tư chín chắn. Gặp việc buồn bất như ý thì người ta đâm ra lo lắng sầu muộn. Người ta không biết rằng, mọi việc xảy đến với mình đều có nguyên nhân cả. Chẳng qua cái nguyên nhân xảy ra, vì nó quá xa mà ta không biết đó thôi.

Trên đời nầy, không có việc gì ngẫu nhiên mà có ra cả. Mà tất cả đều phải theo luật nhân quả. Hiểu được lý nhân quả, thì khi chuyện buồn vui họa phước xảy đến, ta không đến đỗi phải cuống cuồng lên tỏ ra mừng lo sợ hãi. Họa hay phước đều do mình tạo ra. Thử nghiệm lại cho kỹ, nội trong đời nầy thôi, khoan nói đến nhiều đời trước, từ lúc sanh ra cho đến khi nhắm mắt, có khi nào chúng ta một bề nghĩ lành, nói lành và làm lành hết không? Hay là có lúc vầy lúc khác. Khi thì nghĩ điều lành như Bồ tát, lúc thì nghĩ dữ như quỷ Dạ Xoa. Do đó, khi mình gặp điều phước xảy đến là do mình tạo điều lành ở nơi ba nghiệp. Ngược lại, khi mình gặp hoạn họa đến, đó là lúc mình gây tạo nghiệp ác ở nơi ba nghiệp. Không phải gây tạo trong đời nầy, mà chúng ta đã gây tạo trong nhiều đời về trước.


Tỷ như đời trước, vì tham lam nên mình trộm cắp tài vật quý giá của người, thì đời nầy mình phải bị quả báo là mất của. Đó là họa. Ngược lại, như đời trước hoặc đời nầy, khi mình phát khởi tâm lành, bố thí cứu giúp cho những người bất hạnh như nghèo khổ, đói khát, đau yếu tật nguyền v.v… Nay, mình làm ăn, làm đâu được đó, phát tài lộc, tiền vô như nước. Hoặc giả lúc mình gặp vận không may, làm ăn thất thoát, cụt vốn, hết tiền, đâm ra nghèo khổ, bấy giờ có quới nhơn giúp đỡ cho mình tài vật để làm lại cuộc đời. Đó là Phước. Như vậy, họa hay phước tất cả đều do mình tạo lấy. Nó diễn biến theo từng giai đoạn theo chiều thời gian trong đời sống của mình. Đó là nhân và quả, chính do mình đã gây tạo. Nhân và quả như bóng với hình. Bóng luôn bám sát theo hình, không hề sai chạy một mảy may nào cả.


Nhân và quả trong cuộc đời mình, khi mình gây tạo nhân tốt, thì sẽ có quả báo tốt. Ngược lại cũng thế. Giống như trên con đường xe chạy, có khi thì bằng phẳng trơn láng, có lúc thì lại lỗ hang, khúc khuỷu quanh co. Lúc gặp bằng phẳng xe chạy nhanh, người ngồi trong xe cảm thấy thoải mái, dụ như lúc đó phước đến với mình. Còn gặp lúc gồ ghề lỗ hang, xe khó chạy, người ngồi trong xe bị dằn đau nhức nhối, la ó ỏm tỏi, dụ như bị tai họa xảy đến. Trên đường đời cũng thế. Cuộc sống của mỗi người chúng ta, ít nhiều gì cũng có những họa phước xảy đến. Nặng hay nhẹ, lành hay dữ, đều tùy thuộc vào cái nhân chúng ta đã gây tạo. Hiểu thế, thì khi gặp tai họa đến, ta hãy bình tâm để trả. Vì mình biết rõ, đây là nghiệp quả chính do mình tạo ra, chớ không ai gây ra cho mình.


Đọc qua mẩu chuyện ngắn trên, ta khen cho ông già đó quá! Ta khen ông, vì ông quá hiểu rõ lý nhân quả và ông đã thể hiện ngay trong đời sống. Chuyện xảy ra, giữa họa và phước luôn đắp đổi nhau. Nhưng thường thì họa đến với ta nhiều hơn là phước. Nên có câu nói: “Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Nghĩa là, Phước thì không đến dồn dập hai lần, còn họa thì không đến một cách riêng rẽ. Tức là thường đến chồng chập, dồn dập. Điều nầy, nghiệm kỹ cũng dễ hiểu.


Thử xét lại đời mình. Trong suốt cuộc đời từ nhỏ tới già mình tạo nghiệp dữ nhiều hay tạo nghiệp lành nhiều? Chắc ai cũng nói là mình tạo nghiệp dữ nhiều. Nhưng có điều ta nên nhớ, phước hay họa đến với chúng ta không phải do ta gây tạo trong đời nầy không, mà ta đã gây tạo trải qua không biết bao nhiêu đời trước. Những đời trước, chúng ta đã gây tạo làm sao chúng ta biết được? Đã thế, thì trách ai đây? Vậy thì, ta nên bắt chước thái độ của ông già trong câu chuyện mất ngựa nói trên, để mà bình tĩnh nhận lãnh khi nghiệp quả họa hay phước xảy đến. Chúng ta phải tập cho mình có một cái nhìn, một nhận xét sáng suốt trước sự việc xảy ra.

Phước đến không mừng, họa đến không lo. Cứ tùy phận mà vui sống. Như khi ta gặp hoạn nạn, như bệnh hoạn đau yếu, đang sống cảnh cô độc, hoặc giả đang mang chứng bệnh nan y v.v… chẳng hạn, thì ta biết đó là do nghiệp quả của ta đã gây tạo, nên giờ đây ta phải trả. Nhưng khi trả quả, ta lại khởi niệm, biết đâu nhờ bệnh mà nó cảnh tỉnh ta, dừng chân bay nhảy bon chen với đời để an phận trả quả tu hành. Đây là thời gian tốt để cho ta dốc hết lòng thành niệm Phật. Ta buông bỏ tất cả. Nhứt quyết không để tâm vướng bận lưu luyến bất cứ thứ gì. Ta biết trước sự ra đi của ta. Ta không sợ hãi, vì ta biết rằng ai cũng phải bước vào cửa tử. Đây là con đường mòn mà tất cả mọi người già trẻ bé lớn gì cũng phải đi qua. Biết thế, ta không còn nghĩ ngợi lắm chuyện lăng nhăng khó khăn, như khi ta còn mạnh khỏe.

Đây là thời gian quý báu để ta quyết tâm tìm cái sống trong cái chết. Tìm Niết bàn trong sanh tử. Như thế, không phải là ta đã chuyển họa thành phước đó sao? Ngược lại, khi ta đang sống trong cảnh giàu sang, mọi thứ đều đầy đủ ấm no, gia đình hạnh phúc, mạnh khỏe yên vui, ta mãi lo đắm mê thụ hưởng mà quên đi làm phước tu hành. Đó là trong phước có họa. Bấy giờ ta nên khởi nghĩ, sở dĩ hôm nay ta được như thế nầy, bởi do đời trước ta tu tạo nhiều căn lành, như bố thí cứu người hành thiện không biết mỏi mệt. Nghĩ thế, thì tại sao hôm nay ta không cố gắng tu tạo thêm nhiều phước đức, để mai sau ta tiếp tục hưởng quả báo tốt đẹp như thế nầy? Do nghĩ thế, ta liền thức tỉnh, gắng chí gia công tu hành tài bồi phước đức. Như vậy, đó không phải là chuyển họa thành phước đó sao? 

Tóm lại, dù sống trong hoàn cảnh nào, giàu sang hay nghèo hèn, mạnh khỏe hay đau yếu, đẹp đẽ hay xấu xa… tất cả đều phải theo luật nhân quả an phận mà vui sống. Không than van, không oán trách một ai! Vì tất cả do ta tạo lấy. Mọi việc xảy đến lành hay dữ, ta đều dùng trí huệ để quán chiếu thấu đáo tận tường vào lý nhân quả, như ông già nói trên. Ta tin sâu vững chắc vào lý nhân quả. Nhờ tin sâu như thế, ta không còn chán nản, lo sợ, buồn rầu. Ta quyết tâm an phận tùy duyên mà vui sống. Đó là ta khéo biết tạo cho ta có một cuộc sống an lành, tùy duyên trả nghiệp. Có thế, thì ta mới có cuộc sống an bình trong mọi nghịch và thuận cảnh xảy đến cho ta.


Đó là nói họa hay phước do nhân quả con người tạo ra. Đến như họa, phước của thiên nhiên gây ra thì sao? Thiên tai là một họa hại mà con người luôn lo sợ và tìm mọi phương cách để đối phó. Nhưng liệu có đối phó được không, đó lại là một chuyện khác.



Hẳn ai cũng còn nhớ, trong năm qua, thiên tai đã dồn dập xảy đến ập lên đầu nhơn loại. Thật là quá sức tưởng tượng và cũng quá sức chịu đựng của con người. Những trận thiên tai xảy ra dữ dội. Có thể nói hằng mấy trăm ngàn người chết và hằng triệu triệu người sống trong cảnh màn trời chiếu đất, đói khát lầm than.


Ta có thể điểm sơ qua một vài thiên tai kinh hoàng đã xảy ra trong năm qua: sóng thần Tsunami ở vùng biển Sumatra, lấy đi hơn 225.000 sinh mạng con người. Rồi đến trận bão khủng khiếp Katrina ở Mỹ, lũ lụt ở Trung Quốc, trận động đất 7,6 độ richter ở Nam Á chôn vùi hàng chục nghìn người. Cơn bão số 7, một cơn bão lớn nhứt ở Việt Nam xảy ra vào khoảng đầu tháng mười năm qua, đã gây ra một sự tổn thất rất lớn lao về sinh mạng và tài vật. Đó là những thảm họa lớn nhứt mà do thiên tai giáng xuống cho nhơn loại hứng chịu. Thiên tai gây ra, dù đây là thiên nhiên, nhưng không phải vô cớ mà xảy ra như thế. Tất cả đều phải có nguyên nhân dù gần hay xa.


Nguyên nhân gần, các nhà bảo vệ môi sinh cho rằng, phần lớn là do con người vì mưu sinh mà phá rừng. Vì cái lợi trước mắt mà người ta quên đi cái họa hại lớn lao về sau. Đó là con người tự hủy diệt chính mình. Bởi do con người can thiệp một cách vô ý thức vào môi trường thiên nhiên.

Ai cũng nhìn nhận, thiên tai là một họa hại cho con người. Nhưng xét mặt khác, thì cũng nhờ thiên tai xảy ra mà nhơn loại toàn cầu biết đoàn kết và càng ngày càng ngồi gần lại nhau hơn. Vì lương tâm, vì nhơn đạo, mà người ta vượt qua những hàng rào ranh giới chánh trị. Trước mắt là phải cùng nhau hiệp lực cứu mạng sống con người. Toàn thế giới không thể an nhiên ngồi nhìn những thảm họa vô cùng đau khổ đã và đang đè nặng trên đầu nhơn loại.

Những lời kêu gọi, những nỗ lực cứu trợ, tiếp tế cho những nạn nhân xấu số, ngần ấy, chứng minh con người vẫn còn lương tâm, vẫn còn biết yêu thương đồng loại. Đó không phải là sự đe dọa cảnh cáo của thiên nhiên sao? Thiên nhiên cần cho con người bài học tình người. Và hơn thế nữa cảnh cáo lòng tham lam quá độ không đáy của con người. Muốn được sống yên thân, thì mọi người mau mau dẹp bớt lòng tham, đừng bao giờ động đến thiên nhiên. Thiên nhiên cho ta quá nhiều năng lượng để tạo thêm nhiều sức sống. Thế thì tại sao ta không biết ơn để mà ra tay cùng nhau đoàn kết bảo vệ. Chẳng những không bảo vệ mà còn phá hoại thiên nhiên. Đó phải chăng con người vì quá tham lam ích kỷ mà chọc giận đến thiên nhiên?! Khi thiên nhiên phẫn nộ lên, thì mọi hậu quả khổ đau chính do con người nhận lấy.


Phải chăng qua sự trừng phạt nặng nề của thiên nhiên, mà con người bắt đầu thức tỉnh và chạy lo tìm mọi phương cách để bảo vệ thiên nhiên. Cương quyết trừng trị những ai manh tâm phá hoại thiên nhiên. Tạo cho môi sinh càng ngày càng trở nên trong lành và tốt đẹp hơn. Đó không phải là cái phước của nhơn loại sao? Nếu không có thiên nhiên ra tay trừng phạt, thì biết đến bao giờ con người mới chịu ngồi lại với nhau để tìm phương cứu trợ bảo vệ mạng sống chung cho cả nhơn loại. Như vậy, không phải trong cái họa tìm ra cái phước sao? Mong sao cái phước nầy mãi mãi được mọi người quan hoài chiếu cố để cùng nhau đồng tâm bảo vệ. Bảo vệ thiên nhiên chính là trực tiếp bảo vệ mạng sống con người.

 

 

 

 

Một vài cảm nghĩ

Về Hạnh Nguyện của

Bồ Tát Quán Thế Âm

 

Bồ Tát Quan Thế Âm, tiếng Phạn gọi là Bodhisattva Avalokitesvara là vị Bồ tát có nhân duyên rất lớn với chúng sanh ở cõi Ta bà nầy. Đối với các nước theo Phật giáo Phát Triển, người ta thường kính ngưỡng tôn thờ và rất tin tưởng đức Bồ tát Quan Thế Âm. Đại biểu như các nước Trung Hoa, Nhật Bổn, Đại Hàn, Việt Nam v.v… Những quốc gia nầy, hầu hết trong các ngôi Già lam, nơi nào cũng có tôn thờ Thánh tượng Bồ tát Quan Thế Âm. Chẳng những thờ trong chùa không thôi, mà người ta còn tạo tượng tôn trí thờ Ngài ở bên ngoài chùa nữa. Thông thường, người ta hay gọi hình tượng nầy là Quan Âm lộ thiên. Về tôn tượng của Ngài, có nhiều hình tượng khác nhau. Đại khái có những hình tượng rất thông dụng và đã được phổ biến rộng khắp như: Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Thánh Quan Âm, Mã đầu Quán Âm, Thập Nhất Diện Quán Âm, Chuẩn Đề Quán Âm, Bạch Y Quán Âm, Quán Âm Ngư Lam, Quán Âm Diệu Thiện, Quán Âm và Long Nữ, Quán Âm Nam Hải

Về hạnh nguyện thị hiện những hóa thân cứu khổ của Bồ tát Quan Thế Âm, chúng ta thấy rất rõ trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm Phổ Môn. Kinh diễn tả Bồ tát hiện 32 ứng thân đủ loại tùy hình và 19 lối thuyết pháp để phổ độ chúng sanh. Ngài còn có 14 năng lực vô úy. Hình ảnh đức Chuẩn Đề vương là hóa thân của Ngài có ngàn tay ngàn mắt. Mắt và tay là biểu thị cho lòng từ bi và trí tuệ. Có đầy đủ Bi Trí song hành và đức tánh vô úy, thì việc hoằng hóa độ sanh của Bồ tát mới có thể đạt được hiệu quả cao.

Hạnh nguyện của Bồ Tát Quan Thế Âm là hạnh nguyện lắng nghe từ bi cứu khổ. Vì ngay danh hiệu của Ngài cũng đã nói lên cái ý nghĩa đó. Quán Thế Âm có nghĩa là quan sát tiếng tăm kêu than thống khổ của người đời mà Ngài hiện thân đến để cứu độ cho họ vượt qua mọi khổ nạn. Đó là hạnh nguyện vị tha lớn lao trùm khắp pháp giới của Ngài. Bồ tát thì lúc nào cũng sẵn sàng cứu khổ chúng sanh, nhưng chúng sanh khi nào gặp khổ nạn thì mới tưởng nhớ đến Bồ tát. Còn khi ách nạn qua đi, thì họ ít khi nào nghĩ đến. Đó là căn bệnh nghiệp chướng ích kỷ sâu dày của chúng sanh. Lý do họ niệm là vì sợ chết mà niệm. Niệm để được thoát chết hoặc để được toại nguyện theo một nhu cầu thiết yếu mong muốn nào đó của họ. Kỳ thật, không phải họ niệm vì muốn tu hành để được giác ngộ và giải thoát. Thử hỏi niệm danh hiệu của Ngài như thế, thì có đúng theo tinh thần bản nguyện mà Ngài đã chỉ dạy không? 

Chúng ta nên nhớ rằng, Bồ tát Quán Thế Âm xưa kia trong lúc tu nhân, Ngài cũng phải khổ công hành trì theo lời dạy của đức Phật Quán Thế Âm mới được thành tựu. Như Ngài đã trình bày rõ về pháp tu của Ngài trong kinh Lăng Nghiêm. Pháp tu của Ngài chỉ dón gọn trong năm chữ: “phản văn văn tự tánh”. Nghĩa là phải hằng nghe lại tánh nghe của mình. Nhưng khởi đầu vẫn phải bước qua cửa ngõ “Văn, Tư, Tu”. Văn, Tư, Tu là ba môn huệ học có khả năng đưa người ta đạt đến chánh định. Đây là cửa ngõ mà chúng tôi thiết nghĩ, bất cứ người tu hành nào muốn đạt đến quả vị cao tột, cũng phải bước qua. Đây là một pháp tu mà Ngài đã học được từ nơi đức Phật Quán Thế Âm chỉ dạy. Văn là nghe, nghe rồi tư duy, phải luôn nghĩ nhớ chín chắn, xong rồi, nên ứng dụng thật hành những gì mà mình đã suy nghĩ chín chắn kỹ càng đúng theo chân lý.

Điều quan yếu hơn nữa trong pháp tu nầy, là khi nghe tiếng không chạy theo phân biệt ở nơi thinh trần. Vì còn phân biệt là còn dính mắc. Phải nghe lại tánh nghe thường hằng của chính mình. Nghe như thế, gọi là “nhập lưu vong sở”. Cho đến khi bặt dứt chủ thể và khách thể, nói rõ là không còn chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. Có vượt ngoài đối đãi nhị nguyên, thì mới chứng nhập được bản thể. Đến đó, thì không còn lời gì để diễn tả luận bàn. Nói năng không trúng, suy nghĩ chẳng nhằm. Chỉ có một tâm thể thanh tịnh sáng suốt hằng liễu tri. Nghĩa là thường biết một cách rõ ràng, không gì có thể dối gạt được. Tuy dứt hết muôn duyên, nhưng vẫn còn cái tâm thể sáng ngời hằng biết.

Như thế, thì ta thấy sự dụng công tu hành của Bồ tát Quan Thế Âm trong lúc tu nhân, thật không phải là chuyện tầm thường dễ dàng. Chính nhờ áp dụng đúng mức pháp tu đó, nên kết quả, Ngài mới trở thành một vị Bồ tát. Vị Bồ tát có đầy đủ năng lực hằng sa diệu dụng, tầm thinh cứu khổ độ sanh phi thường. Ngược lại, nếu chúng ta chỉ niệm danh hiệu Ngài một cách cho có lệ hời hợt không chí thành, hay chỉ niệm cầu mong được Ngài cứu độ cho qua cơn khổ nạn, rồi thì đâu cũng vào đấy. Nếu chỉ biết niệm như thế, thì quả thật không đúng với bản nguyện tu hành giáo hóa của Ngài. Vì bản nguyện của Ngài là muốn cho tất cả chúng sanh phải lo tu niệm hằng tỉnh giác để được thoát khổ. Vì nỗi khổ lớn nhứt của chúng sanh là nỗi thống khổ trôi lăn trong vòng sanh tử. Còn sanh tử là còn mãi mãi bị chìm đắm trong biển đời đầy hệ lụy khổ đau.

Điều cần nhấn mạnh ở đây là, chúng ta không thể phủ nhận sự linh ứng mầu nhiệm của Phật hay Bồ tát. Nhưng sự linh ứng đó cũng tùy tâm ta mà hiện ra. Nếu khi tâm ta có sự tha thiết thành tâm chánh niệm, thì ngay đó, tất nhiên, là có cảm ứng không sai. Nên nói hữu cầu tất ứng là vậy. Nhưng sự linh nghiệm ứng hiện nầy, cũng bởi do chính ta tha thiết chí thành mà có. Nếu chỉ một bề tin tưởng suông ở nơi Bồ tát không thôi, mà không lo tu hành làm lành lánh dữ, để đến khi mắc nạn mới kêu gọi đến Ngài, thì e rằng, chúng ta khó có thể được như ý muốn! Nếu là Phật tử chúng ta không thể một bề phó thác thân mạng mình giao cho Bồ tát. Vì ai ăn nấy no, ai tu nấy thành, ai hành nấy chứng. Không ai có thể tu thế cho ai hay lãnh cái khổ của người khác được. Chúng ta cần phải quan tâm ý thức rõ vấn đề then chốt nầy. Nếu mong cầu cái gì cũng được chư Phật, Bồ tát gia hộ toại ý hết, thì còn gì là luật nhân quả? Người tin chắc vào lý nhân quả thì không thể có tâm ỷ lại mong cầu ỷ lại vào tha nhân.

Điều quan trọng muốn thoát khổ là tự mỗi người phải nỗ lực tự cứu lấy mình. Còn ỷ lại mong chờ Bồ tát, thì không thể nào hết khổ được. Chư Phật và Bồ tát chỉ cho chúng ta một lối thoát, đó là những lời chỉ dạy trong kinh điển, rồi chúng ta y cứ theo đó mà ứng dụng hành trì. Có thế, thì chúng ta mới mong hết khổ. Cũng như chúng ta nương vào bản đồ chỉ dẫn mà chúng ta nỗ lực đi theo đúng phương hướng của bản chỉ dẫn đó thì mới mong đến đích. Vô lý, muốn đến đích mà chúng ta không chịu đi, chỉ biết ngồi lỳ một chỗ, thì thử hỏi làm sao chúng ta có thể tới nơi cho được?

Không tới nơi được thì chúng ta trách ai đây? Trách người chỉ đường hay trách bản đồ hướng dẫn? Chắc là chúng ta chỉ nên trách lấy sự ngu dại của chúng ta mà thôi. Hiểu thế, thì chúng ta không thể nào hoàn toàn ỷ lại vào thần lực cứu độ của các Ngài. Khi chúng ta gặp khổ nạn, sở dĩ chúng ta được sự cảm ứng linh nghiệm cứu khổ của các Ngài là vì lúc đó do chúng ta hết lòng thành tâm tha thiết cầu nguyện niệm danh hiệu Ngài. Bởi do lòng chí thành tha thiết đó mà chúng ta mới có được sự cảm ứng không sai. Nhưng đó chỉ là giai đoạn nhứt thời, mà Bồ tát tạo cho chúng ta có được một niềm tin vững chắc. Do có niềm tin vững chắc nên chúng ta mới phát tín tâm mạnh mẽ tu hành. Bằng ngược lại, thì không thể nào chấm dứt khổ đau được.

Đạo Phật dạy chúng ta phải có cái nhìn thực tế. Đừng bao giờ tin tưởng viển vông một điều gì mà không qua sự chứng nghiệm trí năng cụ thể của chúng ta. Chúng ta tin tưởng vào sự linh ứng mầu nhiệm của Phật Pháp, đó là sự linh ứng hướng dẫn chúng ta đi đúng theo đường lối tu hành giác ngộ giải thoát. Được thế, thì mới không hổ thẹn là người Phật tử và mới thật xứng danh là người Phật tử chân chánh tu học Phật vậy.

 

 

Một vài cảm nghĩ về

Ngày Phật Đản

 

Kỷ niệm ngày Đản Sinh của đức Phật, đối với nhơn loại ngày nay không ai còn xa lạ nữa. Đó là ngày trọng đại thiêng liêng đánh dấu một bậc vĩ nhân xuất thế mang lại niềm an vui hạnh phúc đến cho muôn loài. Hôm nay, chúng ta thiết lễ kỷ niệm mừng Ngài có mặt đến với cõi đời nầy, không phải chỉ có tôn xưng tán tụng, hay bày biện mọi thứ hình thức lễ nghi không thôi là đủ, mà thiết nghĩ, chúng ta cần phải quán chiếu sâu vào đời sống cao thượng siêu thoát của Ngài. Vì đời Ngài, nhứt cử nhứt động đều là tấm gương trong sáng để chúng ta noi theo.

Trong lúc còn là một Thái tử, sống trong nhung lụa quyền uy vương giả, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng, vợ đẹp con xinh, mọi thú vui trên đời, thứ gì Ngài cũng đều có đủ. Nhưng không vì thế, mà Ngài lại say mê đắm nhiễm. Ngài cho những thú vui đó chỉ là những thứ hào nhoáng trá hình giả dối. Thú vui chỉ mở đường cho đau khổ, thực chất là tràn đầy hệ lụy đau thương mà thôi. Bên cạnh đó, Ngài còn chứng kiến, những nỗi thống khổ của con người qua bốn trạng thái sanh, già, bệnh, chết, càng làm nung nấu tâm nguyện xuất trần mạnh mẽ của Ngài. Chỉ một lần chứng kiến tận mắt, Ngài đã cảm thấy xót xa cho thân phận của kiếp nhơn sinh. Ngài nhứt quyết phải tìm ra một con đường giải thoát mọi ràng buộc khổ đau cho con người và muôn loài. Đó là con đường giải quyết một lần tận gốc rễ của sanh tử khổ đau.

Từ sự ý thức trong sáng đầy tình thương mãnh liệt đó, Ngài đã cương quyết phải từ bỏ đời sống xa hoa vương vị, quyết chí rời khỏi hoàng cung sống đời sống của một vị Sa môn.

Trải qua quá trình phấn đấu gian khổ trong việc tu học, và đại phá ma quân, cuối cùng, Ngài đã chiến thắng và đạt thành sở nguyện, tức thành Phật gọi là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Sau ngày thành đạo cho đến khi nhập diệt, trải qua thời gian 49 năm, Ngài đã không ngừng giáo hóa độ sinh. Kết quả, Ngài đã để lại cho nhơn loại một kho tàng kinh điển đồ sộ, do chư Tổ Sư kết tập lại thành Tam tạng giáo điển. Có thể nói, trên thế gian nầy, chưa có một vị giáo chủ nào mà cống hiến cho nhơn loại cả một kho tàng kinh điển quy mô lớn lao như thế. Đó là một diễm phúc thật lớn lao hy hữu cho tất cả chúng ta. Cả đời thuyết giáo của Ngài, tuy có phân chia thành nhiều hệ thống tư tưởng sâu cạn khác nhau, nhưng tựu trung không ngoài hai chữ “giải thoát”. Vì đó là trọng tâm của Ngài hướng đến. Dù chúng ta tu bất cứ pháp môn nào, mục tiêu tối hậu cũng nhằm hướng đến giải thoát khỏi vòng trầm luân sanh tử.

Ngày nay, chúng ta biết được đường lối tu hành, thoát khỏi mọi ràng buộc khổ đau, cũng chính do đức Phật đã chỉ bày vạch sẵn. Quả ân đức của Ngài thật lớn lao không sao nói hết. Muốn tri ân tưởng niệm đời Ngài cho có ý nghĩa thiết thực, thiết nghĩ, mỗi người Phật tử chúng ta nên tự quán chiếu lại mình. Có quán chiếu sâu vào nội tại, ta mới nhận diện được lẽ chánh tà, chân vọng. Nói rõ hơn là ta mới thấy được những thứ giả dối trong ta. Điều mà lâu nay, ta cứ bảo thủ chấp chặt cho tất cả là thật. Từ thân tâm cho đến mọi cảnh vật chung quanh, cái gì đối với chúng ta cũng là thật hết. Nhưng khi quán chiếu nhìn sâu suy nghiệm thật kỹ, ta mới nhận ra rằng, mọi thứ chỉ là ảo ảnh giả dối tạm bợ, như bóng trong gương hay bóng trăng dưới nước. Mọi vật chỉ là do nhân duyên giả hợp tạo thành. Quả đúng như lời Phật dạy trong Kinh Viên Giác: “ Chúng sanh vọng nhận tứ đại làm tướng tự thân, duyên ảnh sáu trần làm tướng tự tâm”. Thấu đạt được lý duyên sinh, ta mới nhận ra được giáo lý vô ngã Phật dạy. Khổ, không, vô thường, vô ngã, đó là những giáo lý căn bản thuộc Tứ pháp ấn mà ta cần phải học hỏi và thực nghiệm.

Thấu hiểu được lý vô ngã, tất nhiên là ta không còn những định kiến chấp trước sai lầm ở nơi vạn pháp. Từ đó, ta mới có được cái nhìn rộng mở, sâu sắc, phá tan những thành kiến bảo thủ, kính màu kỳ thị, tranh chấp hận thù, và ta sẽ có một đời sống bao dung tha thứ thắm đượm tình người trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Từ đó, ta mới có tình thương bao la chan hòa rộng khắp. Đó là con đường chấm dứt gây ra những nỗi khổ đau cho mình và người. Được vậy, ta mới thật sự nhận được thông điệp: “Từ bi, vị tha và bình đẳng” từ nơi đức Phật truyền đạt. Và có như thế, ta mới thấy được tình huynh đệ cao quý thiêng liêng hơn. Đó là bức thông điệp sống chung hòa bình, tứ hải giai huynh đệ, mà đức Phật đã khai thông gởi đến cho nhơn loại.

Hôm nay, chúng ta đang kính cẩn nghiêm trang cung đón mừng ngày đản sinh của đức Phật, chúng ta hãy cùng nhau thành tâm cầu nguyện cho chính mình và cho mọi người hãy biết thương yêu nhau, đừng bao giờ gây thêm rắc rối làm khổ đau cho nhau. Thế giới ngày nay vốn đã có quá nhiều đau khổ hỗn loạn, xin mọi người đừng tiếp tục gây thêm sự bất an hỗn loạn nữa. Những vấn đề rối loạn họa hoạn cụ thể hiện đã và đang xảy ra như nạn: khủng hoảng kinh tế suy thoái toàn cầu, chiến tranh vẫn còn ầm ĩ khắp nơi, khí hậu ngày càng nóng bức, môi sinh ngày càng bị ô nhiễm, thiên tai gây tổn hại thật nặng nề khắp nơi, cấu trúc xã hội bị phá vỡ trầm trọng, tội phạm ngày càng gia tăng, gia đình đổ vỡ tan nát mất hạnh phúc vân vân và vân vân. Tất cả những ách nạn đó phải chăng, phần lớn cũng đều do con người gây ra và rồi con người phải hứng chịu lãnh lấy những hậu quả tang thương bi đát đầy khổ lụy.

Phật đản là dịp để chúng ta hãy tương kính nắm lấy tay nhau, xóa bỏ mọi hận thù tranh chấp, khủng bố, mọi vị kỷ thấp hèn, mọi đam mê đắm nhiễm… Chúng ta phải có lòng tri ân đối với tất cả muôn loài. Vì sự sống của chúng ta có liên quan mật thiết với tất cả vạn vật. Từ miếng ăn, thức uống cho đến đất đai, sông núi, rừng cây, hoa lá, biển cả, sinh vật, khí hậu, môi sinh v.v… tất cả đều là những vật loại có ân trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chúng ta.

Tâm niệm rằng, ta là kẻ thọ ân sâu đối với vạn loại, trong đó, dĩ nhiên, có thâm ân tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thầy tổ, của chúng ta thật quá sâu nặng. Làm sao ta có thể tách biệt những tế bào, dòng máu của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, ra khỏi da thịt huyết quản của ta? Như thế, thì tại sao ta lại phản bội những thứ đem lại cho ta sự sống? Nghĩ thế, thì ta mới có thể trải rộng tấm lòng thương yêu vị tha bao dung rộng lớn. Là Phật tử, Phật dạy, mỗi người cần nên trang bị cho mình có đủ Tam đức. Tam đức gồm có: “Trí đức, Đoạn đức và Ân đức”. Trí đức là thứ trí tuệ sắc bén mà ta cần phải gia tâm học hỏi trau dồi. Có trí tuệ ta mới biện biệt được lẽ chánh tà chân ngụy. Cái gì đáng làm và không đáng làm. Nhờ có trí tuệ sáng suốt mà ta mới có thể chiếu soi phá tan vô minh phiền não. Chặt đứt mọi thứ giây mơ rễ má phiền não, tất nhiên, là ta phải nhờ đến cái búa bén trí tuệ. Đó là đoạn đức. Một khi phiền não đã được đoạn trừ, thì bấy giờ ta mới có những hành động, lời nói và việc làm luôn làm lợi ích cho tha nhân. Làm với tâm hỷ xả không dính mắc vào sự vật. Luôn có tâm hồn bao dung tha thứ, dù ai đó gây ra cho ta đau khổ. Sự bao dung rộng lượng tha thứ, đó là ân đức. Như vậy, người Phật tử luôn áp dụng Ba Đức nầy vào đời sống, tất nhiên, chắc chắn là ta sẽ có được an lạc và hạnh phúc tràn đầy. Có thế, thì ta mới bắt gặp được hình ảnh của đức Phật và chính đó ta mới thực sự đền ơn giáo huấn của Ngài.

Một vài cảm nghĩ về

Ngày Đại Lễ Vu Lan

Khi nói đến Vu Lan người ta nghĩ ngay đến báo hiếu. Khi nói đến báo hiếu, người ta nghĩ ngay đến hình ảnh Tôn giả Mục kiền liên và bà Thanh Đề. Đây là hai nhân vật chính và cũng là nguyên nhân mà Phật nói Kinh Vu Lan. Vì thế cho nên hàng Phật tử chúng ta mới có Kinh Vu Lan để trì tụng trong mùa báo hiếu.

Xưa nay, ai cũng ca tụng ngài Mục kiền liên là người con chí hiếu. Vì ngài là người cứu thoát mẹ ngài thoát khỏi chốn ngục hình đau khổ. Vì vậy, nên chúng ta noi theo tấm gương hiếu hạnh của ngài mà lo phụng dưỡng ông bà cha mẹ. Ngoài ra, chúng ta còn noi theo hạnh nguyện cao cả của ngài về việc thiết lễ cúng dường trai tăng để cầu nguyện cho cửu huyền thất tổ, song thân phụ mẫu, mong tất cả đều được lợi lạc. Vì những bậc đó là những người có công ơn rất lớn lao, trong việc sanh thành dưỡng dục chúng ta. Người đã giáo dưỡng đào tạo chúng ta trở nên những con người hữu dụng tốt đẹp trong xã hội. Vì vậy mà đạo làm con chúng ta phải luôn ghi nhớ công ơn và phải lo báo đáp. Đó là một truyền thống hiếu đạo tuyệt vời cao cả mà người Phật tử cần phải noi theo. Buổi lễ cúng dường trai tăng nầy, khởi nguyên từ thời đức Phật còn tại thế. Buổi lễ được tổ chức trang nghiêm trọng thể vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, là ngày lễ mãn hạ tự tứ của chư Tăng.

Khi đạo Phật du nhập vào đất nước Việt Nam ta, không biết dân tộc ta đã lấy ngày nầy để tổ chức thành ngày đại lễ Vu Lan Thắng Hội trọng thể vào lúc nào? Thú thật là chúng tôi không được rõ lắm. Song có điều, chúng ta thấy, ngày lễ truyền thống nầy nó rất phù hợp với tinh thần hiếu đạo sẵn có của dân tộc ta. Có lẽ vì vậy, mà tổ tiên ta đã lấy ngày rằm tháng bảy (còn gọi là ngày xá tội vong nhân) âm lịch hằng năm, làm ngày đại lễ Vu Lan báo hiếu. Mục đích là để nhắc nhở cho con cháu phải luôn nhớ đến cội nguồn tổ tiên ông bà cha mẹ. Nói rộng ra là phải nhớ đến bốn ân thâm trọng: ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân quốc vương thủy thổ, và ân đàn na thí chủ hay nói rộng ra là ân chúng sanh.

Ơn chúng sanh hằng tâm ghi nhớ
Ơn nước nhà cũng chớ có quên
Ơn Thầy ơn Tổ đáp đền
Ơn cha, ơn mẹ, trọn nên thân người.

Nhân ngày đại lễ Vu Lan, chúng ta thử tìm hiểu khái quát qua đôi nét về hai nhân vật chính trong Kinh Vu Lan, mà người Phật tử chúng ta thường trì tụng trong mùa Vu Lan báo hiếu. Đó là Tôn giả đại hiếu Mục kiền liên và thân mẫu của ngài. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ tìm hiểu lý do tại sao mà bà Mục liên thanh đề được thoát khỏi tội khổ? Và tác dụng ảnh hưởng của sự cầu nguyện đó như thế nào? Đó là chủ đích nhắm tới của bài viết nầy.

Với thâm ý của chúng tôi là để cho người Phật tử chúng ta lấy đó làm một bài học, để chúng ta có thể áp dụng ngay trong đời sống thực tế hằng ngày. Thiết nghĩ, như thế, thì mới thực sự có lợi lạc hữu ích. Thật ra, khi tụng kinh hay dự lễ Vu Lan, đại đa số Phật tử chúng ta chỉ biết có mỗi một việc duy nhất, là chúng ta thành tâm cầu nguyện cho ông bà cha mẹ của chúng ta, kẻ còn người mất đều được thoát khổ, lợi lạc. Việc làm đó, theo thiển nghĩ của chúng tôi, cũng chưa đủ để chúng ta gọi là báo hiếu. Báo hiếu theo tinh thần của người Phật tử, tất nhiên nó phải vượt xa hơn người đời. Không phải chỉ tri ân và báo ân trong phạm vi thân bằng quyến thuộc của chúng ta không thôi, mà còn phải trải rộng lòng tri ân thương tưởng cứu giúp đến muôn loài vạn vật. Đó là chúng ta thật hành theo con đường báo hiếu của Bồ tát đạo.

Bây giờ, trước hết, chúng ta thử tìm hiểu đại khái vài nét về nhân vật chính là bà Mục liên thanh đề. Ở đây, chúng tôi xin miễn nêu ra dong dài về tích truyện huyền thoại của bà. Mà chúng tôi chỉ xin đề cập đến nguyên nhân nào đưa đến cho bà phải chịu cái quả báo cực hình đau khổ như trong Kinh Vu Lan đã diễn tả. Cái quả báo mà bà đã thọ lãnh, nguyên nhân chính yếu là phát xuất từ tâm độc ác của bà. Theo truyện tích đã kể, là bà đã có ác tâm hại chúng Tăng, bằng cách là làm bánh bao bằng nhân thịt chó. Chuyện có hay không, điều đó chúng ta không cần biết đến, mà chúng ta chỉ biết là bà đã phải chịu cái quả báo khổ đau rất thê thảm nơi chốn ngục hình. Trong Kinh Vu Lan nói, là bà bị đọa vào loài ngạ quỷ đói khát.

Khi tụng đọc Kinh Vu Lan, nghe Phật diễn tả về nỗi đau khổ cùng cực của bà, chúng ta rất cảm thông chua xót cho bà, chỉ vì si mê tăm tối mà bà đã tạo ra cái nhân độc ác nên phải chịu lãnh lấy cái quả báo khổ đau như thế. Khi cảm thông cho bà, ta cũng phải nghĩ lại thân phận của ta. Đây là một bài học nhân quả rát bỏng, mà chúng ta phải học từ Kinh Vu Lan. Nếu không gây nhân ác làm gì có quả báo ác?

Thử nhìn vào thế giới hiện tại mà chúng ta đang sống, chúng ta thấy có biết bao nhiêu người đã và đang chịu cái nỗi đau khổ cực hình giống như bà Mục liên thanh đề. Họ cũng đang bị hành hạ khổ sở ngày đêm trong chốn ngục tù, chỉ vì một phút giây vô minh nổi lên, mà họ không tự kềm chế được, rồi hành động gây tạo nghiệp ác, nên phải chịu cái quả báo khổ đau thê thảm không khác gì bà Thanh Đề. Một ác niệm vừa dấy lên trong tâm thức, mà chúng ta không sáng suốt nhận diện chuyển hóa nó, để rồi theo nó mà hành động ở nơi thân hoặc ở nơi miệng, thì chúng ta sẽ lãnh lấy một hậu quả rất là tai hại.

Phật dạy, muốn tránh quả khổ thì đừng có gây nhân khổ. Không giết người, không trộm cướp, không buôn lậu nha phiến, không hiếp dâm làm điều bất chánh v.v… thì làm gì có quả báo khổ đau. Nêu ra hình ảnh bà Thanh Đề để chúng ta coi đó là một tấm gương đau khổ mà chúng ta cần phải tránh. Chúng ta thương bà và chúng ta rất cảm thông nỗi khổ niềm đau của bà, vì bà đã nghe theo tiếng gọi của bọn giặc độc ác vô minh “Tham, Sân, Si”, mà gây ra phải chịu quả khổ như thế. Đó là chúng ta thấy rõ hình ảnh của một con người đã bị sa đọa.

Một nỗi đau thương thống thiết hơn nữa, là bà tuy đói khát thèm thuồng đủ mọi thứ, nhưng tiếc thay nào bà có ăn được thứ gì! Cơm đưa chưa đến miệng bà, thì cơm kia đã hóa thành than lửa. Bà không thể nào ăn được. Lửa đó là lửa tham lam, lửa sân hận, lửa si mê, lửa bỏn xẻn, keo kiết v.v… nó bốc cháy dữ dội thiêu đốt cả tâm can của bà. Ngày nay, cũng có không biết bao nhiêu kẻ lâm vào tình trạng đói khát kêu la giống như bà Thanh đề. Họ là những con người bất hạnh thật tội nghiệp đáng thương! họ đi lang thang thất thểu rày đây mai đó như con ma đói. Chẳng những họ đói khát về vật chất không thôi, mà họ còn đói khát rất nhiều về tình thương. Cái đói khát nầy mới thật là dày vò đau khổ, xé nát tâm can của họ. Quả đúng như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã nói:

Đòi những kẻ thiên ma bách chiết
Hình thì còn, bụng chết đòi nau
?
Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra…

Hình hài thân xác của họ thì còn đó, nhưng tâm hồn của họ thì đã chết từ lâu rồi! Họ chỉ kéo lê cái thân xác héo mòn tàn tạ rạc rài đi trong bóng tối si mê của cuộc đời mong tìm kiếm van xin một chút tình thương. Chỉ cần một chút tình thương của những con người giàu lòng nhân ái, nhỏ cho họ một giọt nước cam lồ từ bi tươi mát. Họ rất cần sự cứu giúp của mọi người. Được thế, quả họ cảm thấy rất ấm lòng. Vì họ là những người đang bị vướng vào cái “móc khổ bị treo ngược”. Họ rất cần những người có đôi mắt “từ nhãn thị chúng sanh” của hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm để an ủi xoa dịu những nỗi khổ đau thống thiết rát bỏng của họ. Giúp đỡ thi ân cho những con người bất hạnh nầy, đó là người Phật tử đã làm một nghĩa cử rất cao đẹp. Hiện nhơn loại rất cần những bàn tay từ bi và đôi mắt tuệ nhãn nầy. Người Phật tử luôn tâm niệm rằng: “Dẫu xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Mang sức sống đem lại nguồn vui yêu thương đến cho mọi loài, đó là ta đã thể hiện tấm lòng hiếu đạo vị tha cao cả rộng lượng của Bồ tát rồi vậy.

Bên cạnh đó, lại có một hình ảnh của một con người giải thoát. Đó là Tôn giả Mục kiền liên. Điều nầy cho chúng ta thấy, bên cái ác lại có cái thiện. Nếu ác không thì làm sao con người sống nổi? Mà nếu thiện không thì thế giới nầy đã trở thành Cực lạc huỳnh kim rồi. Vì cõi đời là tương đối, chúng ta chưa vượt thoát khỏi vòng đối đãi nhị nguyên, nên chúng ta mới có khổ. Nói rõ hơn, trong tâm thức của chúng ta có hai loại hạt giống: thiện và ác. Nhưng ác thì bao giờ cũng nhiều hơn thiện. Thực tế, nhìn vào trong xã hội loài người, ta thấy rất rõ điều đó.

Điều mà chúng ta cũng nên suy gẫm, bà Thanh Đề khi bà thọ khổ, còn có ngài Mục kiền liên tìm cách cứu thoát cho bà. Còn nếu như chúng ta tạo nghiệp ác, khi rơi vào địa ngục, thì thử hỏi ai là người cứu chúng ta đây?! Thường người ta có thói quen hay nhìn phiến diện cục bộ. Nói đến ngài Mục kiền liên, người ta chỉ biết ngài là người con chí hiếu, nhưng ít ai nghĩ đến khía cạnh tu hành giải thoát của ngài. Ngài là người có thần thông đệ nhất. Tại sao ngài được như thế? Có phải là do ngài nỗ lực công phu tu hành gạn lọc hết phiền não mà được như thế không? Như vậy, khi nói đến ngài, ta phải noi theo tấm gương sáng của ngài qua hai phương diện: “lòng hiếu thảo và sự tu hành dứt hết phiền não”. Nói gọn là noi theo tấm gương giải thoát của ngài. Như vậy, mới đúng là người Phật tử khi nghĩ đến ngài.

Nhưng mặc dù ngài là người con chí hiếu, có đủ thần thông lực dụng, nhưng tại sao ngài không thể cứu thoát mẹ ngài khỏi chốn ngục hình, mà ngài phải khẩn cầu đức Phật chỉ dạy? Đó là điều mà thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên suy gẫm. Ở đây, cho ta thấy luật nhân quả rất công bằng. Ai làm người đó chịu, ai ăn người nấy no. Không ai có thể ăn thế cho ai, hay chịu tội thế cho ai được cả. Và cũng không có một bàn tay thần thánh nào có thể cứu được. Nếu như ngài dùng thần thông cứu mẹ ngài được, thì thử hỏi luật nhân quả còn có tác dụng gì nữa không? Nhân quả còn có công bằng nữa hay không? Và có còn ai tin vào luật nhân quả nữa không? Nếu thế, thì không thành luật nhân quả và chính ngài mắc phải cái tội là phá luật nhân quả mất rồi.

Do đó, nên ngài phải cần cầu đến tha lực. Tha lực đó là nhờ thần lực chú nguyện của Phật và Thánh chúng. Đó là một tăng thân ( sangha body ) tu hành thanh tịnh. Chúng ta nên biết rằng, đây chỉ là trợ duyên tốt thôi, chớ không phải là do sự chú nguyện đó, mà bà Mục liên thanh đề thoát khổ. Nếu hiểu như thế, thì ta hoàn toàn ỷ lại vào tha lực, đó là điều trái với tinh thần giác ngộ của đạo Phật. Ta cần lưu ý điểm nầy. Chẳng qua sự chú nguyện đó, nó chỉ có tác động ảnh hưởng làm cho bà Thanh Đề thức tỉnh tự hối cải và phát tâm hướng thiện, mà chính bà phải tự cởi trói cho bà. Vì bà tự cột thì chính bà phải tự tháo gỡ. Ngoài ra, tất cả đều là những trợ duyên phụ thuộc tốt mà thôi.

Hiểu thế, thì mới không trái với luật nhân quả. Nếu không, thì con người tha hồ tạo ác, rồi sau khi chết nhờ Tăng Ni tụng kinh chú nguyện cho liền được siêu thoát. Nghĩ thế, thì chúng ta tự chuốc quả khổ hệ lụy cho mình. Không ai có thần lực làm cho mình hết khổ được cả. Khi mình gây tạo nghiệp ác, thì chính cái nghiệp ác đó nó có một năng lực trói chặt mình lại. Nếu như mình muốn tháo gỡ nó ra, thì cũng chính mình phải tự tháo gỡ lấy. Tốt hơn hết, là chúng ta không nên gây tạo nghiệp ác để rồi phải chiêu cảm quả báo thọ khổ. Chừng đó, chúng ta có than khóc thống trách thì cũng đã quá muộn màng lắm rồi! Chi bằng tránh nhân thì không có quả. Chúng ta nên nhớ câu: “Phàm làm việc gì, trước phải nghĩ đến cái hậu quả của nó”. Được vậy, thì không còn gì phải lo sợ cái quả báo xấu xa nữa.

Tóm lại, cả hai hình ảnh mà chúng ta thấy, đều là tấm gương sáng để chúng ta lấy đó làm bài học hành xử trong cuộc đời. Khổ hay vui, giải thoát hay buộc ràng, tất cả đều do chúng ta tự tạo lấy. Nói theo Kinh Hoa Nghiêm thì, “tất cả đều do tâm tạo”. Địa ngục hay Niết bàn cũng đều do mình tạo ra. Nhân nào quả nấy là vậy. Chúng ta nên tin chắc vào luật nhân quả để hành hoạt trong đời sống. Tránh nhân ác thì sẽ không bao giờ gặt hái quả ác.

Qua Kinh Vu Lan, chúng ta thấy Phật chỉ cho chúng ta một hướng sống giải thoát thực tế. Chính mình phải chọn cho mình một con đường thoát khổ. Đồng thời cũng nói lên phẩm hạnh đạo đức qua cung cách hành xử trong gia đình và ngoài xã hội. Đó là đức Phật nhằm khuyến nhắc mọi người, nhất là người Phật tử phải nên lấy đạo đức làm căn bản trong đạo xử thế. Vì hiếu đạo là cội nguồn, là mạch sống của sự sống. Nhờ có lòng tri ân và báo ân, mà đời sống của con người mới thăng hoa tươi đẹp và nó sẽ mang lại ý nghĩa thắm đượm tình người nhiều hơn. Và cũng nhờ đó mà nhơn loại sẽ biết yêu thương nhau hơn và tránh gây đau khổ cho nhau. Vì máu chảy thì ruột phải mềm! Không gây khổ đau cho nhau, thì đời sống của con người mới thực sự có ý nghĩa và mới có được an lạc hạnh phúc. Chiến tranh hay hòa bình đều phát xuất từ tâm thức của con người mà ra.

Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu, chúng tôi xin thành tâm kính chúc mọi người cùng nhau hướng về mục đích chung: xây dựng tình người, làm thăng hoa cuộc sống và mang lại nhiều lợi lạc đến cho mình và tha nhân. Kính chúc toàn thể trọn hưởng một mùa Vu Lan an bình và hạnh phúc.

 

Muốn trở thành người Phật Tử

Đạo Phật là đạo giác ngộ. Đạo Phật đem lại niềm vui và hạnh phúc cho con người. Muốn có được niềm vui, tất nhiên, mỗi người cần phải có ý hướng quyết định lấy. Ý hướng không chưa đủ, mà đòi hỏi con người cần phải có quyết tâm. Khi đã có ý hướng tự vạch cho mình một lối đi, thì ta cần phải tập làm quen dần với môi trường mới lạ. Bất cứ ai và bất cứ ở vào lứa tuổi nào, lần đầu tiên đến chùa ai cũng cảm thấy lạ lùng bỡ ngỡ. Vì mọi thứ mình chưa hiểu biết. Từ cách xưng hô đến những cách thức lễ nghi trong chùa v.v… tất cả đối với họ đều ngỡ ngàng áy náy. Việc gì cũng vậy, trước lạ sau quen. Cứ tập đi chùa rồi dần dần ta không còn thấy xa lạ nữa. Có người từ nhỏ tới lớn chưa một lần bước chân đến chùa, nay bỗng dưng tới chùa làm lễ quy y. Do bởi một động cơ nào đó thúc đẩy mà từ trước tới giờ, họ chưa bao giờ nghĩ đến. Khi quỳ trước Tam bảo quy y, thật họ cảm thấy vô cùng bỡ ngỡ, không hiểu mô tê gì cả. Người có chút cẩn thận, khi muốn làm việc gì, họ đều cân nhắc kỹ lưỡng thận trọng. Việc làm thường còn như thế, hà tất gì việc quy y trở thành người Phật tử thật là hệ trong suốt cả cuộc đời. Thế nên, trước khi muốn quy y Tam Bảo để trở thành người Phật tử chánh thức, thì chúng ta cần phải tìm hiểu về cái đạo giáo mà mình muốn theo tôn thờ. Có tìm hiểu rồi, chúng ta mới có niềm tin đúng đắn vững vàng. Như thế, thì việc làm của ta mới có ý nghĩa và sự chọn lựa của ta mới thật sự có ý thức thích hợp và mới thật sự có lợi ích thiết thực.

I. Nhận thức sự khổ đau cuộc đời qua kinh nghiệm bản thân

Ai cũng công nhận, khổ là sự thực của cuộc đời. Vì nó là một chơn lý. Khổ (dukkha) là Đế đầu tiên trong Tứ Diệu Đế. Tứ diệu đế là : Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Một thi sĩ đã diễn tả về nỗi thống khổ của cuộc đời qua 4 câu thơ như sau

Biển khổ mênh mông sóng ngập trời,
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Nhìn lại cùng trong bể khổ thôi.


Mỗi người thử nghiệm lại chính mình thì biết rõ. Bao nhiêu nỗi khổ niềm đau đều luôn luôn có mặt với chính mình. Khổ về tự thân như đau ốm bệnh tật, già nua. Khổ vì người thân trong gia đình mới mất. Khổ vì vợ chồng bất hòa ly dị. Khổ vì con cái bụi đời nghiện ngập hút xách bê tha hư hỏng. Khổ vì lo sanh kế trong gia đình như : lo ăn, lo mặc, lo nghèo giàu đủ thứ… Khổ vì hoàn cảnh như chiến tranh, thiên tai ách nạn. Khổ vì thi rớt, vì thất tình, vì của cải bị phá sản, vì thua bài bạc bán hết gia tài, vì bị giựt hụi mất hết một số tiền lớn vân vân và vân vân. Luận về những nỗi khổ ở đời, thì không luận hạng người nào, phái tính nào, ở lứa tuổi nào, ai ai cũng có những nỗi khổ niềm đau riêng, thực khó mà kể ra cho hết được.

Kinh Pháp Hoa nói :

Ba cõi không an
Dường như nhà lửa
Đau khổ dẫy đầy
Thật đáng sợ hãi.

Nhà thơ Xuân Diệu từng cảm xúc trước sự thực nầy, nên đã nói lên :

“Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung”
( Lệ – Xuân Diệu )

Kinh A Hàm Phật cũng nói :

 “Các ông luân hồi sinh tử trong đêm dài vô minh, nước mắt tuôn chảy (vì đau khổ) rất nhiều, còn nhiều hơn nước của sông Hằng và bốn biển.”

Thử nghiệm lại qua những lời Phật dạy và những lời thơ diễn tả trên, thì chúng ta thấy rõ nỗi khổ đau của cuộc đời như thế nào và hơn ai hết thử nghiệm lại chính bản thân mình thì lại càng hiểu rõ hơn.

II. Ý chí kiên quyết là chìa khóa bước đầu

Biết khổ để làm gì ? Biết khổ không có nghĩa là để chúng ta bi quan chán đời. Đó là quan niệm sai lầm cần phải tránh. Đạo Phật chỉ bày nỗi khổ cho ta, để chúng ta nhận ra sự thực cuộc đời. Nhận ra, để chúng ta vươn lên tìm cách thoát ly. Thoát ly, không có nghĩa là trốn chạy đầu hàng hay quyên sinh tự tử. Thoát ly là ta phải tìm cho ra lẽ sống chơn thật và cao thượng hơn. Khi gặp khó khăn bất như ý, ta phải bình tĩnh sáng suốt để tìm nguyên nhân gây ra của sự khó khăn đau khổ đó. Khi làm ăn thất bại hay thi cử không đỗ đạt, hay bất cứ ta gặp sự thất bại nào trên trường tình, Phật dạy, ta phải sáng suốt bình tĩnh để truy tìm nguyên nhân. Không có gì xảy ra mà không có nguyên nhân. Tìm ra nguyên nhân, thì ta mới có thể tìm phương cách để đối phó chữa trị. Sự kiện nầy, đòi hỏi chúng ta cần phải có ý chí kiên quyết. Khi dự tính điều gì mang tính quan trọng, ta cần phải tỉnh táo sáng suốt quyết định. Như ta muốn trở thành một người Phật tử chơn chánh, thì ta cần phải có ý chí cương quyết. Thiếu ý chí nầy, thì tất cả những gì ta muốn sẽ không bao giờ thực hiện thành tựu được. Vì vậy, ý chí là bước đầu để quyết định đời mình đến với đạo Phật bằng một sự cân nhắc kỹ lưỡng thích đáng.



III. Tìm thầy hiền bạn tốt hướng dẫn học hỏi

Sau khi đã có sự quyết định rồi, chúng ta cũng không nên vội vã phải quy y liền. Trước tiên, chúng ta nên tìm thầy bạn để học hỏi những gì mà chúng ta chưa hiểu. Sự tu học là cả cuộc đời ta, chớ không phải chỉ một ngày một bữa. Có nhiều Phật tử, vì thiếu sự tìm hiểu, nên có quyết định vội vàng không như ý muốn, rồi sau đó có những bất mãn xa thầy, xa chùa, bỏ bạn. Điều đó không tốt, ta cần nên tránh. Thầy bạn là người hướng dẫn ta trong việc tu học, nên ta cần phải cân nhắc kỹ càng. Không nên nghe đâu chúc đó mà sau nầy ân hận. Từ ân hận ta trở nên oán trách và xa lánh. Chẳng những thế, ta còn trở lại chê bai nói xấu, thì thật là mang tội rất lớn. Thế nên, trước khi quyết định quy y Tam Bảo, hướng đời mình về với chánh pháp, thì ta nên tìm hiểu học hỏi trước. Khi hiểu rồi, thì sau đó chúng ta quyết định cũng không muộn. Có nhiều Phật tử, sau khi làm lễ quy y Tam Bảo rồi, cả đời không hiểu Phật pháp là gì. Thậm chí hai chữ Tam Bảo và năm cấm giới mà mình đã phát nguyện quy y lãnh thọ trước Tam bảo, cũng không hiểu gì cả. Không hiểu thì làm sao thật hành cho đúng pháp được. Không thật hành đúng, thì làm sao có lợi ích. Chẳng những thế, mà đôi khi làm sai lệch trái ngược lại những điều mà mình đã phát nguyện, thì thật là tội lỗi. Như vậy, làm sao mình xứng danh là người Phật tử ? Chả lẽ Phật tử chỉ có mang danh suông thôi sao ? Và quy y cũng chỉ là quy y suông cho có lệ! Như vậy, thì còn gì là ý nghĩa quy y và như thế thì sự quy y của mình cũng đâu có được lợi ích gì!

IV. Xây dựng niềm tin vững chắc trên cơ sở giác ngộ


Niềm tin rất quan trọng đối với một người mới bước chân và đạo. Nếu niềm tin của chúng ta đặt sai chỗ, không phù hợp với đạo lý giác ngộ, thì đó là một điều tai hại rất lớn. Vẫn biết niềm tin là mẹ đẻ của các công đức lành. Người không có niềm tin, tất nhiên, họ không thể nào làm điều gì có lợi ích cho minh và người. Đạo Phật rất chú trọng đến việc xây dựng niềm tin đúng với chơn lý nhân quả. Khi tìm hiểu về đạo Phật, trước tiên, ta nên đặt định niềm tin của ta trên nền tảng: Tam Bảo, và nhân quả. Nếu chúng ta đặt niềm tin lệch hướng quỹ đạo nầy, tất nhiên, là ta sẽ rơi vào con đường mê tín, tà ngoại. Thế nên, ta cần phải hết sức thận trọng. Đạo Phật lúc nào cũng nêu cao chánh tín, vì có chánh tín thì việc tu niệm của chúng ta mới đúng hướng giác ngộ và như thế mới thật sự có lợi ích trong việc tu hành của chúng ta ở hiện tại và mai sau.

V. Nghiên cứu học hỏi qua Kinh điển sách vở


Người có chút đầu óc khoa học, thì khi họ muốn làm điều gì có tác động ảnh hưởng đến cuộc đời họ, thì họ đều nghiên cứu tìm hiểu thật kỹ càng, trước khi thật hành. Cũng thế, khi ta muốn quy y Tam Bảo để trở thành một người Phật tử chơn chánh, thì trước hết, ta nên tìm hiểu Phật pháp qua Kinh điển sách vở. Khi tìm hiểu, có điều gì ta không hiểu rõ, thì ta nên tìm những vị thiện hữu tri thức có trình độ thông hiểu Phật pháp khá vững chắc, để ta gần gũi học hỏi. Có thế, thì mới khai thông được niềm tin và kiến thức của ta. Bởi Phật giáo có cả một kho tàng Kinh điển, chúng ta học hỏi không biết bao giờ cùng. Vì thế, ta nên dành chút ít thời giờ để tâm nghiên cứu học hỏi Phật pháp. Học hỏi Phật pháp bổ ích cho trí năng của ta rất lớn. Đó là một món ăn tinh thần vô giá. Vì đời sống của ta không phải chỉ có nhu cầu vật chất không thôi, mà cần phải cung ứng cho nhu cầu tinh thần, vì nhu cầu tinh thần cũng rất là quan trọng. Tinh thần là cột trụ, khi nào tinh thần ta được an vui sảng khoái, nhẹ nhàng, thì ta mới cảm thấy hạnh phúc và đời sống của ta mới thật sự có ý nghĩa. Thế nên, ta cần phải giữ quân bình giữa đời sống tinh thần và vật chất. Muốn được thế, thì ta nên trau giồi học hỏi nghiên tầm Phật pháp vậy.


VI. Quyết định cho sự chọn lựa


Sau khi chúng ta hội đủ những điều kiện nói trên, thì bấy giờ ta mới có một quyết định chọn lựa thích hợp. Giữa đôi nam nữ khi họ yêu thương nhau, muốn cho tình yêu sau nầy được bền vững lâu dài, xây dựng gia đình có hạnh phúc, tất nhiên, họ cũng phải có thời gian tìm hiểu chọn lựa thích hợp chính chắn. Nếu không, chỉ vì tình yêu bồng bột bốc đồng nhứt thời, mà thiếu sự tìm hiểu cân nhắc kỹ càng, thì cuộc hôn nhân đó, sau khi sống chung dễ xảy ra những ý kiến xung đột bất hòa và rồi gia đình sẽ dễ đi đến tan rã đổ vỡ. Người có ý thức cẩn trọng trước khi quyết định là phải như thế. Cũng vậy, khi chọn lựa quyết định theo một tôn giáo nào, ta cũng cần có thời gian tìm hiểu kỹ lưỡng trước khi quyết định. Người biết thận trọng là như thế. Không nên có thái độ xưa bày nay theo. Theo như thế, chỉ là một việc làm thiếu ý thức. Và như thế, ta tự hạ thấp cái lý tưởng mà ta đang theo tôn thờ. Đạo Phật rất tôn trọng quyền tự do chọn lựa của mỗi người.

Từ xưa tới nay, đạo Phật không bao giờ bắt buộc hay khuyến dụ một ai. Vì đạo Phật là một chơn lý sống cao thượng. Người theo đạo Phật phải có sự tìm hiểu thích đáng. Như thế, thì mới phù hợp với sự chọn lựa. Đó là một sự chọn lựa có ý thức và hướng đi trong sáng rõ ràng. Không còn là một quyết định mù mờ, bốc đồng nghe theo ai cả. Mà chính ta đã dùng trí năng sáng suốt tìm hiểu kỹ càng. Như vậy, ta không còn lo nghĩ ngỡ ngàng gì hết. Đó là một sự quyết định được phối hợp hòa quyện bởi hai yếu tố: khối óc và con tim. Nghĩa là ta đã có đủ tình cảm và lý trí. Tình cảm là thể hiện bởi niềm tin của ta. Ta đã chuẩn bị cho ta có một niềm tin vững chắc đúng theo chánh pháp. Ta không còn hoang mang lo sợ khi ta đứng trước điện Phật để thọ lãnh Tam Quy và 5 giới cấm. Vì tất cả đối với ta không còn xa lạ nữa. Ta đã có sự chọn lựa đúng hướng và rất phù hợp với niềm tin của ta. Ta đang hướng đời ta về ánh sáng huy hoàng của chánh pháp. Ta biết chắc rằng, đời ta sẽ có nhiều hoa trái hạnh phúc an lạc, khi ta đã trở thành con của một đấng Giác Ngộ. Đời ta khác nào như từ trong bóng tối bước ra ánh sáng . Ta thật vui tươi và hãnh diện cho căn lành của ta hôm nay gặp được Phật pháp. Chỉ có Phật pháp mới thật sự là chiếc phao nổi cứu thoát đời ta ra khỏi sông mê bể khổ. Ôi! Còn niềm vui sướng hạnh phúc nào hơn !

Tóm lại, khi đã quyết định hướng đời mình về với đạo Phật để sớm trở thành một đứa con ngoan của đấng Giác Ngộ, thì ta phải có thời gian chuẩn bị chu đáo thật thận trọng kỹ càng. Một khi đã hạ quyết tâm rồi, ta không còn gì phải ái ngại ngỡ ngàng. Vì ta ý thức rằng, đời ta sống phải có lý tưởng. Vì lý tưởng là chỉ hướng cho thuyền đời và làm nảy hoa trong cuộc sống. Khi ta chọn lý tưởng thích hợp đúng hướng rồi, bấy giờ ta chỉ có một con đường quyết chí tiến lên. Ta quyết định chọn cho ta một con đường sáng suốt, nương nhờ Tam Bảo để học hỏi, để tịnh hóa thân tâm đời ta. Ta sẽ noi theo tấm gương sáng chói của đức Phật để ta bắt chước tu tâm sửa tánh làm theo những công hạnh mà Ngài đã làm để được lợi mình, lợi người trong chiều hướng thánh thiện để hoàn thành tâm nguyện bổn phận của một người Phật tử tại gia: hộ trì chánh pháp. Ta quyết định thực hiện Bi, Trí, Dũng vào đời sống hiện thực. Có thế, thì đời sống của ta mới thật sự có ý nghĩa trong ý hướng xây dựng hạnh phúc cá nhân, gia đình và xã hội vậy. 

 

Nghệ thuật tả trăng trong truyện Kiều

Trăng là đề tài muôn thuở, là nguồn cảm hứng của biết bao văn nhân thi sĩ. Trăng đã cho ta nhiều bản nhạc tình ca bất hủ. Trăng đã có mặt khắp nơi, khắp chốn. “ Không gian dày đặc toàn trăng cả, tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng “ ( Hàn Mặc Tử ) Trăng không những có mặt trong thi ca, trong văn chương, mà nó còn góp mặt trong các môn nghệ thuật hội họa, tạo nên những bức tranh thủy mạc tuyệt tác. Đồng thời nó cũng còn có mặt rải rác khắp trong các Kinh điển của Phật giáo. Trăng là một hình ảnh thiết thân với đời sống con người. Trăng đã giúp cho con người có nhiều cuộc sống thơ mộng. Trong đời người, không ai lại không có đôi lần ngắm trăng và thưởng thức trăng. Tuy nhiên, sự ngắm nhìn thưởng thức đó, nó còn tùy theo tâm cảnh, trình độ nghệ thuật cao thấp, sâu cạn và sự rung động theo nhịp đập của con tim mà mỗi người nhìn ngắm trăng có sai khác. Nhìn trăng dưới con mắt của các vị thiền sư đạt đạo, thì trăng là trăng. Cái nhìn đó, tuyệt đối không có một khái niệm phân biệt. Cái nhìn của các Ngài đã đạt đến chổ siêu nghệ thuật. Nghĩa là :”Tâm cảnh nhứt như.” Ngược lại, đối với các thi nhân thì lại khác. Vốn đã mang sẵn một tâm hồn nhạy cảm, đa tình, yêu nghệ thuật, nên khi ngắm trăng, thì hình ảnh trăng sẽ linh hoạt theo lăng kính của thi nhân. 

Đọc truyện Kiều từ đầu tới cuối, ta thấy cụ Nguyễn Du đã diễn tả đến trăng rất nhiều rải rác trong suốt câu chuyện. Tính ra, có tất cả là 63 câu thơ nói về trăng. Tùy người, tùy cảnh, tùy vật, tùy nơi v.v... mỗi mỗi đều được tác giả diễn tả sao cho thích hợp. Vì vậy, mà ánh trăng cũng theo đó lung linh huyền ảo biến dạng dưới mọi hình thức. Dưới ngòi bút điêu luyện tài tình của tác giả, ta thấy, bất cứ hình ảnh nào tác giả cũng đều diễn tả rất nên thơ duyên dáng và gợi cho người đọc có một cảm nhận rất đẹp về hình ảnh của vầng trăng, cũng như những biến trạng của hoàn cảnh,và sự vật đã diễn ra một cách rất linh hoạt. Sau đây, xin mời bạn đọc cùng chúng tôi, chúng ta sẽ tuần tự tìm hiểu sơ qua một vài nét về nghệ thuật diễn tả đó của tác giả.

Khi diễn tả gương mặt xinh đẹp của Thúy Vân, để thấy nét đẹp đó có đôi nét khác biệt với Thúy Kiều, thay vì tác giả nói thẳng, nhưng không, ở đây tác giả lại mượn hình ảnh nên thơ duyên dáng của mặt trăng để diễn tả gương mặt của Thúy Vân: 



Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.


Như thế, ta có thể hình dung được gương mặt và cung cách nghiêm trang của Thúy Vân rồi. Tất nhiên là một gương mặt tuyệt đẹp tròn trịa như trăng rằm. Hai chữ “ Đầy đặn” vừa nói lên ý nghĩa tròn trịa của một người con gái đầy phúc hậu, mà cũng vừa diễn tả cái gương mặt cân đối với mày ngài.( Mày ngài dịch từ chữ Nga Mi của Tàu. Con Ngài ( tức thứ bướm cắn kén tằm ra ) ở đầu có 2 cái râu nhỏ, dài và cong; người ta ví cái lông mày dài, thanh, cong cong bán nguyệt của người con gái đẹp với râu con ngài nên gọi là Nga Mi hay mày ngài. Nét ngài nở nang, ý nói lông mày của Thúy Vân cong cong, dài như mày ngài nhưng nở nang, tức là lông mày hơi thô, to bản. Mặt dày dặn phúc hậu thì phải có lông mày như thế mới xứng. ( Chú giải của Vân Hạc ) Chỉ dùng hai chữ” khuôn trăng” là đủ gợi cho người đọc hình dung ra được cái gương mặt sáng láng tuyệt đẹp của Thúy Vân. 



Khi diễn tả dung mạo của một chàng thư sinh, thì:

Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau lưng theo một vài thằng con con.



Bốn chữ :” lưng túi gió trăng”, dịch từ chữ Tàu Bán nang phong nguyệt, phong nguyệt hay gió trăng đây là chỉ cho thi văn, vì các văn nhân thi sĩ thường hay ngâm thơ vịnh nguyệt. Túi gió trăng là có ý nói túi thơ, để ngầm ám chỉ cho anh chàng thư sinh Kim Trọng. Đọc câu thơ trên, tác giả không dùng chữ thư sinh, mà chỉ dùng 4 chữ lưng túi gió trăng, để cho người đọc có thể tìm hiểu và hình dung ra được cái dáng dấp của anh chàng thư sinh đó như thế nào. Thật là một nghệ thuật diễn tả tài tình.

Nói về thời gian và không gian của sự việc xảy ra, tác giả viết:


Gương nga chênh chếch nhòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.



Gương Nga tức là mặt trăng sáng như gương. Nga tức là thường Nga hay Hằng Nga là tên vợ Hậu Nghệ xưa ăn vụng thuốc trường sinh của chồng trốn lên mặt trăng. Do điển tích nầy mà về sau người ta dùng trong văn chương để chỉ cho mặt trăng. Ở đây, tác giả cho chúng ta thấy một hình ảnh tuyệt đẹp. Hai chữ chênh chếch là diễn tả bóng mặt trăng chiếu soi xuyên qua cửa sổ vào trong nhà. Bấy giờ là đầu tháng ba. Mặt trăng đầu tháng là mặt trăng lưỡi liềm, giống như là con mắt của con người. Mặt trăng lưỡi liềm soi vào lỗ cửa sổ, như con mắt người ta dòm vào nhà.

Tả cảnh như thế thật là vừa sát nghĩa mà lại vừa linh động, cũng vừa nói lên khoảng thời gian rõ rệt. “ Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân”. Câu nầy, tác giả cho chúng ta một hình ảnh thơ mộng tuyệt đẹp của đêm trăng. Vàng là chỉ cho ánh trăng gieo xuống nước giống như thoi vàng, vì ánh trăng màu vàng. Hai chữ ngấn nước là diễn tả mặt nước có hơi gợn sóng lăn tăn chớ không phải phẳng lặng như tờ. Vì gợn sóng lăn tăn, nên mặt nước tạo thành như có ngấn. Cả câu có nghĩa là: ánh trăng gieo xuống dưới nước giống như thoi vàng và bóng cây thì in đậm nét trên sân. Hai câu nầy, tác giả vừa tả cảnh mà cũng vừa tả tình. Nói lên tâm sự của nàng Kiều . Tâm sự đó như thế nào ? Tâm sự đó đã được tác giả diễn tả qua 2 câu như sau: 



Một mình lặng ngắm bóng Nga
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.

Hai chữ “ Một mình “, nói lên sự đơn độc, không những đơn độc về thể xác mà đơn độc cả tinh thần. Vì sau khi Kiều đi dạo chơi gặp Kim Trọng, một chàng trai tuấn tú, không những đẹp trai mà còn có học thức nữa, thật xứng với Kiều. Cho nên lần đầu gặp gỡ đó, không phải gặp gỡ đơn thuần như khách qua đường mà là:“Tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Hay “ khách đà lên ngựa, người còn nghé theo”. Mới lần đầu gặp nhau mà lòng Kiều đã thấy xao xuyến luyến lưu rồi. Hoa tình yêu đã bắt đầu chớm nở trong lòng. Kể ra người con gái kín cổng cao tường nầy cũng khá lãng mạn đó chứ!

Chính vì thế, mà giờ đây Kiều ngồi một mình trong một căn phòng vắng lặng, nhớ lại hình ảnh tuyệt đẹp đầy mộng mơ vừa mới xảy ra hồi ban chiều, nên Kiều bắt đầu có chút tư lự về hình bóng của chàng trai hào hoa thư sinh đó.


Cả câu: “Một mình lặng ngắm bóng nga“. tác giả vừa cho chúng ta biết thời gian mà cũng vừa nói lên một khía cạnh tâm lý thật là độc đáo. Thông thường, người ta có một tâm sự gì buồn phiền mà không biết phải bày tỏ cùng ai, và ai là người để cho mình bày tỏ, tức nỗi lòng biết ngỏ cùng ai, nhứt là người mang tâm sự đó lại là một cô gái, đang ở vào cái tuổi thanh xuân mộng mơ, cho nên những lúc có tâm sự như thế nầy, thì chỉ biết ngồi một mình than thở nhìn ngắm ánh trăng, như để thổ lộ tâm sự giải bày nỗi lòng cùng với chị Hằng. Và để cho chị Hằng chia sẻ phần nào cái nỗi lòng trắc ẩn bi thương tâm sự đó của mình. Nhưng niềm tâm sự đó, không phải chỉ đơn thuần là nhớ người khách thư sinh đó thôi; mà còn nhớ đến thân phận của nàng con gái hồng nhan bạc phận: không cha không mẹ, không cửa không nhà, không một người thân thuộc, đem thân làm ca nữ mua vui cho khách đa tình, cuối cùng rồi chỉ còn trơ lại một nấm mồ hoang lạnh vô chủ không người săn sóc. Người con gái bạc phận vô phúc đó, chính là Đạm Tiên.



Thấy người nằm đó, chạnh lòng mà nghĩ đến ta. Vì vậy cho nên, bao nhiêu những ý nghĩ gần xa ngổn ngang rộn lên trong lòng Kiều. Cảnh thương nhớ cũng có, cảnh buồn tủi cũng có, tất cả như quyện vào nhau tạo thành một tâm sự bất an. Thế là, chỉ có một buổi chiều ra ngoài ngoạn cảnh mà Kiều đã trở thành người con gái mất hẳn đi tính chất hồn nhiên ngây thơ . Kiều đã bắt đầu có nội kết. Một nội kết khởi điểm mà cũng là một nội kết kéo dài suốt cuộc đời sau nầy. 



Rồi cũng nói về thời gian, nhưng lại ở một thời điểm khác, tác giả viết :



Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu.



Câu thơ trên, tác giả cho chúng ta biết thời gian đã khuya. Do đâu biết thế ? Do vì những chữ chênh chênh và xế mành. Nhưng chữ xế mành mới là quan trọng. Vì xế mành có nghĩa là bóng trăng chiếu vào tấm mành mành treo ở cửa. Hai câu nầy, tác giả cũng cho chúng ta biết về thời gian thì đã khuya, về nhơn vật Thúy Kiều thì vẫn còn ngồi một mình bên can ( triện ) dần dần ngủ đi lúc nào không hay biết.



Ở một đoạn khác, cũng nói về thời gian, nhưng sự tình thì có khác :



Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.



Tuần trăng khuyết, ý nói là một tháng qua. Vì trăng hết tròn rồi lại khuyết. Trăng tròn là vào giữa tháng ( rằm ) càng về sau trăng càng khuyết dần, khuyết cho đến khi nào hết thấy trăng là biết đã vào cuối tháng ( 30 ) . Còn đĩa dầu hao là ý nói: Kim Trọng sau khi gặp Kiều trao đổi tâm tình, từ đó bị tiếng sét ái tình đánh trúng tim đen, làm cho chàng Kim ta ngày đêm mong nhớ, cho nên đêm đêm không ngủ được, vì chông đèn ngồi đó thức rất khuya mà không có học hành gì nổi, chỉ làm phí đi nhiên liệu dầu đốt một cách vô ích mà thôi.



Ngày nay, chắc cũng có nhiều chàng Kim thời đại, cũng mơ mộng ngồi đó tưởng nhớ đến nàng, sách vở thì xếp lại để trên bàn, chỉ có điều khác là Kim Trọng bị tốn hao dầu, còn bây giờ đèn điện, nên chỉ tốn tiền điện, mà tiền điện thì có cha mẹ trả lo gì. Mặt mơ tưởng mặt, ý tác giả dùng hai chữ mặt trùng điệp như thế, mục đích là để nhấn mạnh Kim Trọng luôn luôn mơ tưởng đến gương mặt tuyệt đẹp của Thúy Kiều. Đã nhớ như thế, thì còn tâm trí đâu mà học với hành.



Ngày xưa, nếu đã lỡ thương nhau mà không điều kiện cơ hội để gặp mặt nhau, thì đành phải ôm ấp cái hình ảnh của người đẹp để tương tư mơ tưởng, chớ đâu phải như bây giờ thời đại tân tiến nguyên tử có mobile phone nằm trên giường nói chuyện với em cho thỏa lòng mong nhớ. Nếu không dùng mobile thì chỉ cần mở máy computer, tức tốc nói chuyện với người yêu bằng email thôi. Do vậy, nghĩ lại cũng thật thương và tội nghiệp cho anh chàng họ Kim sanh ra không đúng thời, để rồi phải ôm ấp một khối yêu ngồi đó mơ tưởng đến người đẹp, để phải hao tốn dầu một cách vô ích. Thật là tội nghiệp !



Để diễn tả thời gian yêu thương kéo dài, cụ viết:



Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai.



Hai câu nầy, ý nói : Kể từ khi Kim Trọng thuê nhà của một ông thương gia để tạm trú học hành, ngôi nhà trọ nầy lại ở gần của nhà Kiều, tính từ lúc mới đến ở trọ đến nay, thời gian khoảng hai tháng, tức hai tuần trăng.
Theo dòng thời gian chảy trôi, ngày lại tháng qua, hết xuân tới hạ, để diễn tả về thời tiết, cụ viết :



Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.



Ngày gió đêm trăng là chỉ cho thời gian cứ thầm lặng đắp đổi thay nhau hết đêm tới ngày, hết ngày tới đêm... Câu dưới là tác giả lấy ý từ trong câu : Lục ám hồng hi xuân khứ dã. Câu nầy ở trong sách Tây Sương Ký, có nghĩa là : màu xanh um lên, mầu đỏ ít đi, xuân đi vậy. Thưa hồng ( hồng hi ) nghĩa là hoa đỏ ít đi, rậm lục (lục ám ) nghĩa là lá xanh mọc rậm lên, ý nói mùa xuân sắp hết, mùa hạ sắp sang. Đã chừng là đã đến lúc, đến kỳ, đến độ.
(Chú thích của cụ Vân hạc)

Thử tìm hiểu vài nét về việc hành xử qua ngôn ngữ của Kiều

Truyện Kiều, từ xưa tới nay đã có rất nhiều học giả, nhà văn, nhà thơ tranh luận bàn cãi phân tích viết về tác phẩm nầy. Mỗi người nhìn mỗi khía cạnh khác nhau. Có thể nói, thật là muôn màu muôn sắc, làm cho truyện Kiều càng thêm nổi bật qua đủ mọi gốc độ của mỗi cách nhìn. Từ văn chương đến luân lý, từ tôn giáo đến triết lý, từ nhân vật đến xã hội v.v… Người ta đã bỏ ra rất nhiều tâm huyết công sức để nghiên cứu phê bình. Vì đó là một tác phẩm rất có giá trị nổi tiếng vô tiền khoáng hậu. Có thể nói, trước và sau, chưa có một tác phẩm nào sánh vai ngang hàng với truyện Kiều của nhà thơ kiệt tác Đại Thi Hào Nguyễn Du. Nhiều nhà văn, họ có thể dành hết cuộc đời để chuyên nghiên cứu tra khảo viết ra nhiều tác phẩm, tìm hiểu đánh giá truyện Kiều qua nhiều lãnh vực khác nhau. Như trường hợp nhà văn Phạm Đan Quế chẳng hạn. Ông đã viết có khoảng trên 10 tác phẩm nói về truyện Kiều. Ngần ấy, đủ cho chúng ta thấy, giá trị của truyện Kiều quả thật là siêu việt. Nói theo Thiền Sư Nhất Hạnh, tác phẩm truyện Kiều được xem như là một quyển Kinh, hơn là một loại sách Dâm Thư như đã có những nhà Nho kỳ thị cực đoan phê bình, lên án.



Là kẻ hậu học, xét mình chữ nghĩa chưa đầy lá mít, làm sao tôi dám có cái cao vọng viết gì về truyện Kiều. Tuy nhiên, vì từ lâu vốn đã quá hâm mộ văn chương và hơn nữa lại đam mê đọc truyện Kiều, có lẽ vì quá thương nàng Kiều chăng, hay là đồng cảm xót thương phần nào với cụ Tiên Điền Nguyễn Du, mà cụ đã gởi gắm cái tâm tư thầm kín thân phận của mình cho nhân vật chính của cốt chuyện là Thúy Kiều. Có thể là tôi đồng cảm thương kính hết cả hai không chừng. Tuy nói là hai, nhưng ngẫm xét kỹ cũng chỉ là một mà thôi.



Nhìn qua hình ảnh Kiều, tôi vô cùng cảm thương cho một cô gái đã lận đận trải qua nhiều sóng gió dồn dập thương đau. Tuổi xuân sanh, tài sắc vẹn toàn, tình yêu đầu đời chưa trọn hưởng, rồi phút chốc gia đình lâm nạn đành phải hy sinh chịu cảnh bán mình chuộc cha. Tất cả cũng chỉ vì muốn cho gia đình được yên ổn. Thà để một mình, mình gánh chịu hết mọi khổ nhục đắng cay miễn sao cứu được cha già khỏi chết là đủ rồi! Thử hỏi đời nay, có cô gái nào dám hy sinh cuộc đời nhan sắc tài hoa trinh tiết của mình mà cứu lấy cha già và gia đình như thế không? Điều đó, xin để mỗi người tự xét và trả lời lấy.



Ở đây, chúng tôi không dám luận bàn đi sâu vào cuộc đời của Kiều nhiều. Dù Kiều đã trải qua 15 năm luân lạc, 6 đời chồng, 5 lần đám cưới vào ra thanh lâu 2 lần, gặp bao nhiêu cảnh ngộ gian truân éo le long đong chìm nổi, nhưng trước sau Kiều vẫn giữ ngôn từ hòa ái với mọi người, dù người đó là kẻ thù nhứt của Kiều. Người đó đã từng lường gạt, hành hạ, mạt xát Kiều thậm tệ. Trường hợp như Hoạn Thư, Tú Bà, Mã Giám Sinh hay tay Sở Khanh chẳng hạn. Thậm chí khi Kiều được người anh hùng Từ Hải chuộc ra khỏi thanh lâu làm đám cưới vẻ vang tiền hô hậu ủng linh đình, cờ xí tung bay rợp trời, đón rước cô dâu, từ một người hèn hạ bán mình vào thanh lâu mà nay lại đường đường là một mệnh phụ phu nhân. Thử hỏi ở vào địa vị quyền cao trọng vọng như thế, thì ngôn ngữ người ta sẽ đối xử thốt ra lời nói đối với những kẻ thù oán của mình như thế nào?



Ở đây ta thấy, Kiều đã ứng xử dùng lời ái ngữ theo tinh thần hòa nhã yêu thương từ bi của đạo Phật. Mặc dù trước kia Kiều có đi tu, chẳng những một lần mà tới 3 lần. Lần ở Quan Âm Các của Hoạn Thư, rồi đến ở tu với Sư Bà Giác Duyên, cuối cùng ở thảo am do Sư Bà giác Duyên cứu sống ở sông Tiền Đường rước về. Tất cả những lần tu đó, hoàn toàn không phải do ý Kiều muốn đi tu, mà tất cả do định mệnh trớ trêu đưa đẩy, thế thôi. Như thế, thì sự ảnh hưởng theo tinh thần từ bi, vị tha, bình đẳng, hỷ xả …của đạo Phật cũng chưa đủ tác động ảnh hưởng sâu đậm vào tâm tưởng của Kiều. Phải chăng đây cũng là phần lớn là do tự bản chất của Kiều, một cô gái dù đã trải qua nhiều hoàn cảnh sóng gió đẩy đưa, nhưng trước sau vẫn giữ được tính chất thuần hòa hiền hậu của mình. Cụ thể là Kiều đã hành xử với mọi người ân cũng như oán bằng những ngôn từ hòa ái từ tốn dịu ngọt, dễ nghe.



Bây giờ, chúng ta thử lần lượt xét qua một số trường hợp về cách ứng xử ngôn từ của Kiều đối với mọi người qua từng hoàn cảnh một. Thật ra, một phần năm truyện Kiều với 652 câu thơ, cụ Nguyễn Du đã dành cho Kiều phát biểu. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu ra một số đoạn để thấy rằng lời nói của Kiều như thế nào. Có phải là: “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” hay không?



Trước hết, Kiều nói năng với những người thân trong gia đình. Người mà nàng có thể gởi gắm tâm sự, tất nhiên phải là Vương Bà. Người con gái trong gia đình, khi gặp cảnh ngộ buồn vui đều đem ra thỏ thẻ tâm sự với mẹ. Đó là tâm lý thường tình của người con gái từ xưa tới nay là như thế. Kiều sau khi dạo chơi trong một buổi chiều vào tiết thanh minh, gặp mã Đạm Tiên, lòng nàng bắt đầu có gợi lên một thoáng buồn và đêm lại nằm mộng thấy Đạm Tiên hiện về báo mộng.



Sau khi tỉnh giấc, Kiều liền đem nỗi buồn đó thỏ thẻ bằng lời nói dịu dàng cho mẹ nghe. Để mẹ có thể phân giải chia sẻ phần nào cái nỗi niềm tâm sự đó. Khi nghĩ đến người ca kỷ không may lại phải chịu cảnh hồng nhan bạc mệnh như thế, không biết rồi đây tương lai đời mình sẽ ra sao?! Nhứt là khi nghĩ đến cái công ơn sanh thành giáo dưỡng của cha mẹ, thật quá lớn lao sâu nặng, mà phận làm gái nữ nhi thường tình còn ngây thơ không biết mai đây sẽ thế nào, có được gần gũi sớm hôm để lo đền đáp báo hiếu cho cha mẹ được không? Đó là nỗi lòng lo lắng xót xa cho thân phận của mình qua hình ảnh của Đạm Tiên mà Kiều đã tư lự về thân phận bạc mệnh của nàng con gái bất hạnh đó. Thế là, Kiều trút hết nổi lòng tâm sự đó với mẹ, bằng những lời lẽ thật đượm buồn, thầm kín, ưu tư, xót xa.

Thưa rằng chút phận ngây thơ
Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên.
Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
Đoạn trường là số thế nào
Bài ca thế ấy vịnh vào thế kia
Cứ trong mộng triệu mà suy
Phận con thôi có ra gì mai sau!


Điều mà chúng ta thật vô cùng cảm động khi Kiều đã thật sự bán mình cho họ Mã. Nàng đã thốt ra những lời lẽ chứa chan bao nỗi ân tình, vừa tủi hổ cho phận mình; vừa nghĩ đến công cha nghĩa mẹ tình nghĩa nặng mang cao thâm như núi biển, rồi biết đến bao giờ nàng mới có dịp trả ơn cho cha mẹ đây! Nàng than thân, rằng, mẹ ơi! rồi đây bao nỗi đắng cay hệ lụy, muôn dặm xa khơi, nghìn trùng xa cách, phân ngã đôi đường, trôi nổi nơi xứ lạ quê người, không biết thân phận của con sẽ đục trong ra sao?! Mỗi bước chân con đi là mỗi bước nghe cõi lòng nặng trĩu dường như tan nát. Con cảm thấy thật đau lòng khi phải chia ly rời xa cha mẹ, các em và mái nhà êm ấm đầy kỷ niệm ấp yêu nầy. Mẹ ơi! rồi mai đây, không biết bao nhiêu phong ba bão táp của cuộc đời đầy nghiệt ngã đau thương phủ lên đầu con trẻ. Càng nghĩ đến, con càng cảm thấy chua xót chạnh lòng quá mẹ ơi! Thôi thì, trăm năm con xin từ tạ để lại cho mẹ cha bằng tất cả tấm lòng thương nhớ của con xin được gởi gắm lại đây.


Hổ sinh ra phận thơ đào,
Công cha nghĩa mẹ, kiếp nào trả xong?
Lỡ làng nước đục bụi trong,
Trăm năm để một tấm lòng từ đây.


Lời lẽ tâm sự trưóc giờ phút chia ly của kẻ ở người đi thật vô cùng áo não xót xa tội nghiệp. Không biết các cô gái Việt Nam ngày nay, khi bán mình ra đi ngoài muôn dặm trường ở các nước khác như Đài Loan, Hàn quốc… không biết có dùng lời nói dịu dàng nhỏ nhẹ bi lụy khóc than cho số phận của mình như nàng Kiều hay không? Kiều vì hoàn cảnh gia đình bất khả kháng đành phải chấp nhận hy sinh trọn vẹn vì chữ hiếu mà phải đem thân bán mình để chuộc cha. Có lẽ, ngày nay, cũng có lắm cô gái VN cũng có cùng một tâm cảnh như Kiều. Nhưng không đến đổi phải bị bức xúc giải quyết tình cảnh thật bi đát khổ đau nhức nhối thương tâm như Kiều. Nhưng tựu trung, phần lớn cũng chỉ vì gia đình hơn là vì tình yêu. Tình yêu sao được, kẻ ở tận trời Nam người ở xa phương Bắc, chưa một lần thấy mặt nhau, chưa một lần hẹn hò trao đổi tâm sự gì với nhau, bỗng phút chốc thành hôn vợ chồng, như thế thì thử hỏi làm gì có tình yêu? Tất cả cũng chỉ vì tiền hơn là tình.

Vì giải quyết đời sống cá nhân cũng như gia đình mà phải chịu gởi phận mình lấy chồng nơi xứ lạ. Đó cũng là một thảm cảnh mà các cô gái VN hiện nay đã và đang gánh chịu. Có nhiều cô lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã trớ trêu đau thương ngút ngàn, không biết phải thổ lộ tâm tình cùng ai? Có bao giờ dám nói lên sự thật với cha mẹ và người thân đâu? Nếu Kiều xưa kia, vì hoàn cảnh gia đình bán mình vào ra thanh lâu, thì ngày nay, cũng có biết bao cô gái đã bán mình rồi cũng chịu cảnh đọa đày bị ép buộc bán mình vào làng chơi. Nghĩ đến tình cảnh chia ly xa quê hương xứ sở, cha mẹ, anh em, thân thuộc bà con láng giềng của Kiều, mà chúng ta thấy thật xót xa tội nghiệp! Càng thương tội nghiệp cho Kiều, chúng ta lại càng thương cảm xót xa cho những cô gái VN bất hạnh ngày nay phải xa quê hương trong tình cảnh thật là não nùng đau thương chịu nhiều khổ lụy đắng cay…

Sau khi trải qua một đêm mưa gió nặng nề, ngẫm lại, thật là ê chề ngao ngán cho cuộc đời. Kiều đã có ý quyên sinh, cầm dao toan tự sát, kết liễu cuộc đời. Trong khi đó, bỗng dưng những hình ảnh cha mẹ, những người thân yêu thương ruột thịt bất chợt lại hiện lên tràn ngập trong ký ức của nàng. Thế là, Kiều liền nghĩ đến cha mẹ, nên bỏ ý định quyên sinh và giấu con dao mang theo bên mình khi cần đến. Kiều thốt ra những lời lẽ thật bi thương, rằng, từ nay nàng sẽ để lại cho cha mẹ bằng tất cả tấm lòng nhớ thương cha mẹ. Thật là lời lẽ của một người con gái chí tình chí hiếu. Vì nghĩ đến cha mẹ, mà mình không nỡ ra tay tự sát.

Đây cũng là tấm gương trong sáng, cho các thanh thiếu niên nam nữ hiện nay. Khi gặp cảnh ngộ khổ đau tràn ngập xảy ra đến bước đường cùng, người trẻ lại thiếu bình tĩnh sáng suốt, chỉ nghĩ đến cho riêng phần mình, mà không đoái hoài đến những người thân thương như cha mẹ, rồi ra tay tự kết liễu cuộc đời. Đó là một trong muôn ngàn thảm họa mà các thanh thiếu niên nam nữ ngày nay đang trên đà tự hành hạ hủy diệt bản thân mình. Làm cho cha mẹ ngày đêm phải đau lòng thương nhớ buồn tuổi khóc than! Thật là đau khổ tội nghiệp cho cha mẹ quá! Ở đây, ta thấy Kiều tuy ở vào trang tuổi mười sáu, với lứa tuổi xuân xanh vẫn còn hồn nhiên ngây thơ trong trắng, nhưng nàng vẫn có đủ trí khôn sáng suốt để giữ lại mạng sống của mình, không tự vẫn một cách vô ý thức như thế được.

Nàng đã thổ lộ phơi bày tâm sự của mình, bằng những lời lẽ thật chân tình và tràn đầy hiếu hạnh:

Xót thay huyên cỗi xuân già,
Tấm lòng thương nhớ, biết là có nguôi.

Kiều biết rằng, mình đã mắc mưu rơi vào tay của kẻ bất lương chuyên môn đi lừa gạt, cho nên trước kia nàng đã có ý định là toan tự tử, nhưng nàng đã kịp thời thức tỉnh, nếu nàng làm như thế e sẽ gây ra họa lụy cho song thân của nàng. Nhưng bây giờ thì quả thật nàng đã mắc tay bợm già. Một thứ hạng người chuyên lường gạt lừa đảo thiên hạ, nhứt là đối với những cô gái còn ngây thơ trong trắng nhẹ dạ dễ tin người, mới bước chân chập chững vào đời. Đây là thứ hạng người mà ta thấy họ đang hành nghề móc nối lừa gạt buôn người như ở Việt Nam hiện nay.



Họ là thứ “lái người” chuyên đi bắt mối làm trung gian môi giới mua bán người. Họ chỉ nghĩ đến túi tiền ai khổ sở sống chết mặc ai. Người mà họ đứng ra làm mai mối không cần biết người đó thuộc hạng người gì, tốt hay xấu ra sao không cần quan tâm để ý tới. Miễn sao sự giao kèo hợp đồng giữa kẻ bán người mua sòng phẳng trao chác tiền bạc với nhau là được. Thật là tội nghiệp cho các cô gái bị bán mình mà không hề hay biết. Rồi cha mẹ cũng không cần biết đến thân phận của con mình ngày mai sẽ ra sao? Vì nghèo khổ, vì đói khát bệnh tật, vì cần tiền phải giải quyết bao thứ nợ nần chồng chất, hay vì mọi thứ nhu cầu nào khác, mà đành phải âm thầm gạt lệ bán đi con mình. Khi bán đi (trá hình bằng một đám cưới lấy lệ cho hợp pháp) cha mẹ cũng không biết lai lịch người mà họ mang con mình đi đó ra sao? Họ sẽ hành hạ bạc đãi con mình thế nào? Giờ đây, trước mắt, chỉ cần tiền để giải quyết trong cuộc sống, còn những việc khác sướng hay khổ của con mình ra sao, cũng không cần quan tâm biết đến. Đó là một hệ quả của nghiệp duyên, duyên nghiệp nhiều đời trong tương quan hệ lụy thật là vô cùng đau xót! Họ cứ bỏ tiền ra là được tất cả. Quả thật đúng như lời cổ nhân đã nói: “Có tiền mua Tiên cũng được”.



Kiều đã thật sự rơi vào tay họ Mã. Mắc phải tay bợm già quái gở thật đáng ghê sợ! Đây ta hãy nghe lời lẽ của Kiều thốt ra bằng tất cả tâm can trong niềm đau tuyệt vọng:

Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng.
Khi ăn khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ, xem thường xem khinh.

Kiều đã khóc than kể lại sự tình rất tỉ mỉ hành động bất hảo của gã họ Mã. Một con người không có lương tâm nhân phẩm của một con người. Hành xử thật thô bỉ sỗ sàng, từ hành động cho đến lời ăn tiếng nói nhứt nhứt đều không giống một con người chút nào. Đến đây, nàng đã quá rõ sự tình âm mưu của họ, nhưng còn biết cách nào hơn, khi con cá đã nằm trên tấm thớt. Họ muốn hành hạ như thế nào cũng phải đành cam chịu mà thôi. Tâm cảnh nầy, phải nói đa số các cô gái VN hiện nay khi đã lọt vào nằm trong vòng tay của những anh chàng họ Mã Đài Loan và Hàn Quốc rồi, thì còn biết than van với ai nữa đây! Thân phận cá chậu chim lồng, vùng vẫy cách nào thoát ra được. Khi đã lâm vào tình cảnh éo le ngang trái nầy, Kiều chỉ còn biết than thân trách phận với chính mình và rồi tâm sự phơi bày khúc nôi tận đáy lòng với mẹ, bằng những lời lẽ thật thiết tha trong cảnh tình tràn đầy đau khổ. Thật đáng thương xót lắm thay!

Khác màu kẻ quý người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.
Thôi con còn nói chi con,
Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người!

“Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người”. Một câu nói thật quá đau lòng của nàng. Bây giờ, biết nói sao hơn, chỉ còn có cách đó thôi. Sống nhờ đất khách, nếu là đất khách tốt biết bảo bọc đối xử trong tình người, thì nên lạy đất khách đó để mà gởi thân sinh sống. Ngược lại, gặp đất khách chẳng ra chi, không có chút tình người, họ đối xử với mình quá ư tệ bạc, hành hạ thua một con súc vật, thì thử nghĩ đất khách đó sao đây? Dĩ nhiên, là thác phải chôn quê người rồi. Nhưng khổ nỗi, ở đây, chưa thác mà đã bị coi như là đã chôn sống rồi. Kéo dài một ngày là đau khổ ngút ngàn một ngày. Nếu thác được thì đỡ, đằng nầy dở sống dở chết, thứ đó mới thật là đau khổ tận cùng. Ai hiểu được tâm cảnh thân phận của Kiều khi xưa và các cô gái VN giống như Kiều ngày nay?!



Đó là những lời lẽ bi thiết đầy chân tình của Kiều khi bộc bạch thổ lộ tâm sự với mẹ là Vương Bà. Đến đây, ta thử xét xem lời nói của nàng đối với Vương ông như thế nào. Vương ông, một người cha già thật vô cùng đau khổ, trước cảnh gia biến xảy ra thật quá đột ngột bất ngờ. Trong hoàn cảnh không may xảy ra trớ trêu bị bọn bất lương vu oan giáng họa như thế, Vương ông vì quá phẫn uất không thể cam tâm nhẫn nại chịu nổi cảnh nầy, nên toan định liều mình tự tử. Thấy thế, Kiều không thể để cho cha chết một cách thảm thương oan ức vô lý như thế được, nên nàng đã phải dùng hết lời lẽ thâm tình dịu ngọt thiết tha để an ủi cha già trong cảnh hoạn nạn nầy.

Đứng trước hoàn cảnh tang thương bi đát đó, nàng là phận gái lại là người chị cả đầu đời, tất nhiên, nàng phải có phần nào lãnh lấy trách nhiệm để khuyên can cha. Lời khuyên của nàng thật là từ tốn đậm đà tình nghĩa của một người con gái còn thơ ngây. Kiều đã bày tỏ tận đáy lòng của nàng, nàng thưa với cha rằng, phận con là gái chẳng có sá gì, xin cha hãy để cho con bán mình thay cha, vì con chưa đáp đền công ơn sanh thành của cha mẹ. Hơn nữa, con cảm thấy rất hổ thẹn không bằng nàng Oanh xưa kia đã dâng thư lên vua xin tha tội cho cha nàng. Cũng như người con gái Lý Ký vì gia cảnh cha mẹ nghèo nàn, nên tự nguyện bán mình để đem tiền về nuôi cha mẹ. Hôm nay đây, cha mẹ cứ xem con như nàng Lý Ký xưa kia là được rồi. Đây ta hãy nghe lời nàng thổ lộ phân trần khuyên cha:

Vẻ chi một mảnh hồng nhan,
Tóc tơ chưa chút đền ơn sanh thành.
 Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lý bán mình hay sao?


Nói thế, nàng sợ rằng những lời khuyên can đó, cũng không làm cho cha nàng dẹp bỏ ý định. Dù tuổi đời của nàng chưa lần nào va chạm trải nghiệm thử thách với cạm bẫy của cuộc đời, nhưng ở đây, ta thấy nàng dùng những lời lẽ thật khôn ngoan lễ độ như là một người đã sành sõi trải nghiệm già dặn. Nàng lập luận rất hữu lý để thuyết phục người cha phải nghe theo nàng mà bỏ đi ý định tự tử. Lời nói của nàng bày tỏ với cha như là một người đã trưởng thành có đầy kinh nghiệm từng trải với đời. Nàng lý luận rằng: tuổi cha càng ngày càng cao, mà hiện tại nếu trong nhà thiếu vắng cha, thì mọi người làm sao có thể chống đỡ mọi nghịch cảnh phong ba đau thương có thể xảy đến. Cha là trụ cột của gia đình, khác nào một cây gánh vác bao nhiêu cành. Còn con dù sao cũng là phận gái, nữ sanh ngoại tộc, đã thế, thì trước sau gì con cũng phải rời xa mái ấm gia đình. Vậy, con tha thiết hết lời khuyên cha hãy để cho con bán mình, nếu không thì cửa nhà nầy sẽ tan nát hết. Đây ta hãy nghe nàng dùng lời lẽ để thưa với cha:

Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.
Lòng tơ dù chẳng dứt tình,
Gió mưa âu hẳn tan tành nước non.


Lời khuyên của nàng cũng chưa dứt khoát ngừng hẳn ở đó. Vì nàng thừa biết tánh tình của cha nàng rất cứng rắn, thật khó mà bỏ ý định. Nên nàng đã suy nghĩ dùng lời để khuyên tiếp. Nàng nói rằng, thà hãy để một mình con chịu, như hoa kia có tàn đi, nhưng lá vẫn còn xanh. Ý nói, con ra đi rồi, coi như cuộc đời đã tàn héo như hoa, nhưng bù lại cả gia đình mẹ cha và các em con đều được an ổn vẹn toàn, giống như hoa tàn mà lá vẫn còn xanh tươi. Cha cứ coi con như đã chết từ lúc còn nhỏ, khác nào như cây ra hoa thành nụ mà không đậu để kết thành quả, tức sinh ra mà nuôi không được. Đây ta hãy nghe nàng thổ lộ tâm tình để thuyết phục cha:

Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,
Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh.

Nếu như cha còn mãi nghĩ quẩn tính quanh, chỉ càng thêm rắc rối vô ích mà thôi. Vả lại, không thể nào cứu vãn được tình thế cấp bách hiện giờ một khi mà người ta đã cố tình gây ra tai họa cho nhà mình. Nếu như cha không để cho con bán mình, thì cả nhà sẽ mang họa chuốc lụy vào thân, tất cả đều tan nát hết mà cha cũng không thể nào giữ toàn tánh mạng được.


Cũng đừng tính quẩn lo quanh,
Tan nhà là một, thiệt mình là hai.


Qua bao nhiêu lời lẽ khuyên lơn an ủi phân trần, xuất phát từ tấm lòng chân thật của một người con gái tuổi độ xuân thì, kết quả là nàng đã thuyết phục được cha nàng. Vì tất cả những lời thốt ra của nàng đã làm cho ông cha phải xiêu lòng đổi ý. Ông nghĩ rằng, đó là những lời nói thật là chí tình hữu lý nên ông nghe theo. Thật không còn những lời lẽ nào hơn bằng những lời lẽ tràn đầy tình nghĩa trưóc cảnh gia đình đang cơn hoạn nạn. Trong lúc gia cảnh tai biến như thế, mà Kiều còn có đủ bình tĩnh sáng suốt để phân giải lẽ thiệt hơn khuyên cha, thì quả thật Kiều không phải là một cô gái nữ nhi tầm thường.

Qua đó, cho chúng ta thấy rằng, dù bất cứ thời đại nào, việc con cái tham dự góp ý vào việc xây dựng gia đình, nên hư, thành bại, nhục vinh…đó là điều mà làm cha mẹ cũng phải quan tâm lắng nghe con cái giải bày. Nhưng sự góp ý xây dựng đó, mỗi người cần phải sử dụng ái ngữ và học hỏi phương pháp lắng nghe. Đó là hai yếu tố thật vô cùng quan thiết trong việc hành xử bảo tồn hạnh phúc gia đình. Xưa nay, lời nói có khi làm hưng nhà lợi nước, cũng có khi làm nước mất nhà tan. Nếu người sử dụng lời nói, thay vì ái ngữ mà nó trở thành thứ quái ác ngữ hay tà ngữ, thì đó quả là điều rất tai hại. Kiều đã thuyết phục được cha, tất cả đều do sự khôn khéo, nàng biết dùng lời lẽ vừa ứng dụng ái ngữ đúng thời lại vừa lý luận dẫn chứng hợp lý, nên người cha nghe êm tai không còn gì phải giữ ý định liều lĩnh đó nữa. Vương ông, tuy là cha nhưng ông không cố chấp bảo thủ định kiến mà chịu khó lắng nghe con mình giải bày khúc nôi lý lẽ tường tận. Cả hai đều ứng dụng qua hai phương pháp ái ngữ và lắng nghe của đạo Phật một cách thật xuất sắc tuyệt vời. Đó là điều mà ta cần phải lưu tâm học hỏi trong việc sử dụng ngôn từ khôn khéo của Kiều và cũng như sự chịu khó lắng nghe của Vương ông.



Bây giờ ta thử xét qua lời nói của Kiều đối với hai em ra sao. Trước hết, nàng nói với Vương Quan. Vương Quan là đứa em trai thứ ba cũng là em trai út trong gia đình. Trong lúc ba chị em cùng nhau dạo cảnh du xuân, thì Vương Quan là người kể lại rành rẽ ngọn nguồn câu chuyện của Đạm Tiên. Sau khi nghe em kể về một người con gái hành nghề ca kỷ, Kiều cảm thấy chạnh lòng chua xót tiếc thương cho người con gái xấu số bạc mệnh đó. Và cũng từ đó, Kiều đã khóc than khấn vái. Thúy Vân và Vương Quan thấy thế liền có ý trách chị, rằng sao chị khéo dư nước mắt khóc cho người ta. Chị đừng quên rằng, hiện chúng ta đang ở chốn tha ma u ám, chị không nên than khóc kể lể như thế được mà có ảnh hưởng không hay tác hại cho mình. Đó là lời khuyên và trách móc của Vương Quan.


Quan rằng: chị nói hay sao!
Một lời là một vận vào khó nghe.
Ở đây âm khí nặng nề,
Bóng chiều đã ngả, dặm về còn xa.


Nghe em nói thế, Kiều liền trả lời, đây là lần đối thoại đầu tiên và cũng là lần cuối của Kiều đối với Vương Quan:

Kiều rằng: những đấng tài hoa
Thác là thể phách, còn là tinh anh.
Dễ hay tình lại gặp tình,
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ.


Rõ ràng Kiều tin ở nơi số phận của mình đồng cảm như cùng chung số phận của Đạm Tiên . Vì cả hai người đều là giống hữu tình. Tình lại gặp tình, như thế là Kiều đã xác quyết rằng: “Hữu tình ta lại gặp ta” và sau đó phút chốc Đạm Tiên đã hiển hiện để xác minh lời nói của Kiều là một sự thật.



Thúy Vân nhìn cảnh tượng Kiều tỏ ra bi lụy khóc than trước mộ Đạm Tiên, nàng ta không thể cầm lòng chịu đựng được, nên thốt lời có ý trách nhẹ chị:

Vân rằng: Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa!

Kiều đã trả lời với em và đồng thời cũng cho Thúy Vân biết rằng, cái phận hồng nhan từ xưa tới nay thường hay bị bạc mệnh. Đó là lẽ thường tình mà những người con gái tài hoa, sắc nước hương trời đều có chung số phận lận đận lao đao trên bước đường đời. Thấy người nằm đó chạnh nghĩ lại mình, không biết tương lai đời mình sẽ ra sao? Có phải cũng có chung một số phận đoạn trường chăng? Đó là những lời mà Kiều như tâm sự khúc nôi cùng người em gái của mình. Vì đồng là phận gái, nên dễ cảm thông nhau:

Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu!
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
Thấy người nằm đó biết sao thế nào?

Đại khái đó là những cuộc đối thoại ngắn của ba chị em Thúy Kiều. Sau nầy, Kiều và Thúy Vân còn có cơ hội gặp lại và hai chị em trao đổi tâm tình với nhau rất nhiều, nhưng qua những cuộc trao đổi tâm tình đó, chúng ta thấy chưa bao giờ họ gây ra cảnh tượng bất hòa cãi vả tranh chấp hơn thua với nhau. Lời nói của hai người lúc nào cũng hòa nhã êm dịu trong sự phân giải bày tỏ nỗi lòng cho nhau nghe. Đó là điều mà chúng ta thấy rất đẹp trong việc cư xử trong tình nghĩa chị em.



Ngày nay, có nhiều gia đình, cha mẹ, con cái, anh em, thường hay bất hòa tranh chấp cãi vả với nhau. Họ cố chấp tranh hơn thua bắt bẻ với nhau từng lời nói. Không ai chịu nhường nhịn ai. Gia đình khi họp mặt, thay vì đó là những giây phút trân quý sự có mặt của nhau, nên trao đổi nhau bằng những lời nhu hòa, thân mật, dịu ngọt dễ nghe. Ngược lại, vì một hai lời nói thiếu nhã nhặn mất hòa khí của cha mẹ, con cái, hay anh em, rồi từ đó, họ lại tranh cãi ăn thua đủ với nhau quyết liệt. Thậm chí, có khi họ phải dùng đến võ lực để đánh đập sát hại lẫn nhau. Đó là điều mà ta đã thấy xảy ra hằng ngày. Như thế, thì tình người chưa có, nói chi đến tình máu mủ ruột thịt. Nếu như mọi người khéo áp dụng hai phương pháp: “Ái ngữ và Lắng nghe” theo tinh thần của Phật dạy, thì chắc chắn chúng ta sẽ có được một mái ấm hạnh phúc gia đình. Đó là cách hành xử hay nhứt để bảo vệ hạnh phúc gia đình và người thân cũng như đem lại sự an vui lợi lạc đến cho mọi người trong xã hội vậy.

 

 

Ngược Dòng

Đọc lịch sử về cuộc đời đức Phật, hẳn chúng ta còn nhớ có một đoạn sử diễn tả, trước khi đến cội cây Tất bát la để ngồi tư duy thiền quán, đức phật đã thả cái bát xuống dòng sông Ni liên thiền và nói rằng: “nếu cái bát trôi ngược dòng, thì Ngài sẽ đắc đạo”. Lạ thay! Quả thật cái bát đã trôi ngược dòng.



Đọc qua đoạn sử nầy, thú thật, chúng tôi không dám quả quyết khẳng định rằng, có hay không có. Đôi khi nhà viết sử họ muốn tô đậm nét thêm về những điều huyền diệu mầu nhiệm qua cuộc đời của đức Phật. Chuyện có hay không xin để mỗi người tự nhận xét quyết định lấy. Việc nầy, chúng tôi xin được gác qua một bên. Vì đó còn là một biểu tượng đặt định trên niềm tin của mỗi người. Ở đây, chúng tôi không dám có cái cao vọng luận bàn có hay không. Tuy nhiên, đối với tôi, điều đó nó mang một ý nghĩa tiêu biểu thật thâm trầm kỳ thú mang tính chất siêu thoát rất cao quý.



Thử ngẫm kỹ lại, đời sống của con người phần lớn (nếu không muốn nói là gần như hầu hết) đều trôi theo dòng đời ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy hay sắc, thinh, hương, vị, xúc. Ai cũng ham thích có một đời sống giàu sang, quyền cao, chức lớn, danh vọng, địa vị hơn người. Danh và lợi là hai miếng mồi ngon béo bổ, mà ai ai cũng thèm khát muốn chiếm hữu tranh giành. Được thì làm Vua mà thua thì làm giặc. Nói rộng ra có ai trong chúng ta mà không đam mê chạy theo ngũ dục lục trần?

Vào một buổi đẹp trời nào đó, trong cảnh vắng lặng êm đềm, bạn thử ngồi một mình trong cách thế thư thả, có thể uống trà độc ẩm, trầm tư tỉnh lặng, rồi bạn thong thả kiểm kỹ lại từng món trong ngũ dục: “tài, ( tiền bạc của cải) sắc, ( sắc đẹp của nam nữ và các thứ vật chất ) danh,( tên tuổi địa vị cao trong xã hội ) thực, ( thích ăn những món ngon vật lạ cao lương mỹ vị ) thùy ( ham mê ngủ nhiều không kể đến giờ giấc) ”, tế? hơn là lục trần: “sắc, thanh, hương, vị, xúc”. Thử hỏi có thứ nào mà bạn không vướng mắc không? Trong những thứ đó, không chỉ riêng gì bạn mà tất cả nhơn loại trên hành tinh nầy không ai lại không vướng mắc, mê say, đắm nhiễm. Chẳng qua cường độ đắm nhiễm của mỗi thứ có nặng nhẹ khác nhau mà thôi.
Thiên hạ tranh đua nhau chạy theo danh lợi. Nô lệ cho lòng dục vọng tham, sân, si sai khiến. Có thể nói, từ khi mở mắt chào đời cho đến khi nhắm nghiền đôi mắt lại, tất cả phàm phu chúng ta đều làm nô lệ cho “thất tình lục dục”. Vì sống trong vòng vô minh vọng chấp, coi trọng bản ngã, nên con người luôn luôn nếm mùi đau khổ. Nếu muốn vượt thoát cái vòng lẩn quẩn trần ai hệ lụy nầy, chỉ có một con đường, đó là con đường hành thiện tránh xa điều ác. Cao hơn một bậc, là con đường vượt ngoài đối đãi nhị nguyên. Đó là con đường mòn mà chư Phật Tổ đã đi. Con đường hành xử lợi mình lợi người. Một con đường khai phóng viên dung vô ngại. Muốn đi con đường nầy, thật không phải dễ dàng. Hành giả phải trải qua muôn ngàn khó khăn gian lao thử thách. Thật là thiên nan vạn nan. Phải vận dụng mọi năng lực ý chí phấn đấu cương quyết vượt qua. Như Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác đã nói trong Chứng Đạo Ca:



Thường độc hành, thường độc bộ
Đạt giả đồng du Niết bàn lộ
Điệu cổ thần thanh phong tự cao
Mạo tụy cốt cang nhân bất cố.

Dịch nghĩa:

Tôi chấp nhận cô đơn trên đường đạo
Vui một mình, vui theo nhịp bước chân đi
Tôi những mong có pháp lữ chung lòng
Cùng tiến bước vào Niết bàn thường lạc
Không như ý, tôi nguyền làm người cổ lỗ
Sống theo mình, sống với gió mát trăng thanh
Dù xương trơ, thân đét, thịt teo gầy
Không ân hận, tôi vui với lập trường kiên định ấy.
( Bản dịch của HT Thích Từ Thông )


Đó là con đường ngược dòng nhân thế. Con đường nầy với những kẻ yếu đuối như chúng ta làm sao dám sấn bước. Con đường vượt lên trên tất cả, vượt ngoài không và thời gian. Bởi nó quá khó khăn, nên ít có người dám đi. Vì tất cả ngược lại hết những gì thế nhân say mê đắm nhiễm. Còn đắm nhiễm là còn vướng mắc trong vòng triền phược hệ lụy khổ đau. Cho nên hình ảnh cái bát trôi ngược dòng là biểu trưng nói lên tính chất siêu thoát đó. Người tu dù xuất gia hay tại gia, nhứt là đối với người xuất gia, muốn được giải thoát, tất nhiên, là phải đi ngược dòng đời.

Người đời bon chen trong trường danh lợi cấu xé tranh giành với nhau chí tử, họ tranh nhau hơn thua quyết liệt một mất một còn. Ngược lại, người tu hành chơn chánh thì phải xa lánh. Xa lánh là ngược dòng. Cái bát tuy trôi ngược dòng nhưng vẫn không rời mặt nước. Người tu tuy có ngược dòng ( xuất thế) nhưng vẫn không rời bỏ thế gian ( nhập thế ). Đó là con đường cái quan thênh thang rộng lớn nhập thế hành đạo, mà Bồ tát đã, đang và sẽ đi và còn đi mãi mãi. Đi để cứu độ chúng sanh thoát khổ. Đó là một cuộc hành trình lý tưởng mà Bồ tát đã dấn thân phổ độ chúng sinh khắp mọi thời gian và nơi chốn.

Người muốn thật hành Bồ tát đạo, trước hết, phải trang bị cho mình có sự trôi ngược dòng đời nầy. Phải hằng sống cho được với cái “tánh không nhiễm ô”. Làm tất cả mọi việc lợi ích cho chúng sinh, nhưng vẫn không dính kẹt vào bất cứ việc lớn nhỏ gì. Muốn thế, tất nhiên người tu phải trải qua một giai đoạn thử thách chuẩn bị. Chuẩn bị rèn luyện nội tâm cho thật chín chắn vững vàng. Phải có một đời sống nội tâm phong phú. Như đức Phật đã phải trải nghiệm tư duy quán sát gạn lọc hết vô minh phiền não. Ngài đã quán chiếu sâu vào bản thể thật tướng của vũ trụ. Ngài đã sống trọn vẹn với chân lý, bản nguyên của sự vật mà Ngài vừa mới tìm ra. Đó là một nguồn sống cao đẹp tươi mát hòa nhập cùng vạn thể muôn loài. Nhờ thời gian 49 ngày tư duy thiền định mà Ngài đã đạt được quả vị cao tột. Đó là quả vị Phật chánh đẳng chánh giác. Đến đây, Ngài mới thật sự hoàn toàn giác ngộ giải thoát và từ đó Ngài mới bắt đầu hành trình hoằng pháp lợi sanh.
Ngài đã thật sự lột xác đi ngược dòng đời. Người xuất gia phải noi theo con đường ngược dòng nầy. Phải thật sự là người phát túc siêu phương tâm hình dị tục. Phải đứng trên và ngoài vòng những tranh chấp hơn thua của thế quyền. Phải trải rộng không gian tâm thức, thật hành Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả của Bồ tát. Bằng không, thì vẫn chết chìm trong dòng nước cuốn trôi trong dòng sông ngũ dục, lục trần như bao nhiêu con người trần tục khác.

Hình ảnh của cái bát còn nói lên một yếu lý của sự giải thoát. Suốt cuộc đời của đức Phật từ khi bắt đầu lên đường hành hóa cho đến khi nhập diệt, không lúc nào Ngài không ôm bát đi xin ăn. Một đời sống không hệ thuộc bất cứ thứ gì. Đêm không ngủ hai lần ở một gốc cây. Đời Ngài quả lấy đất làm chiếu, lấy sương làm mền. Đầu trần, chân đất rày đây mai đó, không an trụ một nơi nào cố định.

Như thế, thử hỏi còn gì mà không đi ngược dòng. Tất cả Ngài đã để lại cho đời. Kể cả những thứ mà người đời luôn ao ước thèm khát, như ngai vàng điện ngọc vợ đẹp con ngoan. Những thứ nầy, đối với Ngài xem đó như là ngục tù giam hãm. Hình ảnh thân giáo của Ngài quả là mô phạm luôn đánh động thức nhắc mọi người. Là đệ tử của Phật chúng ta không thể không nghiên cứu tìm hiểu về đời sống của Ngài. Một đời sống đích thực giải thoát có một không hai trong lịch sử loài người.

 


Người Phật tử với việc đi chùa

 

Người Phật tử tới chùa ngoài việc lễ Phật, hộ niệm, cầu an và cầu siêu, còn phải học hỏi giáo lý và trao đổi những kinh nghiệm để áp dụng lời Phật dạy vào đời sống. Cố nhiên phải học hỏi những gì có tánh cách thực dụng hơn là lý thuyết huyền đàm. Học như thế không được lợi ích lắm. Chùa là nơi trang nghiêm là môi trường tốt để Phật tử trưởng dưỡng thiện tâm cho đời sống tâm linh ngày càng phong phú hơn.

Người Phật tử nếu chỉ biết đi chùa với hình thức lễ bái khấn vái cầu tài khấn lộc cho mình và gia đình của mình không thôi, đi chùa với quan niệm như thế, thì quả thật chưa phải là người Phật tử biết đi chùa. Đi chùa là cốt để tài bồi thêm phước trí. Muốn có được phước đức và trí huệ, Phật tử cần phải cố gắng tìm hiểu học hỏi với chư Tăng Ni. Tăng Ni là những người lãnh đạo hướng dẫn chỉ bảo cho người Phật tử tu học đúng theo chánh pháp. Khi tu học có điều gì không rõ, còn hoài nghi, thì ta nên thưa hỏi. Một việc làm mà ta không hiểu rõ, thì dễ bị sai lầm và gây ra lắm nhiều tai hại.

Ngoài việc tu học ra, người Phật tử còn phát tâm phụ lực đóng góp công sức vào việc xây dựng và bảo vệ ngôi chùa. Đó là thể hiện tinh thần tự lợi, lợi tha của người Phật tử. Đi chùa với tất cả tâm thành học hỏi, đó là động cơ tỉnh ngộ thúc đẩy. Ngược lại, đi chùa với một ý đồ bất chánh, thì đó là chuốc thêm tội lỗi chớ không có lợi ích gì. Thế nên, người Phật tử đi chùa nên tránh những quan niệm sai lầm có hại cho mình và người. Đi chùa với ý niệm sai lầm là hoàn toàn trái ngược với tinh thần của đạo giác ngộ. Vì vậy, người Phật tử cần phải học hỏi tìm hiểu rõ về việc đi chùa.

I.Tìm hiểu khái quát về phát nguyên của ngôi chùa

Chùa là dịch nghĩa từ chữ “Tự” của chữ Hán mà ra. Chùa có nhiều tên gọi khác nhau: Tăng tự, Tinh xá, Phạm sát, Lan nhã, Tùng Lâm, Già lam v.v…Mỗi tên gọi đều mang một ý nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung, cũng đều chỉ cho nơi để tôn thờ tượng Phật, Bồ tát, Thánh chúng, hoặc Tăng Ni an trú để tu hành.

Chùa hoặc Tự viện hay Tinh xá (Vihara) đã có từ thời Phật còn tại thế. Hai ngôi Tinh xá nổi tiếng mãi cho đến ngày nay, người ta vẫn còn biết đến, đó là: Tinh xá Kỳ Hoàn hay Kỳ Viên ở thành Xá Vệ, và Tinh xá Trúc Lâm ở thành Vương Xá. Hai Tinh xá nầy là hai nơi mà đức Phật thường lui tới trú ngụ để hành hóa. Nhứt là vào những mùa mưa. Ngôi Tinh xá Kỳ Hoàn là do trưởng giả Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ Đà hợp tác xây dựng để cúng dường cho Phật và Thánh chúng. Còn Tinh xá Trúc Lâm là do vua Tần Bà Sa La hiến cúng. Đó là hai ngôi tinh xá lịch sử tiêu biểu thời Phật ở Ấn Độ.

Ở Trung Hoa, theo sử liệu ghi lại, ngôi chùa đầu tiên được xây dựng vào thời vua Hán Minh Đế niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (TL 67) là chùa Bạch Mã để cho hai vị pháp sư: Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan từ Ấn Độ sang ở đó dịch kinh. Việc nầy, cho đến nay, vẫn chưa có luận cứ chắc chắn xác quyết rằng, đó có phải là ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc hay không?

Riêng ở Việt Nam, theo sử gia Lê Mạnh Thát trong quyển Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam tập 1 trang 26, có trích dẫn lời của thiền sư Chân Nguyên (1647- 1728), thì ngôi chùa Trúc Viên đã có từ thời Lữ Gia, tức khoảng năm 110 trước tây lịch tại núi Thầy (Sài Sơn), ở Sơn Tây. Theo luận cứ nầy, thì Phật giáo có mặt ở nước ta vào thế kỷ thứ II trước tây lịch. Đây là điểm khá lôi cuốn. Như vậy, chùa đã được xây dựng ở Việt Nam rất sớm.

Chùa là nơi hội tụ kết tinh của văn hóa Việt tộc, của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình. Và cũng là cái nôi hun đúc nuôi lớn tinh thần từ bi và trí tuệ bình đẳng hiền hòa, nhưng bất khuất của một dân tộc anh hùng.

“Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của Tổ Tông”.

Trải qua bao thăng trầm vinh nhục, bao triều đại hưng vong, nhưng mái chùa trước sau vẫn hiên ngang vươn mình che chở cho những đứa con tin yêu của dân tộc. Đó là hình ảnh ngôi chùa in đậm nét trong tâm tưởng của mỗi người con dân đất Việt. Như thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã nói:

Dân tộc ta không thể nào thua

Đạo Phật ta đời đời sáng lạn

Dầu trải qua mấy phân ly tán

Nhưng vẫn còn núi còn sông

Còn chót vót mãi ngôi chùa.

II. Những quan niệm sai lầm về việc đi chùa.

Có người đi chùa không có ý mong cầu học hỏi chánh pháp. Họ đi chùa với dụng ý chỉ biết một bề cúng bái cầu khẩn van xin mà thôi. Bình thường ít khi đến chùa, nhưng khi gặp nạn, thì họ chạy vô chùa cầu khẩn van xin. Van lạy cầu xin Phật ban cho đủ thứ. Họ coi ông Phật ngồi trên bàn, như một vị thần linh. Ông có quyền ban phước giáng họa. Nếu họ lạy lục van xin cầu khẩn mà được toại nguyện như ý, thì họ cho ông Phật, Bồ tát đó rất linh thiêng. Bằng ngược lại, thì họ chê và chạy đi tìm cầu ông Phật, Bồ tát khác.

Tệ hơn nữa, là họ xem ông Phật như là người chuyên ăn hối lộ, mà họ là người đến lo lót. Họ chỉ mang đến một vài óp nhang hay một vài nải chuối, rồi họ lạy hì hục khấn vái van xin, mong Phật, Bồ tát giúp cho họ và cho gia đình họ được bình an, mua may bán đắt, kinh doanh giàu có, con cháu học hành thi cử đỗ đạt, có danh vọng địa vị cao, quyền uy thế lực, ai nấy đều kính nể vân vân và vân vân. Đi chùa với tâm niệm như thế, thì thật là quá ích kỷ chỉ nghĩ cho quyền lợi cá nhân và riêng cho gia đình mình thôi. Ngoài ra, không cần nghĩ gì đến ai cả. Người Phật tử đi chùa với tâm niệm như thế, thì thật chưa đúng với ý nghĩa của việc đi chùa và dĩ nhiên là không có được lợi ích gì! Chẳng những thế, đôi khi còn mang thêm tội lỗi nữa không chừng.

Có người đến chùa không có ý tu học, mà họ chỉ đến để dò xét những hành vi cử chỉ hay thái độ của Tăng Ni và Phật tử trong chùa. Nếu như Tăng Ni hay Phật tử, bất cẩn thốt ra những lời nói, hoặc cử chỉ, hay hành động hơi thiếu đạo đức một chút, thì họ ra ngoài nói xấu rêu rao chê bai đủ thứ. Bản thân họ chẳng biết tu hành gì cả. Họ là hạng người chuyên đi vạch lá tìm sâu hay bới lông tìm vết.

Có người đi chùa với ý đồ bất chánh, họ lân la trà trộn vào hàng ngũ Phật tử, tìm cách tâng bốc lời ngon tiếng ngọt nịnh hót thầy trụ trì để họ có được chức vụ. Lúc đầu, họ tỏ ra cho mọi người biết, họ là Phật tử thứ thiệt, nhưng sau khi họ có chức vụ rồi, thì họ lập vây cánh bè phái để triệt hạ tẩy chay thầy trụ trì. Họ lạm dụng quyền hành lên mặt hách dịch mạt sát mọi người. Họ tìm đủ mọi cách hại thầy cho bằng được. Đó là hạng người đi chùa vì ham danh, háo lợi, thích được quyền hành sai khiến người khác, kỳ thật, họ không có chút lương tâm đạo đức và tình người.

Có người đi chùa chỉ biết tán hưu nói dóc, họ nói toàn những chuyện thế gian, thời sự, hết phê bình ông nầy, đến chỉ trích người kia, cứ thế đặng ăn cơm chùa. Họ không một chút hổ thẹn, sợ tội lỗi. Họ còn huênh hoang lên giọng kẻ cả dạy đời. Họ thích ra lệnh sai bảo những người khác. Họ chưa bao giờ lạy một lạy Phật hay tụng một thời kinh. Có ai hỏi họ lý do tại sao? thì họ đem ông Phật ra để chứng minh. Rằng, ông Phật xưa kia không có lạy ai và cũng không có tụng thời kinh nào, mà Ngài cũng vẫn thành Phật như thường. Thế là, người kia không còn gì phải nói. Thật đây là hạng người mượn hơi nhà chùa để lòe thiên hạ. Mà chính họ không biết rằng, mình có nhiều tội lỗi do lòng chấp ngã cống cao ngã mạn của mình.

Đại khái, nêu ra một vài hạng người tiêu biểu, mà họ có những quan niệm hết sức sai lầm và rất là tai hại. Đi chùa với quan niệm và tâm ý như thế, thì càng đi, càng gây thêm tội lỗi mà thôi. Thật sự không có lợi lạc gì! Thật là đáng thương xót lắm thay!

III. Đi chùa với nguyện vọng trở nên người Phật tử chơn chánh

Mục đích của người Phật tử đi chùa là cốt để tu học theo chánh pháp Phật dạy. Mỗi khi đến chùa, ta cần phải để tâm tìm hiểu thưa hỏi với chư Tăng, Ni, những gì mà ta chưa thực sự hiểu rõ. Chư Tăng, Ni trong chùa có bổn phận hướng dẫn chỉ dạy giáo lý cho ta. Vì Phật tử ở ngoài đời lo sinh kế nuôi sống gia đình, nên ít có thời giờ rảnh rỗi để học hỏi nghiên tầm giáo lý. Cho nên, khi đến chùa, Phật tử nên lợi dụng thời gian quý báu để tìm hiểu tu tập. Nếu đi chùa chỉ biết một bề cúng bái không thôi, thì chưa đúng với ý nghĩa đi chùa. Vì đi chùa như thế, cả đời cũng không hiểu được chánh pháp. Không hiểu biết, tất nhiên, khi ứng dụng thật hành dễ bị sai lạc. Đó là một tai hại rất lớn và cũng là một thiệt thòi rất nhiều cho người Phật tử. Đi chùa có học hỏi thì mới có tiến bộ trên bước đường tu hành.

Ngoài việc tu học chánh pháp ra, người Phật tử còn giúp công quả cho chùa. Việc giúp ích cho chùa đó cũng là điều tốt. Nhưng, ta nên biết rằng, đó chỉ là phần phụ. Công quả cho chùa thì tất nhiên được phước. Nhưng phải làm với tâm ý hoan hỷ, không nên có ý niệm giận hờn hay ganh ghét một ai. Nhứt là không nên chỉ trích nói xấu người cùng làm hay bất cứ ai khác. Chúng ta làm với tinh thần hỷ xả lợi tha, không nên chấp ngã quá nặng. Nếu chúng ta làm với tâm ý thấy mình quan trọng, rồi sanh tâm ngã mạn cống cao tự đắc, khinh khi chê bai người khác, thì việc làm đó chẳng những không được lợi ích, mà còn mang thêm trọng tội. Vì đó là trái với bản tâm và ngược lại với tinh thần từ bi giác ngộ của đạo Phật.

Chúng ta phải ý thức rằng, việc công quả cho chùa chỉ là tu phước, còn tu tập học hỏi chánh pháp mới là tu huệ, mà tu huệ mới là phần chánh. Vì trong khi tu học mà thiếu trí huệ chỉ đạo, thì sự tu học của chúng ta dễ bị sai lầm. Có đôi khi việc làm ta tưởng là có phước, nhưng kỳ thật lại là có tội. Vì làm mà thiếu trí huệ biện biệt chánh tà phải trái. Làm với tâm niệm thấy mình như là trời cao, xem người khác chẳng ra gì.

Thế nên, người Phật tử đi chùa phải biết lấy việc tu học làm gốc và mọi việc làm đóng góp cho chùa đều là phần phụ. Phải ý thức đúng hướng như thế, người Phật tử đi chùa mới thực sự được lợi ích lớn và mới mong trở thành người Phật tử chơn chánh đi chùa vậy.

IV. Chùa là nơi đáp ứng những nhu cầu tín ngưỡng

Ngôi chùa ngoài việc để mọi người đến chiêm bái tu học ra, nó còn là nơi đáp ứng những nhu cầu tín ngưỡng khác. Đại biểu như một số các trường hợp sau đây:

- Tụng niệm, bái sám, cầu an, cầu siêu vào những ngày thường, hoặc cuối tuần, hay những ngày rằm, ba mươi và các ngày lễ Vía đặc biệt.

- Xin xăm bói quẻ, cúng sao giải hạn, coi ngày giờ tốt xấu cho những vấn đề quan hôn tang tế. Hoặc coi ngày giờ tốt để khai trương cửa tiệm buôn bán làm ăn, hay sửa nhà, hoặc dọn vào nhà mới v.v…

- Các buổi lễ đặc biệt như lễ hằng thuận, tức lễ cưới tác hợp cho cô dâu chú rể thành vợ chồng dưới sự chứng minh của Tam Bảo và Chư Tăng, Ni.

- Những buổi lễ: giảng pháp, Bố tát, truyền Tam Quy ngũ giới, Bát quan trai giới, cúng dường trai tăng…

- Thờ phụng các hương linh nam nữ Phật tử đã gởi hình ảnh hoặc xương cốt, gọi là hương linh ký tự.

Ngoài ra, còn đáp ứng một số những nhu cầu khác về các mặt: giáo dục, văn hóa, xã hội, mỹ thuật, hội họa v.v…

Sở dĩ có những nhu cầu như thế, là vì căn cơ trình độ của mỗi chúng sanh khác nhau. Kinh nói: “chúng sanh đa bệnh, Phật pháp đa môn, hay đa dược”. Mục đích đều là trị bệnh cho chúng sanh cả. Nhưng, tất cả chỉ là quyền chước phương tiện độ sanh mà thôi. Nhờ bày ra với tánh cách đa dạng phong phú như thế, mà từ xưa tới nay, Phật giáo luôn luôn đáp ứng thích hợp với mọi căn cơ trình độ. Và cũng nhờ đó mà Phật giáo luôn có mặt trên thế gian để hoằng hóa độ sanh. Tuy nhiên, chủ trương của Phật giáo trước sau vẫn như một, là đưa chúng sanh đến chỗ cứu cánh giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Chớ không phải để chúng sanh chết chìm trong biển phương tiện. Đó là bản hoài và cũng là mục tiêu tối hậu của Phật giáo nhắm tới.

 

V. Người Phật tử phải có nhận định đúng đắn về việc đi chùa.

Như trên đã nói, đó chẳng qua là những phương tiện bày ra để cho phù hợp với mọi trình độ căn cơ của mỗi người mà thôi. Nhưng chủ đích của Phật giáo không phải là như thế. Người Phật tử cần phải có sự nhận định đúng đắn về việc đi chùa của mình. Mục đích của Phật giáo không phải chỉ có trên hình thức lễ nghi cúng bái không thôi. Mọi hình thức lễ nghi, nó chỉ có tác dụng như bản đồ chỉ đường, hay ngón tay chỉ mặt trăng. Đó là nói những phương tiện mang tính tốt đẹp thiện xảo. Chớ không phải là những phương tiện bất thiện, mang tính ru ngủ mê tín làm lung lạc mất niềm tin chánh tín ở nơi lòng người.

Phương tiện là điều tốt giúp ta rất nhiều trong việc tu học và truyền bá đạo lý. Vì nếu không có những hình thức lễ nghi nầy, thì người ta cũng khó mà hiểu được Phật giáo. Phương tiện là bước đầu, là cửa ngõ dẫn người ta vào đạo. Cho nên, mọi hình thức lễ nghi đều là phương tiện tốt. Tuy nhiên, có những phương tiện mà ta cần phải tiếp tục duy trì. Như những lễ nghi tụng niệm, bái sám, cầu an, cầu siêu v.v… Ngược lại, có một số phương tiện khác, ta thấy thực chất của nó là dẫn người ta vào con đường mê tín. Như những trường hợp: xin xăm bói quẻ, cúng sao hạn, coi ngày giờ tốt xấu v.v… Đây là những điều mà người Phật tử tu học căn bản nghiêm chỉnh, cần phải mạnh dạn quyết tâm loại trừ. Người Phật tử phải có chánh kiến, chánh tư duy và chánh tín. Không thể tin tưởng một cách mơ hồ, theo kiểu xưa bày nay bắt chước. Người Phật tử khi tin tưởng một điều gì, ta cần phải hiểu lý lẽ rõ ràng. Không thể nghe đâu tin đó. Tin càng, tin bậy, tin vạy, tin đùa, tin theo kiểu a dua, tin như thế chỉ có tác hại thêm cho ta mà thôi.

Người Phật tử chỉ tin tưởng vào Tam bảo và nhứt là tin theo lý nhân quả một cách chắc chắn. Ta không nên tin theo bất cứ điều gì ngoài nhân quả. Vì nhân quả là chiếc thuyền đưa ta đến bến giác ngộ, giải thoát. Nên nhớ, nếu ta tin xằng, mơ hồ, thiếu trí huệ chỉ đạo, thì trước hết, bản thân ta chỉ thiệt thòi, không được lợi ích, mà còn trái với lời Phật dạy nữa. Tin như thế, thì quả thật chúng ta chưa xứng danh là người Phật tử chơn chánh tu học Phật. Và cũng chưa phải là người Phật tử chơn chánh đi chùa.

VI. Lợi ích của việc đi chùa

Người xưa nói: “Làm việc có nghĩa là do tâm tỉnh ngộ, làm việc vô nghĩa là do tâm mê mờ”. Lời nói nầy thật quan trọng. Người Phật tử đi chùa do động cơ tỉnh ngộ mà đi. Nếu đi chùa mà không có ý học hỏi chánh pháp Phật dạy, thì dù cho có đi chùa lâu cũng không được lợi lạc. Tệ hơn nữa, là đi chùa với tâm do động cơ mê tín sai sử, đến chùa chỉ biết một bề lạy lục van xin không thôi, thì thật là tai hại. Vì thế, cũng một việc làm, nếu chúng ta học hỏi hiểu biết, thì việc làm đó mới có giá trị lợi ích thiết thiệt. Khi đến chùa ta xem nhau như con một cha, như người một nhà, không nên có thái độ chê bai chỉ trích nói xấu nhau. Như thế vừa tổn phước mình và cũng vừa gây ra tác hại cho người. Thái độ đó ta cần nên tránh.

Khi gặp nhau, ta nên tỏ thái độ vui vẻ và trân kính quý nhau. Nhứt là khi cùng nhau tu học trong một đạo tràng. Nếu có nói, thì ta nên nói những lời lẽ ôn hòa, từ tốn nhã nhặn. Tuyệt đối, ta không nên tranh cãi hơn thua với nhau. Vì mọi sự tranh cãi, chỉ là trò hý luận mà thôi. Lý lẽ không đi tới đâu, chỉ gây thêm buồn khổ cho nhau. Đến chùa, chúng ta chỉ nên quý tiếc thời giờ tu học, không nên quý tiếc thời giờ tranh cãi. Đó là thái độ khôn ngoan của người Phật tử khéo biết lợi dụng thời gian tu học. Có thế, thì việc đi chùa của chúng ta mới thực sự được lợi ích vậy.

Tóm lại, bất cứ việc làm nào, cũng cần phải có sự chọn lựa thích đáng. Chọn một việc làm có ý nghĩa trong sáng tốt đẹp, đó là con người có ý thức tỉnh ngộ. Khi đã có nhận định kỹ hành động của mình rồi, thì dù cho có gặp khó khăn gian lao thử thách, ta cũng quyết chí kiên tâm vượt qua. Có thế, thì đời ta mới được thăng hoa lợi ích. Ngược lại, khi gặp trở ngại khó khăn, ta chùn bước khiếp sợ, thì muôn đời ta vẫn không tiến bộ được. Là Phật tử khi đi đến chùa tu học, hoặc tụng niệm lễ bái, thì dù cho có ai khen chê, phê bình chỉ trích, ta cũng vẫn an nhiên. Ta cố gắng học theo gương hạnh hỷ xả của đức Bồ Tát Di Lặc:

 

Đức Di Lặc ngồi trơ bụng đá

Bao bụi trần bám đã rồi rơi

Mặc cho thế cuộc đầy vơi

Dửng dưng như một nụ cười an nhiên.

Hoặc:

Mắt trông thấy sắc thì thôi

Tai nghe thấy tiếng, nghe rồi thì không

Trơ trơ lẳng lặng cõi lòng

Nhẹ nhàng ta bước trong vòng trần ai.

Đi chùa với tấm lòng hỷ xả bao dung như thế, thì còn gì lợi ích so sánh cho bằng. Mong sao mỗi Phật tử khi đến chùa, phải có được tấm lòng bao dung rộng lượng hỷ xả như thế. Đó là người Phật tử đã đặt định đời mình đi đúng hướng chánh pháp rồi vậy.

Những Mầm Non Phật Pháp

Hằng năm, theo lệ thường, vào những mùa holiday tháng 12 Dương lịch, tại Tổ Đình Phước Huệ đều có khai giảng các khóa tu xuất gia ngắn hạn. Tính ra, kể từ khi khai giảng khóa đầu tiên cho đến năm nay 2008, có tất cả là 16 khóa. Khóa tu năm nay là khóa thứ mười sáu. Sở dĩ chùa tổ chức các khóa tu nầy, với mục đích là để cho những Phật tử ( không phân biệt phái tính và tuổi tác ), đều có thể tham gia tập sự tu tập theo phẩm hạnh của người xuất gia. Dù họ không đủ nhân duyên để trở thành người xuất gia thực thụ, nhưng cũng gây cho họ có nhiều niềm tin nơi Tam bảo và gieo trồng chủng duyên sâu dầy với Phật pháp. Và khi nào hội đủ nhân duyên, thì họ có thể phát tâm xuất gia luôn.



Trong bao nhiêu năm qua, nhờ có những khóa tu mở ra như thế nầy, mà có nhiều vị đã phát tâm xuất gia thực thụ. Và chính những vị nầy, sau một thời gian tu học, nay đã trở thành những Tăng sĩ Phật giáo gương mẫu. Họ đã đảm nhận một vài công việc Phật sự giúp cho Giáo Hội các nơi. Có vị thì hiện đang làm trụ trì ở các tự viện trong hoặc ngoài nước Úc. Đó là thành quả tốt đẹp, tất cả đều nhờ các khóa tu học nầy mà ra.



Được thế, âu đó cũng là nhờ ân đức lớn lao của Hòa Thượng Tông Trưởng Tổ Đình Phước Huệ. Ngài đã bỏ ra rất nhiều công sức để chăm lo cho các khóa tu học. Ngài thường nhắc nhở Ban tổ chức khóa tu phải lo cho chu đáo mọi việc, nhất là nơi ăn chốn ở phải sắp đặt đàng hoàng. Phải tạo cho các tu sinh có được một nếp sống tương đối thoải mái tốt đẹp trong thiền môn. Đặc biệt nhất là Hòa Thượng luôn quan tâm theo dõi hướng dẫn về phần tinh thần tu học cho các tu sinh. Tinh thần có thoải mái an lạc, thì người ta mới ham tu hiếu học. Mỗi lần khóa tu mở ra, Ngài thường nhắc nhở Ban tổ chức phải thành tâm cung thỉnh các vị giảng sư phụ trách. Chính bản thân Ngài trong những năm qua, khi còn khỏe mạnh, Ngài cũng đã có giảng dạy cho các tu sinh. Nội quy và chương trình tu học do Ban tổ chức soạn thảo và rồi trình lên cho Ngài duyệt xét. Sau đó, tất cả đều phải áp dụng chấp hành nghiêm chỉnh. Từ trên xuống dưới, ai nấy đều phải giữ gìn cẩn trọng không một ai dám sai phạm. Nhờ thế, mà mọi người tu học đều có tiến bộ khả quan và rất thích thú.

Riêng phần chúng tôi, kể từ năm 2003 đến nay, năm nào chúng tôi cũng vâng lời Hòa Thượng chỉ dạy về Tổ Đình Phước Huệ để phụ lực cùng với quý vị trong Ban giảng huấn. Nhớ lại, những năm về trước, số người dự tu phần đông là những người trọng tuổi. Còn giới trẻ thì rất ít. Số người dự tu, được chia làm hai thành phần: chánh thức và bán chánh thức. Những người phát nguyện dự tu chánh thức, thì họ được thế phát thọ giới Sa Di và đắp y vàng, gọi là y mạng. Còn những vị bán chánh thức thì cũng được thọ giới nhưng không có thế phát và chỉ đắp y choàng màu nâu. Sau một tháng tu học, thì mọi người xả giới về nhà. Tuy nhiên, ngoại trừ những vị phát nguyện tu luôn, thì có thể ở lại chùa hoặc ở một nơi nào khác tùy ý, nếu xét thấy thuận tiện. Đó là tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Đương sự phải trình bày lý do cặn kẽ và phải được Hòa Thượng bổn sư chấp thuận cho phép.



Lần nầy có khác hơn mọi khi. Sau khi nhận được thơ mời, do Thượng Tọa Thích Phước Tấn gởi đến, nhờ tôi phụ giúp cho 2 tuần lễ cuối. Bởi tuần đầu, tôi mắc bận hướng dẫn khóa tu Kết Kỳ Niệm Phật ở đạo tràng Quang Minh. Do đó, nên Thầy Phước Tấn nhờ tôi giúp cho 2 tuần cuối. Cần nói rõ, khóa tu kỳ nầy, Hòa Thượng chỉ cho khai giảng có 3 tuần thôi, lý do là vì quý thầy bận lo nhiều việc Phật sự khác, nên không có mở một tháng như thường lệ. Khóa tu bắt đầu từ ngày 20/12/2008 đến ngày 11/1/ 2009.

Mãn khóa tu học ở Quang Minh, chúng tôi liền lên Phước Huệ. Tôi đến Phước Huệ vào buổi sáng thứ hai ngày 29 tháng 12 năm 2008. Theo chương trình, tối lại tôi có giờ đứng lớp từ 8 giờ đến 9 giờ 30. Vào lớp, thật tôi vô cùng ngạc nhiên. Vì đối tượng tu học kỳ nầy, đa số là giới trẻ. Trong số các em phần nhiều là trẻ tuổi, chỉ có một chú thanh niên 24 tuổi và một cô thanh nữ 25 tuổi. Còn lại các em tuổi từ 9 tới 16. Bên nam, có 10 chú, 6 chú chánh thức thọ giới Sa di đắp y vàng, còn lại 4 chú thì tùng chúng tu học không có thọ giới đắp y. Bên nữ, thì có 9 cô, đều là bán chánh thức, 4 em bán chánh thức đắp y màu nâu, và 5 em thì theo chúng tu học, không có đắp y nâu, chỉ mặc áo tràng lam thôi.



Nhìn thấy các em, tôi không khỏi ngạc nhiên và thầm thán phục. Ở trang tuổi các em mà chịu khép mình theo nội quy tu học suốt thời gian 3 tuần lễ, đối với cái xứ sở nầy mà nói thì thật là hiếm có. Sống ở cái xứ Úc văn minh tân tiến, vật chất dồi dào, ăn uống phủ phê, đủ thứ máy móc, nhiều trò vui chơi thích thú, rất thu hút hấp dẫn giới trẻ. Với lứa tuổi các em, có em nào mà lại không ham thích vui chơi với bạn bè. Thế mà, không ngờ hôm nay, các em lại từ bỏ tất cả để phải chịu khép mình trong chốn Già lam tu niệm, thì chao ôi! thật là quá hy hữu ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhất là mùa nầy lại là mùa holiday, đối với giới trẻ thì thật là lý tưởng để các em giao du mua vui với bạn bè.



Từ sự cảm phục, tôi lại càng cảm thấy thương mến các em nhiều hơn. Ở vào trang tuổi các em, trình độ tiếng Việt của các em rất là non kém. Vì đa số các em sanh ra và lớn lên ở Úc. Dù rằng, các em đều có học thêm tiếng Việt, nhưng chỉ đủ để nói và nghe chút đỉnh trong gia đình hoặc với bạn bè thôi, chớ làm gì các em có đủ khả năng để nói và nghe hiểu thông thạo hết được. Chính vì thế, nên khi nghe giảng Phật pháp, các em thật khó lãnh hội. Do đó, một số các em nhỏ tuổi thì được quý Thầy quý Sư Cô khá tiếng Anh giúp giảng dạy phần giáo lý căn bản rất dễ hiểu cho các em. Còn một số khác lớn tuổi hơn, tương đối có khả năng nhận hiểu chút ít, thì các em được học chung với người lớn. Vì khóa tu nầy ngoài các em ra, còn có một vài vị trung niên và lão niên. Như thế, nhìn qua ta thấy một lớp học gồm có ba thế hệ rõ rệt. Vì trình độ và tuổi tác quá chênh lệch, nên rất khó khăn cho người hướng dẫn.

Phải thành thật mà nói, tôi thương và chú trọng đến các em nhiều hơn. Thương là vì thấy các em thật ngoan hiền, luôn tham dự đủ các thời khóa lễ. Nhất là thời công phu khuya, các em lớn nhỏ đều có mặt. Đúng 4giờ 30 khuya là kiểng đổ 3 hồi thức chúng, các em đều phải thức dậy. Dù với lứa tuổi ham ăn mê ngủ, nếu ở nhà làm gì các em thức dậy vào giờ nầy. Ngoài việc theo đúng giờ giấc của chương trình tu học ra, các em còn phải ăn chay trường suốt thời gian dự tu. Nội cái việc ăn chay trường không thôi, là đã làm cho tôi cảm phục các em quá rồi, nói chi đến những sự sinh hoạt tu học khác. Dĩ nhiên, đối với các em thì làm sao thích hợp với pháp môn tu của người lớn tuổi. Tuy vậy, nhưng những giờ tụng kinh niệm Phật, tôi thấy các em rất chăm chú theo dõi. Thương nhứt là giờ các em ngồi thiền vào lúc 10 giờ tối ở trên chánh điện. Các em ngồi chung với chư Tăng Ni và những tu sinh lớn tuổi. Chúng tôi hướng dẫn thực tập cho các em cách ngồi cũng như cách thức theo dõi hơi thở. Chúng tôi thực tập cho các em phương pháp tùy tức niệm Phật. Ngoài việc tụng kinh niệm Phật ra, chúng tôi còn chú trọng hướng dẫn cho các em tập thở, tập hát những bài hát đạo. Nhờ thế, mà các em có được một không khí vui tươi đỡ phải buồn chán.

Tôi có hỏi một vài cô chú, các em cảm thấy thế nào khi tham dự khóa tu học nầy. Các em không ngần ngại cho biết là các em rất thích và rất vui khi được ngồi bên nhau tu học. Nhất là các em được sự chú ý chăm sóc của các Thầy Cô và những cô bác đồng tu. Trong số các em nhỏ tuổi, tôi đặc biệt chú ý nhiều nhứt là chú Huệ Ân. Chú Huệ Ân năm nay 9 tuổi, tánh tình của chú rất dễ thương. Nhìn cách ăn nói đi đứng của chú, tôi thấy rất khác thường hơn các em khác. Chú có một người chị ruột 12 tuổi cũng cùng tu chung. Có lẽ chú được sự giáo dục dạy dỗ của gia đình rất kỹ lưỡng. Thấy tánh tình của chú đạo mạo có vẻ nghiêm trang như người lớn, tôi thường hay lân la trêu chọc chuyện trò với chú. Tôi dạy chú hát và chú đã học thuộc lòng các bài hát. Mỗi lần sau thời giảng dạy, tôi thường gọi chú đứng lên hát cho mọi người trong lớp nghe. Chú vâng lời mạnh dạn không một chút e sợ rụt rè và chú hát rất đúng giọng.

Chú là một trong các chú rất siêng năng trong việc tu học. Chú giữ gìn oai nghi rất cẩn thận như một người lớn. Ai trông thấy chú cũng rất thương mến. Ở nhà, chú ăn chay trường, dù ba mẹ của chú bắt ép chú phải ăn thịt cá, nhưng chú quyết cự tuyệt không ăn. Tôi hỏi chú, ăn chay trường như vậy, con có thèm đồ ăn mặn không? Chú trả lời dứt khoát và gọn bân là con không có thèm, vì con không thích ăn thịt. Dù là ăn chay trường, nhưng da thịt của chú rất hồng hào và khỏe mạnh. Các chú khác tuy không có vẻ đạo mạo như chú Huệ Ân, nhưng tất cả cũng đều rất ngoan hiền dễ dạy. Mọi sinh hoạt tu học, các chú đều giữ gìn và thật hành đúng theo.



Nhìn thấy các cô chú mặc vào những chiếc áo màu vàng, màu nâu, màu lam, khi hành lễ ở chánh điện, thỉnh thoảng đi ngang qua, tôi hay để ý ghé mắt nhìn vào. Trông thấy các cô chú tụng niệm, lễ lạy rất thành kính nghiêm trang lòng tôi rất đổi vui mừng. Phải nói, các chú đã được quý Thầy Cô hướng dẫn chỉ dạy rất kỹ. Trong những giờ sinh hoạt tôi cùng với các cô chú cùng nắm lấy tay nhau hát những bài hát đạo. Tôi có viết hai bài hát để riêng tặng cho các cô chú: “Ngày Vui và Hoa Tình Thương”. Đa số các cô chú đều rất thích hát hai bài nầy:



Ngày Vui

Vui là vui quá vui
Quá vui mừng ôi thật là vui
Kìa ! chim hót líu lo trên cành
Cây xanh xanh và lá xanh xanh
Cùng nhau hát xoay quanh một vòng
Cùng nhau hát xoay quanh một vòng
Ta vui tươi trong ánh bình minh
Mừng hoa lá đẹp xinh an lành
Trời thanh thanh nước xanh xanh
Về đây hát tuổi xanh vui đùa
Về đây hát tuổi xanh vui đùa
Về đây hát tuổi xanh vui đùa.

 Hoa Tình Thương:

Sáng ra em thức dậy
Miệng em nở nụ cười
Người nhìn em tươi mát
Em nhìn người vui tươi

Em là một đóa hoa
Đóa hoa xin tặng người
Tặng cho Ba và Má
Cho những người em thương
Em là một đóa hoa
Đóa hoa nở trong vườn
Mang mùi thơm đạo đức
Ngát tỏa khắp mười phương

Em là một đóa hoa
Lòng em luôn thiết tha
Nhớ ơn người nuôi dưỡng
Công lao Mẹ và Cha.


 
Thầy trò chúng tôi vui đùa hát ca trong nắng ấm của buổi sáng sau giờ tập thể dục, hoặc sau giờ thiền hành buổi chiều. Tôi cám ơn các em rất nhiều. Chính nhờ các em mà tôi mới có dịp sống lại với cái tuổi ngây thơ hồn nhiên trong sáng như thuở nào mà tôi đã đánh mất. Bây giờ, tôi mới cảm thấy mình thật là trẻ trung trong tinh thần tuổi thơ hồn nhiên như các em. Chính cái tuổi thơ ngây trong sáng đó, mới là cái tuổi gần hợp với lẽ đạo nhiều hơn. Nhiều khi mình thích làm người lớn suy tưởng phân biệt viễn vông lung tung nhiều quá, mà đánh mất cái tuổi thơ ngây hồn nhiên trong sáng, thì thật là đáng tiếc biết bao ! Càng suy tư nghĩ ngợi nhiều chừng nào chúng ta lại càng cách xa đạo lý nhiều chừng nấy. Bởi chân lý, (nói rõ hơn là cái thực thể thanh tịnh sáng suốt chơn thật, thường gọi là chơn tâm ) nó rất thực tế lặng lẽ bình dị lúc nào nó cũng hiện hữu với chúng ta. Nhưng vì chúng ta sống theo vọng trần nên không nhận ra nó. Vì lầm qua không nhận, nên dù nó có mặt thực sự đó, chúng ta cũng không hay biết. Vì thế, trong kinh Đức Phật thường quở chúng ta là những kẻ mê muội. Nhưng, nếu chúng ta càng khởi nghĩ tìm nó, thì nó lại càng xa cách chúng ta diệu vợi. Do đó, sống lại với cái tuổi ngây thơ hồn nhiên, thì mọi vọng tưởng suy nghĩ sẽ không còn khả năng dẫn chúng ta đi xa. Bởi thế, tôi rất thích vui đùa hát ca với các em. Vì các em hồn nhiên ngây thơ thật dễ thương. Bấy giờ tánh người « Lớn » của tôi đã thực sự biến mất.



Có thể nói, đây là khóa tu học đặc biệt mà từ trước tới nay chưa từng có. Tôi không ngờ, các em còn trẻ tuổi mà lại chịu khép mình tu học nghiêm túc như thế nầy. Ai dám bảo, ở xứ nầy, không có mầm non Phật pháp. Chẳng qua, tại vì chúng ta chưa biết cách khai thác ươm mầm đúng cách hoặc thiếu môi trường thích hợp để cho nó được nẩy mầm xanh tươi tốt đó thôi. Nếu chúng ta thật sự quan tâm tạo môi trường tốt và phương pháp hướng dẫn tốt phù hợp với tuổi trẻ của các em, thì tôi tin chắc rằng trong tương lai các em sẽ đóng góp làm nhiều điều lợi ích cho Phật pháp. Bởi có gieo hạt, tất nhiên sớm hay muộn gì thì cũng sẽ có ngày đơm bông kết trái. Đó là định lý nhân quả tất nhiên. Đó là nói chuyện tương lai, nhưng trong hiện tại là các em có được những giây phút vui tươi thoải mái thật là an lạc hạnh phúc. Quả thật các em đã thực sự nếm được hương vị an lạc hạnh phúc nơi chốn thiền môn.


Nhìn vào thực trạng xã hội của giới trẻ ngày nay, chúng ta thấy, phần lớn là các em đã đánh mất định hướng đạo đức. Các em sống buông thả, tha hóa trụy lạc, đã và đang lún sâu vào con đường tội ác sa đọa. Các em đã gây ra nhiều điều bất an cho chính mình, gia đình và xã hội. Những tệ nạn buôn bán ma túy, hút chích xì ke, băng đảng, hãm hiếp dâm ô, trộm cướp v.v… xảy ra nhan nhãn hằng ngày. Đó là những vấn nạn to lớn khủng khiếp chung của nhơn loại. Một em biết hướng về đạo đức hành thiện là chính bản thân của em đó, được lợi lạc và từ đó em sẽ gieo rắc những hạt giống đạo đức thương yêu đem lại sự an vui hạnh phúc cho gia đình và xã hội.



Hơn bao giờ hết, tôn giáo đúng nghĩa thực chất của nó, vẫn phải là cái phao nổi để cho mọi người bám vào, hầu để cho họ nương đó mới có thể tháo gỡ bớt những bức xúc căng thẳng khó khăn nội tại. Có nhận diện, chuyển hóa được những nguyên nhân gây ra khổ đau, thì người ta mới có thể vượt qua khổ đau. Có thế, thì nhơn loại mới có được cuộc sống an lạc hạnh phúc. Bằng ngược lại, thì nhơn loại sẽ tiếp tục gánh chịu những đau khổ hệ lụy dài dài. Nhứt là đối với thế hệ trẻ rất cần được sự quan tâm chăm sóc góp sức của các tôn giáo. Tôn giáo có khả năng tiếp sức hướng dẫn giáo dục cho các em có một nếp sống đạo đức lương thiện cao đẹp trong hướng tiến xây dựng tình người và tình đạo. Một nền văn hóa cao đẹp, chỉ có, khi nào mỗi cá nhân biết phục thiện, hành thiện và nhất là phải sống thật với chính mình. Có thường xuyên chăm sóc nuôi dưỡng đời sống tâm linh, thì nhơn loại mới có thể lấy lại sự quân bình giữa đời sống vật chất và tinh thần. Đó là phương cách hay nhất để mang lại nguồn sống vui tươi hạnh phúc cho mình và tha nhân. 



Thời gian ba tuần lễ trôi qua thật nhanh chóng. Mới đó mà đã sắp mãn khóa rồi. Sau khi rời khỏi nơi đây, các em sẽ trở về với đời sống bình nhật. Những ngày các em sống ở nơi đây, ít nhiều gì các em cũng đã tiếp nhận được những niềm vui an lạc trong khi các em tu tập. Chính những hạt giống tu tập nầy nó sẽ là nguyên động lực hướng dẫn đời sống các em sau nầy có những nếp nghĩ, lời nói hoặc hành động theo chiều hướng thánh thiện tốt đẹp hơn. Đã có huân tập những hạt giống tốt đẹp, thì chắc chắn sẽ hiện hành ra bằng những hành động tốt đẹp. Với tuổi thơ ngây trong sáng của các em, tâm thức của các em giống như tờ giấy trắng rất dễ tiêm nhiễm. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, câu nói nầy như là một nguyên lý trong cách tiếp cận xử thế của con người.



Chúng tôi viết bài nầy, mục đích là để muốn chia sẻ những niềm vui chung cùng với các em. Những niềm vui nầy có được, trên hết vẫn là nhờ ân đức lớn lao của Hòa Thượng Tông Trưởng. Hòa Thượng đã tạo ra những phương tiện và môi trường tốt để cho mọi người có cơ hội về đây tu học. Kế đến là những vị trong Ban tổ chức khóa tu và quý vị trong Ban trai soạn. Nhất là quý vị trong Ban trai soạn. Những vị nầy đã làm những công việc nấu nướng vất vả ở nhà bếp. Họ chịu khó nhọc phải thức khuya dậy sớm để lo nấu nướng. Nhờ đó mà mọi người mới có được thức ăn yên tâm tu học. Nếu không có thực, thì làm sao vực được đạo. Cho nên, chúng ta cần phải mang ơn các vị nầy. Nói rộng ra, là chúng ta phải tri ân tất cả mọi người. Các tu sinh hôm nay không thể nào quên được ân đức của Đàn na thí chủ dâng cúng. Xin mọi người hãy nhận nơi đây lòng tri ân sâu xa của tất cả chúng tôi.



Viết, trước là để thân tặng cho các em. Thiết nghĩ, đây cũng là một kỷ niệm rất êm đẹp lần đầu trong cuộc đời hướng về đạo pháp của các em. Sau nầy, khi các em trưởng thành, nếu có dịp, các em có thể nhìn lại những dòng chữ và những hình ảnh đầy kỷ niệm thân thương nầy, để thấy rằng đã có một thời, lúc còn trẻ trung mình cũng đã hướng lòng về Phật pháp tu học cùng với các bạn ở Tổ Đình Phước Huệ. Đó cũng là điều mang lại cho các em có được một niềm vui rất nhẹ nhàng thanh thoát.

Đồng thời, cũng là để nhắc nhở cho các em nhớ rằng, trong những ngày cùng thầy bạn tu học bên nhau, những gì mà quý thầy giảng dạy trao gởi nhắc nhở, các em phải cưu mang khắc ghi sâu đậm vào lòng và nên lấy đó làm kim chỉ nam, làm lý tưởng để chỉ hướng cho thuyền đời của các em. Các em nên ghi nhớ lời Phật dạy: “Chớ nên làm các điều ác, hãy cố gắng làm những điều lành, và luôn luôn giữ gìn tâm ý của mình cho được trong sạch”. Đó là con đường rộng lớn mà các em cần phải thật hành áp dụng vào trong đời sống hằng ngày. Đồng thời, chúng tôi cũng muốn trình bày qua những ngày các em tu tập ở nơi đây, để cho quý độc giả Phật tử thông cảm và cùng chia sẻ những niềm vui chung cùng với các em. Niềm vui đó để thấy rằng, niềm tin tưởng vào Tam bảo của các em hôm nay rất là vững mạnh và các em đã tự vạch cho mình một hướng đi hướng thượng dựa trên căn bản tình người và tình đạo.


 

Những ngày bên Mẹ


Hay tin Mẹ tôi lâm trọng bệnh, tôi liền vội vã đặt vé máy bay về ngay. Lúc mới nhận được tin cháu tôi cho hay, rằng Mẹ tôi đang trong tình trạng hấp hối, thú thật, lòng tôi lúc đó cũng có chút thoáng buồn, nhưng sau đó, tôi lấy lại bình tĩnh ngay không có gì phải ưu tư lo lắng. Vì tôi nghĩ rằng, đời người ai rồi cũng phải bước qua cái ngưỡng cửa tử thần. Hơn thế nữa, tuổi thọ của Mẹ tôi năm nay cũng đã khá cao, chỉ còn qua một cái Tết nữa là Bà đã tròn đúng một trăm tuổi thọ.

Như thế, kể ra bà cũng đã vượt qua cái tuổi “nhơn sanh thất thập cổ lai hy” quá nhiều rồi. Thật đó cũng là một phước duyên của bà rất lớn. Đời người ta sống được một trăm tuổi, đi tròn một thế kỹ thật là hiếm có! Thế là, Bà cũng đã đến cái tuổi cần phải an nghỉ cho khỏe. Người xưa nói: “ Đa thọ đa nhục”. Sống lâu chừng nào khổ nhiều chừng nấy. Khổ mình đã đành mà còn làm khổ cho những người thân ruột thịt của mình nữa. Họ vì mình mà phải lo lắng, chăm sóc ngày đêm đủ thứ. Do nghĩ thế, lòng tôi vẫn bình tĩnh thản nhiên, cứ làm theo bổn phận của mình mà lo xúc tiến công việc…

Ngồi trên máy bay, suốt 8 tiếng đồng hồ, tôi chỉ biết nhiếp tâm niệm Phật. Tuyệt nhiên, không phóng tâm nghĩ ngợi đến chuyện bệnh trạng của Mẹ tôi. Có phải tôi vô tình lắm không? Không. Đối với thế nhân thường tình, thì người ta cho đó là vô tình, bạc nghĩa. Tại sao Mẹ mình bệnh nặng sắp chết, mà mình lại an nhiên dửng dưng cho được? Có phải mình thiếu bổn phận trách nhiệm chăng? Tôi rất cảm thông cho điều họ nghĩ và trách móc đó. Tuy nhiên, cùng một sự việc, tùy theo trình độ nhận thức của mỗi người mà nó có sai khác.

Đối với tôi, là người có chút ít hiểu biết qua những lời Phật Tổ chỉ dạy về cái lý vô thường, sanh diệt, nên tôi không có gì phải bận tâm bồn chồn lo âu bấn loạn. Bởi vì, cái đáng lo nhứt của tôi hiện giờ là chỉ một bề hướng lòng về Mẹ tôi để tiếp sức cùng bà niệm Phật. Dù cho bà đang trong cơn mê sảng hay tỉnh táo, tôi cũng dốc hết lòng thành chú tâm niệm Phật để hầu trợ giúp cho bà phần nào. Tôi nhìn vào bàn tay của tôi để thầm cầu nguyện cho bà. Tôi biết, Mẹ tôi tuy đang bệnh nặng nằm ở trên giường, nhưng đối với tôi lúc nầy bà vẫn ở bên tôi. Đó là điều mà tôi thiết nghĩ, vừa hữu ích cho tôi trong lúc nầy và cũng vừa hữu ích cho Mẹ tôi.

Tôi tin chắc rằng, sự nhiếp tâm niệm Phật của tôi, chắc chắn là bà sẽ có nhận được, vì đó là thần giao cách cảm hay cảm ứng đạo giao bất khả tư nghì. Tôi cho rằng, việc làm nầy của tôi là đúng theo lời Phật Tổ chỉ dạy. Còn hơn, để tâm nghĩ tưởng mông lung, vẽ vời tưởng tượng bao nhiêu thứ chuyện không đâu, thiếu thực tế, như vậy, thử hỏi cả hai có được lợi ích gì không? Thật là vô ích. Hơn nữa, đừng quên rằng, hiện mình đang ngồi trên máy bay. Ngay cả bản thân mình lúc nầy, cũng còn chưa biết ra sao? Không biết còn hay mất, khi máy bay chưa hạ cánh đáp xuống đất an toàn. Thế thì lo nghĩ vẩn vơ mông lung chỉ thêm mệt sức và càng hao tổn tinh thần mà thôi.

Tốt hơn hết là cứ bình tâm niệm Phật. Đó là tâm trạng của tôi khi ngồi trên máy bay. Nói lên điều nầy, tuyệt đối, tôi không dám có ý khoe khoang hay phô trương cái bản ngã đáng ghét của mình cho mọi người nể phục tán dương. Tuyệt đối trăm lần không vạn lần không. Sở dĩ tôi nói như thế, là vì thật tình, tôi muốn chia sẻ cái tâm cảnh của tôi với những ai không may có cùng hoàn cảnh tâm trạng giống như tôi lúc nầy. Tôi thiết nghĩ, chúng ta chỉ nên làm như thế là tốt hơn. Đó là điều mà tôi thành thật muốn chia sẻ cùng với quý liên hữu, bạn đọc.

Sau khi ra khỏi máy bay, làm thủ tục giấy tờ nhập cảnh ở phi trường Tân Sơn Nhứt xong, tôi được một vài người thân chờ đón sẵn rồi đưa chúng tôi lên xe chạy thẳng về quê nhà. Từ phi trường về đến quê tôi ở ấp Mỹ Cẩm, xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, xe chạy tốc hành phải mất khoảng 6 tiếng đồng hồ mới tới. Thế là suốt ngày hôm ấy, tôi phải ngồi máy bay và xe hơi, cộng lại là 14 tiếng đồng hồ. Kể ra, cũng khá thắm mệt. Nhứt là sức khỏe của tôi cũng không mấy tốt lắm. Tôi tới nhà vào lúc 11 giờ đêm, tối thứ ba ngày 7/8/07.

Vừa bước xuống xe, các cháu tôi có mặt đông đảo, chúng nó đều mừng rỡ chào đón rước tôi vào nhà. Vì trong đêm tối, ánh đèn điện từ trong sân nhà dọi ra, không đủ ánh sáng để tôi nhận diện rõ từng đứa cháu một. Tôi chỉ đưa mắt nhìn qua một lượt và mỉm cười nhẹ trên môi rồi tôi vội vã bước thẳng vào nhà. Tôi đến bên Mẹ tôi, rồi nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh bà và hỏi bà có nhận ra tôi không? Mẹ tôi rất mừng hiện rõ trên nét mặt của bà. Mẹ tôi nói: “Có phải thầy Đại về đó không”? Bà hỏi tôi với vẻ vô cùng xúc động và giọng nói run run không được khỏe lắm. Tôi biết bà vẫn còn đang mệt, lại thêm vì quá xúc động mừng tôi về, nên bà nắm lấy tay tôi, rồi liền nằm xuống. Tôi phải kề sát vào tai bà chỉ hỏi được một câu: “Má cảm thấy có mệt lắm không”? Vì bà lãng tai hơi nặng, nên tôi phải nói lớn tiếng bà mới nghe. Bà nói: “Má còn mệt lắm”! Thế là tôi để bà nằm nghỉ cho khỏe. Bấy giờ, tôi quay sang hỏi thăm các đứa cháu của tôi về bệnh trạng của bà trong mấy ngày qua.

Một trong những đứa cháu của tôi có mặt lúc đó là thầy Lệ Sĩ. Thầy là người con trai thứ tư của anh hai tôi. Anh hai tôi có cả thảy là 6 người con , 2 gái 4 trai. Đã chết 2 người con trai, hiện chỉ còn 4 người: 2 gái và 2 trai. Thầy Lệ Sĩ hiện là trụ trì chùa Phước Thanh. Tôi hỏi thầy về diễn tiến bệnh trạng của bà nội thế nào. Thầy Lệ Sĩ lần lượt trình bày cặn kẽ cho tôi biết.

Thầy nói: Hôm con điện thoại báo tin cho thầy là bà nội đang trong cơn hấp hối. Bà nằm mê man bất tỉnh. Đôi chân của bà nội lạnh buốt từ dưới lên trên. Hơi thở của bà rất yếu ớt, dường như không nghe hơi thở. Chúng con đứng chung quanh giường niệm Phật trợ niệm cho bà. Con bảo tất cả đều phải giữ im lặng niệm Phật. Tất cả kẻ lớn người nhỏ đều nghe theo con mà hết lòng niệm Phật. Đèn cầy thắp sáng 4 gốc giường. Ai cũng nghĩ là bà nội sẽ không qua khỏi. Nhưng sau đó, thật là mầu nhiệm từ từ bà tỉnh lại.

Đêm qua, bà nội lại mê sảng, la ó lớn tiếng, vùng vẫy cào cấu lung tung, một hiện tượng thật kỳ lạ, tụi con rất lo sợ. Bà nói lung tung, không ai hiểu gì cả. Ngừng một lát, thầy lại kể tiếp cho tôi nghe. Đã mấy hôm qua, bà đi tiểu rất khó khăn. Có rước bác sĩ đến xem. Bác sĩ nói: Bà bị nhiễm trùng đường tiểu, nên bà bị lên cơn sốt khá nặng.

Qua hôm sau, tôi thấy tình trạng sức khỏe của bà quá yếu, vả lại bà rên la nhiều hơn, vì đi tiểu bị đau và không tiểu được. Tôi tức tốc kêu xe đưa bà đi nhà thương điều trị. Tôi đưa bà thẳng lên bệnh viện tỉnh, vì sợ ở huyện không có đủ phương tiện dụng cụ trị liệu bằng. Sau khi làm thủ tục nhập viện, bác sĩ làm xông tiểu cho bà. Chỉ vài giờ sau là bà cảm thấy khỏe lại. Bác sĩ cho biết, bà bị nhiễm trùng đường tiểu khá nặng. Ống dẫn nước tiểu bị sưng lên. Nếu lên trễ, thì bà có thể tử vong, vì bà sẽ bị bể bàng quang. Thật là may mắn! phước duyên bà còn, nên tôi về kịp thời để đưa bà đi bệnh viện trị liệu. Trước đó, không ai khuyên bà đi được.

Sau khi xuất viện, bà về nhà, tôi bảo các cháu gái của tôi phải chăm sóc cho bà nội thật kỹ lưỡng, cẩn thận chu đáo. Các cháu tôi làm theo lời dặn của tôi. Vài ngày sau, bà ăn uống tuy không được bình thường như trước kia, nhưng cũng tạm ăn uống chút ít được. Bà nói, ăn uống không biết ngon lành chi hết, chỉ ráng nuốt cho nó có trong bụng mà thôi.

Một tuần sau nữa, bà ăn hơi biết ngon. Thế là sức khỏe của bà từ từ hồi phục lại. Nhìn thấy bà hơi khỏe lại, tôi rất vui mừng. Vì bà đã trải qua một cơn bạo bệnh như chết đi sống lại. Có thể nói, đây là lần đầu tiên bà bị bệnh nặng nhứt trong suốt cuộc đời của bà. Từ nhỏ tới già, bà chưa bao giờ nằm nhà thương tới một ngày. Chỉ có lần nầy, bà phải nằm ở nhà thương 3 ngày để bác sĩ theo dõi điều trị. Trong suốt thời gian nầy, tôi luôn túc trực bên bà, để theo dõi bệnh trạng của bà. Có nhiều Phật tử đến thăm. Con cháu cũng thường tới lui thăm viếng.

Tôi mua vé về 6 tuần. Thời gian trôi qua thật nhanh. Mới đó đã sắp đến ngày trở về Úc. Gần ngày về, tôi đến bên bà nắm lấy tay bà và nói: “Còn vài ngày nữa, con trở về Úc rồi, Má ráng ăn uống ngủ nghỉ cho có sức khỏe. Má mạnh khỏe con cháu đứa nào cũng mừng hết”. Bà nắm lấy xiết chặt tay tôi và nói: “Tuổi của Má bây giờ cũng đáng mồ mả rồi, Má muốn chết mà nó không chết. Nếu chết được, thì nó khỏe biết bao nhiêu, khỏi phải hành hạ khổ cực con cháu. Bây giờ, Má chỉ còn có một mình con thôi. Miễn sao con mạnh khỏe là Má mừng rồi! Con về Úc rồi, ở đây, Má có chết, thì có thầy Sĩ lo. Con đừng về nữa tốn hao tiền bạc lắm! Tu rồi làm gì ra tiền!

Đó là những lời rất chân tình xuất phát từ tấm lòng thương yêu của một người Mẹ già đối với đứa con ở phương xa. Nghe qua, lòng tôi cảm thấy thật chua xót se thắt chạnh lòng! Hơn lúc nào hết, lúc nầy, tôi mới cảm nhận được tình Mẹ thương con thật là thiêng liêng cao cả. Bao giờ cũng sợ con mình khổ cực và tốn kém. Quả tình, tình Mẹ thương con bao la không bờ bến. Dù còn một hơi thở tàn, cũng vẫn nghĩ thương tưởng đến con và lo lắng cho con. Tôi ngồi yên lặng nắm lấy xiết chặt tay bà. Tôi biết giờ phút nầy, bà rất buồn khi biết tôi sắp sửa rời khỏi nơi đây. Dù bà có thừa can đảm chịu đựng, nhưng trước giờ phút chia tay giữa tình Mẹ con trong lúc nầy, không thể nào bà không xúc động. Tôi biết Mẹ tôi đang nén dằn lòng xúc động không muốn để lộ ra cho tôi biết.

Dù đã gần trăm tuổi đời, nhưng tâm trí của bà vẫn còn minh mẫn sáng suốt chưa bao giờ nói năng lẫn lộn. Đó là một diễm phúc lớn lao cho bà cũng như cho con cháu. Một đứa cháu gái tôi có ý hỏi chọc bà. Nè nội, thầy đi rồi, nội có buồn không? Một câu hỏi tuy có ý trêu chọc bà cho vui, nhưng vô tình đó lại là một câu hỏi xoáy mạnh vào tâm khảm đau thương buồn tủi của bà. Bà nói với giọng rất nhẹ nhàng: “Mầy còn phải hỏi”! Chỉ vỏn vẹn có ba chữ thôi: “còn phải hỏi” mà nó đã gói trọn tâm tư sâu kín của một người Mẹ già khi nghĩ đến xa con. Có bà Mẹ nào không đau lòng xót dạ khi từ biệt con mình trong giờ phút chia ly? Kẻ ra đi không buồn bằng người ở lại. Vì người ra đi bao giờ cũng có cảnh mới. Còn người ở lại nhìn cảnh cũ càng thêm chua xót quặn thắt đau lòng!.

Ái biệt ly khổ, đó là một trong 8 nỗi thống khổ lớn của con người. Sự đời, dù biết vậy, nhưng không ai tránh khỏi. Song có điều, tôi cảm thấy không buồn lắm, vì 6 tuần qua, tôi đã có dịp gần gũi cận kề bên cạnh Mẹ tôi. Tôi có dịp nhìn bà thật kỹ và lo cho bà từng miếng ăn thức uống. Thỉnh thoảng, tôi nằm bên cạnh bà. Đươc nằm bên cạnh bà tôi cảm thấy thật là sung sướng vô cùng. Tôi có cảm giác như sống lại cái thời thơ ấu của tôi. Những lúc bà khỏe, bà kể chuyện xưa về những thân nhân kẻ còn người mất trong dòng họ bên nội bên ngoại của tôi. Tôi nằm nhắm nghiền đôi mắt lại lắng nghe bà kể. Do đó, tôi cảm thấy, những ngày sống bên Mẹ tôi là những ngày hạnh phúc lớn nhứt trong đời tôi. Lòng tôi cảm thấy thật vô cùng ấm áp. Tôi từ biệt bà, lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng như hưởng được một niềm vui lớn mà chính Mẹ tôi đã ban tặng cho tôi.

 

 

Những niềm vui khi tụng Kinh Vu lan

Chủ đề mới nhìn qua như là một nghịch lý, trái với lẽ thường tình. Thông thường ai tụng Kinh Vu Lan cũng cảm thấy rất đau buồn rơi lệ. Một niềm đau cảm xúc trào dâng từ đáy lòng sâu kín biểu hiện một cách rất tự nhiên. Vì nội dung Kinh Vu Lan nói lên tính chất của tình thương. Sự thiết lập quan hệ của loại tình thương nầy được dựng lên từ bản chất đặc thù của lòng từ bi vô lượng. Nguyên nhân có ra là do Tôn giả Mục Kiền Liên bạch Phật, với mục đích là để tìm phương cách cứu thoát mẹ Ngài. Bà Mục liên thanh đề, vì động lực vô minh thúc đẩy gây tạo nghiệp ác, nên sau khi chết, bà bị đọa vào ngục hình thọ khổ. Tôn Giả Mục Kiền Liên là một người con chí hiếu, sau khi dùng huệ nhãn kiếm tầm, biết rõ mẹ mình thác sanh vào loài ngạ quỷ, nên Ngài vội tìm mọi phương cách để cứu thoát mẹ…

Đó là Tôn giả đã sử dụng tính chất hay cảm tính của tình thương. Một cảm tính được biểu hiện trong quan hệ thâm tình mẫu tử. Nói cách khác, đó là lực dụng của tình thương chớ chưa phải là bản chất của tình thương. Lực dụng của tình thương đó được biểu hiện xuất phát từ cội nguồn bản chất của tình thương. Chất liệu của tình thương đó khi xúc tác một đối tượng ân sâu nghĩa nặng, liến đánh động khơi dậy được tính hiếu thảo hướng sinh thăng hoa cao đẹp của con người.

Công dưỡng dục thâm ân dốc trả

Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền

Làm con hiếu hạnh vi tiên

Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tầm

Bản chất của tình thương là cội nguồn của đạo đức. Ở đây, ta thấy sự thể hiện tình thương bằng tất cả đạo đức của con người. Đó là cội gốc nhân bản. Là con người không ai lại không có cội gốc đạo đức nầy. Cho nên, khi thể hiện tình thương đem đến nguồn vui cho một đối tượng nào đó, không phân biệt thân sơ, hay chủng loại, thì đó là một niềm vui lớn chớ sao lại buồn? Tôn giả Mục Kiền Liên đem hết tấm lòng hiếu thảo của một người con để cứu thoát mẹ mình hết khổ, và khi người mẹ không còn bị đọa đày ở trong cảnh ngục tù khổ đau nữa, thì quả đó là một niềm vui lớn. Trường hợp ta có một người thân như cha hay mẹ, đang bị bệnh nặng, ta chạy tìm thầy thuốc giỏi để chữa trị cho người thoát khỏi cơn bệnh hiểm nghèo và người đã được mạnh khỏe an bình trở lại, như thế, thì thử hỏi ta vui hay buồn? Hẳn nhiên, là ta sẽ vui mừng không thể nào nói hết.

Muốn cứu thoát một người tội nghiệp sâu nặng như bà Mục liên thanh đề, tất nhiên, là phải vận dụng đến thần lực chú nguyện của nhiều người. Ngay cả thần lực của đức Phật cũng không thể cứu thoát nghiệp nặng của bà được. Điều nầy, cho ta thấy luật nhân quả rất công bằng: ai ăn nấy no, ai gây tội người đó phải gánh chịu, không ai có thể ăn thế hay thay thế tội lỗi cho ai được cả. Và cũng không có một bàn tay thần lực nào có thể trực tiếp cứu thoát được bà. Nếu được, thì Tôn giả Mục kiền liên đã cứu thoát mẹ ngài rồi. Đâu cần gì phải trở về bạch Phật, để rồi Phật phải chỉ bày cách thức cúng dường trai tăng để cứu mẹ Ngài. Do đó, cho chúng ta thấy, thần thông không thể thắng được nghiệp lực.

Phật và các hàng Thánh chúng hiệp lực chú nguyện, đó chỉ là phần trợ duyên cực hảo mà thôi. Điều quan yếu là đương sự phải hết lòng ăn năn cải hối những tội lỗi mà mình đã gây ra. Nhờ trợ duyên tốt đó mới đánh động được tâm thức của bà Thanh đề, nên bà đã hết lòng ăn năn hối cải và sau đó bà được thác sanh về cảnh giới an lành. Một người thoát khỏi ngục tù đau khổ, sanh về cảnh giới an vui, thử hỏi ta vui hay buồn? Hẳn nhiên là ta rất vui rồi.

Một niềm vui nữa, là Phật đã chỉ dạy cho chúng ta một diệu pháp thần kỳ về phương cách báo hiếu cho ông bà cha mẹ chúng ta. Không những ông bà cha mẹ trong hiện đời mà còn trải qua bảy đời nữa. Khi chúng ta thiết lễ trai nghi thành tâm cúng dường trai tăng với tất cả tấm lòng thành kính, tất nhiên, nhờ phước đức cúng dường đó, mà ông bà cha mẹ của chúng ta không những trong hiện tại được nhiều phước báo, mà còn những ông bà cha mẹ quá vãng trong bảy đời cũng được siêu thăng thoát hóa.

Chư Đại đức mười phương thọ thực

Trong bảy đời sẽ được siêu thăng

Lại thêm cha mẹ hìện tiền

Được nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn…

Một niềm vui nữa, là chúng ta được cái duyên phúc nhiều đời trong quá khứ, nên nay mới gặp được Tam bảo. Mà hình ảnh của chư Tôn đức Tăng Ni, sau ba tháng an cư kiết hạ hội tụ trong ngày lễ Tự Tứ, để chúng ta có dịp gieo tạo phước điền. Công đức cúng dường nầy không những chúng ta có phước lớn mà còn ảnh hưởng đến tất cả nhơn thiên trong mười phương cũng đều được gội nhuần ân đức và sẽ được nhiều lợi lạc, do sức chú nguyện của chư Tăng. Đó là niềm vui do chính ta đã có được cơ duyên cúng dường gieo trồng cội phước và đồng chú nguyện cho muôn loài cộng hưởng.

Một niềm vui sau cùng, sau khi chư Tăng chú nguyện viên dung rồi, thì tất cả hàng Phật tử nam nữ chúng ta cùng nhau thọ trai trong khung cảnh đầm ấm tràn đầy yêu thương trong thâm tình đạo vị cùng với chư Tăng Ni. Đó là một ngày hội lớn để mọi người có cơ hội mừng cho ông bà cha mẹ của mình kẻ còn người mất đều được ân triêm lợi lạc. Ngày Tự tứ của chư Tăng cũng còn gọi là ngày Phật hoan hỷ, chúng Tăng hiện tiền hoan hỷ. Như vậy, ngày Đại lễ Vu Lan không phải là ngày buồn mà là một ngày vui mừng lớn, vì tất cả đều được gội nhuần tắm mình trong ánh hào quang của chư Phật.

Cho nên, khi tụng đến những câu cuối của Kinh Vu Lan, ta thấy Phật dạy rất rõ ràng là tất cả đều vui chớ không có khóc than bi lụy buồn rầu chi cả. Mọi người đều hân hoan trong niềm vui chung là âm siêu dương thới và khắc ghi nhớ mãi trong lòng gìn giữ ngày Đại Lễ truyền thống cao đẹp nầy:

Đệ tử Phật lo âu gìn giữ

Mới phải là Thích tử thiền môn

Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn

Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan…

Tóm lại, lướt sơ đại khái qua bản Kinh Vu Lan Phật dạy về phương pháp báo hiếu cho ông bà cha mẹ của người Phật tử xuất gia và tại gia, với cái nhìn của tôi, thì nội dung Kinh Vu Lan, không có điều gì mà ta cảm thấy bi lụy khóc than buồn tủi cả. Sự buồn tủi đó chẳng qua là do sự cảm xúc tự nhiên của chúng ta mà thôi. Vì bản chất của đạo Phật là giác ngộ và giải thoát, mà Kinh Vu lan là một trong các Kinh điển Đại thừa, có mục đích cao thượng là đức Phật hướng con người trở về cội nguồn. Cội nguồn của đời sống tâm linh. Cội nguồn đó chính là bản chất của tình thương. Nói cách khác cho dễ hiểu hơn là Phật dạy mỗi người hãy trở về với nguồn tâm thanh tịnh sáng suốt của chính mình. Đó là nội dung yếu chỉ của Kinh Vu lan nhắm tới. Tuy nhiên, ở cấp độ thấp hơn, là Phật dạy người Phật tử dù xuất gia hay tại gia đều phải trải rộng tấm lòng yêu thương đối với tất cả muôn loài. Dĩ nhiên, trong đó có tất cả thân bằng quyến thuộc của chúng ta.

Nếu tụng Kinh mà ta sanh tâm buồn tủi, thì e không đúng với tinh thần giác ngộ Phật dạy. Bất luận bộ Kinh nào, dù thuộc hệ thống Phật giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo Phát Triển, tất cả đều hướng con người đến chỗ an lạc giải thoát. Bởi buồn khổ là hiện tướng của phiền não. Vượt khỏi những phạm trù ràng buộc đối đãi sai khiến của phiền não, thì ta mới có được an lạc hạnh phúc thực sự. Vì thế, khi ta tụng Kinh đọc lại những lời Phật dạy, mỗi lời Kinh đều chứa đựng một hương vị an vui giải thoát. Nếu chúng ta không khế nhận thẩm thấu được điều căn bản nầy, thì việc tụng niệm của chúng ta sẽ không có được lợi ích nhiều lắm.

Thế nên, khi tụng Kinh ta cần phải để tâm quán chiếu sâu vào tự thể để thấy được bản chất của tình thương hơn là nằm trên mặt hiện tượng cảm tính của tình thương. Nếu thế, thì chúng ta sẽ không bao giờ có được định tâm an lạc. Hãy nương theo những lời Kinh Phật dạy để hội nhập vào thể tánh chơn như. Đó là chúng ta khéo biết tìm lại lẽ sống chân thật của chính mình.

Qua những điều trình bày khái quát trên, nếu quý vị nào đồng cảm với chúng tôi, thì khi tụng Kinh Vu Lan Báo Hiếu chúng ta nên biểu lộ niềm vui chớ không nên buồn. Vì khi chúng ta vui, thì ông bà cha mẹ chúng ta mới vui theo chúng ta. Còn nếu chúng ta khóc than bi lụy thì chỉ làm tổn thương tinh thần của ông bà cha mẹ chúng ta mà thôi. Vì thân xác của chúng ta là kết quả của dòng huyết thống do ông bà cha mẹ của chúng ta truyền đạt lại. Do đó, mỗi dòng máu luân lưu trong mỗi tế bào của chúng ta, đều có mặt ông bà cha mẹ của chúng ta cả. Vì vậy, nếu chúng ta muốn cho ông bà cha mẹ của chúng ta an vui, thì ta phải nên an vui. Đó là một sự thật, không ai có thể chối cải phủ nhận được.

Kính chúc toàn thể Phật tử có được niềm vui lớn trong mùa báo hiếu Vu Lan nầy.

 

Tân xuân Tùy Bút

Cứ mỗi độ xuân về lòng người như hân hoan rộng mở, nô nức háo hức chào đón xuân sang. Vì mùa xuân là mùa tươi đẹp gợi cảm, gây cho lòng người với biết bao niềm ước mơ hy vọng tràn ngập ở tương lai. Bất cứ ước mơ nào, người ta cũng nhằm hướng đến tô dệt nên nhiều mộng đẹp. Trong khi mơ ước, người ta lại quên đi cuộc sống hiện tại. Có người nghĩ rằng, vì cuộc sống hiện tại có quá nhiều đau khổ, nên khiến người ta phải nghĩ đến nuôi dưỡng nhiều mộng tưởng hy vọng tươi đẹp sáng lạn ở tương lai. Nuôi dưỡng niềm hy vọng để cho cõi lòng dịu bớt những căng thẳng bức xúc đau khổ trong hiện tại. Đó chính là phương cách trốn chạy không dám nhìn thẳng vào sự thật.

Niềm ước mơ hy vọng nầy, nếu nhìn ở một gốc độ nào đó, thì cũng không hẳn là hoàn toàn vô lý. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng, bất cứ một ước mơ nào, nó cũng chỉ là ảo tưởng biến hiện của dòng tâm thức mà thôi. Trong khi mơ ước, người ta lại không quan tâm gì đến những việc xảy ra trong hiện tại. Nhưng người ta đâu có ngờ rằng, chính hiện tại mới là cái chất liệu quan yếu để định hướng xây dựng sự nghiệp ở tương lai. Chối bỏ hiện tại là ta đã đánh mất cuộc sống. Một cuộc sống thật sự có mặt quý giá mầu nhiệm. Một khi đã đánh mất cuộc sống “Chân, Thiện, Mỹ” hiện tại, thì chúng ta đừng mong có được một cuộc sống tươi sáng rạng rỡ ở tương lai. 

Từ ý niệm đó, cho chúng ta thấy rằng, đời sống có hạnh phúc hay khổ đau, đều hoàn toàn do chính chúng ta định đoạt lấy. Cứ nhìn vào kinh nghiệm bản thân, cho ta thấy rõ điều đó. Nếu bạn là một học sinh, bạn có quyền mơ ước đến cuộc sống tương lai của bạn. Bạn có thể vẽ ra với nhiều mộng đẹp. Điều đó, không ai có quyền ngăn cấm bạn. Nhưng thưa bạn, khi mơ ước điều gì, xin bạn chớ quên rằng, muốn đạt được lý tưởng ước vọng đó, thì bạn phải ý thức đến việc làm hiện tại của bạn. Nghĩa là bạn phải cố gắng hết sức mình trong việc học tập. Như thế, thì hiện tại chính là yếu tố quan trọng, nó có đủ thẩm quyền quyết định cho chiếc thuyền đời tương lai của bạn. Ngược lại, nếu chỉ là một ước mơ suông, thì bạn sẽ không bao giờ tựu thành mộng ước. Nếu như bạn không cắm rễ sâu vào hiện tại, thì chắc chắn cây tương lai của đời bạn sẽ khô héo tàn tạ và như thế thì không bao giờ có nở hoa và trái hạnh phúc được.

Nếu bạn là người tu hành đang tu tập theo pháp môn Tịnh độ chẳng hạn, bạn luôn thao thức mong mỏi là sau khi bỏ báo thân nầy, được sanh về thế giới Cực lạc. Điều nguyện ước đó, quả là một lý tưởng rất cao đẹp tuyệt vời. Tuy nhiên, nếu đó chỉ là một ước nguyện suông, thì bạn đừng hòng có được như thế. Mà đó chỉ là một ảo tưởng mơ hồ, thiếu thực tế. Nếu bạn muốn biến giấc mơ đó thành sự thật, thì hằng ngày bạn phải thành tâm tha thiết niệm Phật và tu tạo thêm nhiều điều phước thiện khác. Đó là bạn khéo biết, biến nhận thức thành hành động cụ thể. Có thế, thì điều bạn mong muốn, chắc chắn nó sẽ trở thành sự thật. Như vậy, có phải hiện tại là yếu tố chính nhằm quyết định cho hướng tương lai của đời bạn không? Xin bạn nhớ rằng, bất cứ một tương lai nào cũng phải bắt nguồn từ hiện tại mà ra.

Xin nêu ra đây một thí dụ cụ thể cho dễ hiểu. Như bạn muốn xây dựng một căn nhà, thì việc cần yếu trước tiên là bạn phải có tiền. Tiền và những điều kiện vật liệu khác, tất cả đều phải được chuẩn bị đầy đủ trong hiện tại. Khi đã chuẩn bị chu đáo rồi, thì căn nhà tương lai của bạn đã thực sự có mặt ngay trong hiện tại rồi. Vì cái quả nó đã hình thành có mặt ngay trong cái nhân. Như một hành động giết người, thì cái quả ngồi tù nó cũng đã có mặt ngay trong hành động sát nhơn đó. Ngược lại, nếu như, hiện tại bạn không có chuẩn bị thứ gì cả, thì việc ước muốn xây dựng căn nhà tương lai của bạn, chỉ là một mộng ước không tưởng mà thôi. Hiểu thế, cho chúng ta một kết luận về yếu lý của sự sống rất là cụ thể. Tất cả mọi việc đắc thất, thành bại, nên hư, đều bắt nguồn từ nơi hiện tại mà ra.

Những điều trình bày trên đây, là chúng tôi muốn trao đổi chia sẻ cùng bạn qua cái nhìn thực tiễn trong thế gian pháp hay tục đế. Nghĩa là với cái nhìn trong ước định thời gian tương đối. Nếu luận sâu hơn, mang tính chất thiền vị của chơn đế, thì thưa bạn, đời sống hạnh phúc hay đau khổ của bạn, nó nằm trong từng ý niệm của bạn. Bạn không cần phải tìm kiếm ở đâu xa. Bạn cứ sống thiết thiệt trong mỗi phút giây hành động của bạn. Một hành động hay lời nói của bạn phải luôn có mặt trời ý thức soi sáng. Được vậy, thì chính ngay giây phút đó là bạn đã có tràn đầy hạnh phúc. Bạn không cần phải mong cầu điều gì khác. Bạn cứ vui sống hít thở trong không khí chánh niệm. Bạn đừng để dòng tâm thức của bạn phiêu lưu trong ảo tưởng. Càng phiêu lưu chừng nào, thì bạn càng đánh mất bạn trong hiện tại và lẽ tất nhiên, bạn sẽ chuốc lấy nhiều khổ lụy đắng cay nhiều chừng nấy.

Một cuộc sống thật đơn giản, không lo âu, sợ hãi, và cũng không cần tính toán đến ngày mai. Vì ngày mai đối với bạn chỉ là thời gian trong hiện tại. Nếu không có hiện tại, thì làm gì có ngày mai? Tất cả chẳng qua chỉ là những danh từ giả lập và thời gian cũng chỉ là giả lập hình thành bắt nguồn từ vọng thức giả định của con người mà ra. Nói một cách nghiêm khắc cụ thể hơn, tất cả đều từ tâm bạn mà ra cả. Trong kinh Phật thường gọi là: “Nhứt thiết duy tâm, vạn pháp duy thức”.

Hẳn bạn còn nhớ bài kệ trong Kinh Hoa Nghiêm nói:

Nhược nhơn dục liễu tri

Tam thế nhứt thiết Phật

Ưng quán pháp giới tánh

Nhứt thiết duy tâm tạo.

Nghĩa là:

Nếu người nào muốn biết rõ

Tất cả chư Phật trong ba đời

Nên quán sát kỹ tánh pháp giới

Tất cả đều do tâm tạo.

Mọi sự vật ở đời, không có thứ gì ngoài tâm bạn. Tất cả đều biến hiện từ vọng thức của con người mà ra. Trở về dựng lại mùa xuân an lạc trong tâm thức của bạn, đó mới thực sự là mùa xuân miên viễn vĩnh cửu. Một mùa xuân, vượt ngoài phạm trù lý giải nhị nguyên thường tình. Mùa xuân đó, không còn có sự kỳ thị, tranh chấp, hận thù, hơn thua, đắc thất, thành bại, chiếm đoạt, thương ghét, hay thủ xả v.v…Chính đó mới đích thực là mùa “Xuân” mà lâu nay chúng ta đã không tìm thấy. Sống được như thế, không giây phút nào là bạn không có mùa xuân. Đó là xuân lòng ngát tỏa hương thơm rộng khắp đất trời vượt qua mọi thời gian và nơi chốn. Như thế là bạn sẽ bắt gặp mùa xuân chơn thường của Thiền Sư Mãn Giác đời Lý.

 

Xuân đáo bách hoa khai

Xuân khứ bách hoa lạc

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Tạm dịch:

Xuân đến trăm hoa nở

Xuân đi trăm hoa rụng

Việc đời qua trước mắt

Trên đầu già đến rồi

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai.

Thiền Sư đã khơi dậy cho chúng ta nhận rõ mùa xuân miên viễn ở nơi chính mình. Xuân ngoại tại tự nó đã là mang yếu tính vô thường sanh diệt, vì đó là mùa xuân vận hành theo thời tiết bốn mùa của đất trời. Đó là mùa xuân theo ước định của thời gian giả lập. Khi xuân đến thì trăm hoa thi nhau đua nở. Nhưng khi xuân qua rồi, thì trăm hoa rụng hết không còn. Vạn vật đều có chung trong một quy trình: sinh, trụ, dị, diệt hay thành, trụ, hoại, không. Không có một hiện tượng nào thoát ngoài quy luật vô thường sanh diệt đó.

Tuy nhiên, nếu việc đời chỉ có ngần ấy, thì cuộc sống của con người sẽ mất hết ý nghĩa. Vì mọi vật chỉ xuôi theo dòng nước vô thường chảy trôi qua trước mắt. Sống theo một chu kỳ lặp đi lặp lại của những việc: ăn, mặc ở, ngủ nghỉ, làm việc v.v… rồi lão hóa và chờ chết. Thế là hết cuộc đời. Chấm dứt một đời người của kiếp nầy để rồi tiếp nối đi lang thang thọ báo qua đời khác. Cứ thế mà xuôi theo dòng nghiệp thức thọ báo khổ vui trong vòng luân hồi bất tận. Sống như thế, thì thật là vô vị nhạt nhẽo và khổ lụy biết bao nhiêu!

Nhưng ở đây, Thiền Sư đã hé mở cho chúng ta thấy rõ cánh cửa giải thoát. Không phải hoa mai rụng hết là không còn gì nữa. Nếu thế, thì chúng ta tu theo đạo Phật, cuối cùng, lại trở thành phái “Đoạn Diệt” hết sao? Không. Hoa mai tuy có rụng hết, nhưng cành mai nào có mất đi đâu. Cành mai vẫn còn có mặt sờ sờ đó. Có mặt sờ sờ, nhưng tại vì chúng ta bị mê vọng lầm qua không nhận ra đó thôi. Cũng thế, vọng tâm sanh diệt tuy không còn, nhưng chơn tâm vẫn hằng hiện hữu nào có mất đi đâu. Lâu nay, chúng ta quen nhìn đời bằng cặp kính màu vọng thức, nên nhìn đâu cũng thấy là chân thật. Đó là cái nhìn chủ quan chấp thủ vào hiện tượng, chỉ thấy sóng nổi lô nhô trên mặt biển mà chúng ta không nhận ra được sự yên lặng hằng hữu của mặt biển. Do nhìn theo lối biến kế sở chấp như thế, nên chúng ta mãi bị trầm luân đau khổ.

Thiền sư đã đánh thức cho ta cần phải thay đổi lối nhìn. Đó là cánh cửa đã mở tung ra cho chúng ta thấy trong cái vô thường sanh diệt, còn có cái chơn thường bất sanh bất diệt ẩn tàng trong đó. Đừng đi tìm cái chơn thường ngoài cái vô thường. Trong ngôi nhà năm uẩn lại có sẵn ông Phật vàng hay viên ngọc quý ẩn tàng trong đó. Nhận rõ điều đó, thì cuộc sống của con người mới thực sự có ý nghĩa và đáng sống. Sống để làm lợi ích cho tha nhân. Mượn con người giả tạm nầy để hành hoạt đem lại nguồn sống lợi lạc thiết thật cho mình và người. Hằng sống trong khung trời an vui giải thoát. Đó là chúng ta khéo biết dựng lại mùa xuân lý tưởng. Một mùa xuân chỉ có hoa và trái hạnh phúc. Đó cũng là một lộ trình rộng mở thênh thang tràn đầy xuân hoa tươi đẹp mà các vị Bồ tát đã đi qua.

Đối với người Phật tử xuân cảnh hay xuân tâm, đều không có gì là quan trọng. Điều quan trọng là phải luôn sống trong tỉnh thức chánh niệm. Sống có chánh niệm là sự sống tràn đầy ý nghĩa. Một sự sống không còn vướng bận chi phối, bởi bất cứ một ý niệm thị phi buồn vui nào. Một sự sống bao dung rộng mở tràn ngập khắp cả đất trời. Đó là chúng ta khéo biết hội nhập hòa mình trong nguồn sống của vũ trụ bao la. Nơi đó, không còn ý niệm tương tranh phân chia nhân ngã, bỉ thử. Triệt tiêu mọi vọng chấp đối đãi nhị nguyên. Đó mới chính là người Phật tử nhận lại mùa xuân thực tại miên viễn ở nơi chính mình.

Trong ý hướng tu tập, thiết nghĩ, là người tu học Phật, chúng ta cũng nên noi theo tấm gương trong sáng hạnh giải tương ưng của các Ngài mà chúng ta cất bước hành trình theo. Có thế, thì chúng ta mới thật sự vui xuân và thưởng thức hương vị của một mùa xuân miên viễn trong tận cõi lòng của người Phật tử. Cầu mong mọi người luôn tắm mình trong ánh sáng xuân quang và luôn bình an trong nếp sống.

Thử tìm lại giá trị của tình thương

 

Theo các nhà sử học cho biết, loài người xuất hiện trên hành tinh này rất sớm, cách nay hằng mấy tỷ năm. Cùng với loài người, dĩ nhiên, còn có các loài sinh vật khác. Thế nhưng, loài người sở dĩ hơn các loài động vật khác, ngoài khối óc tinh khôn sắc xảo ra, nó còn có một trái tim biết yêu thương và tương kính lẫn nhau. Nếu không có trái tim rộng mở bao dung cao đẹp này, thì than ôi! Làm sao loài người có thể tự hào hơn các loài động vật khác được? Tình thương là bản chất thiêng liêng mầu nhiệm quý giá của con người. Con người sống không có tình thương là đời sống vô vị, khô cằn và mất hết ý nghĩa. Tuy nhiên, tình thương cũng có nhiều đẳng cấp cao thấp rộng hẹp khác nhau.

Đối với các bậc Thánh nhân, thì tình thương của các ngài không có biên giới. Đó là loại tình thương phát xuất từ lòng từ bi, bình đẳng, vị tha vô lượng bao trùm khắp cả muôn loài. Ngược lại, ở một mức độ thấp hơn, thì được giới hạn trong tình thương đồng loại. Vì đồng loại có chung một dòng máu nóng cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Nói cách khác, là vì loài người có một đời sống tâm, sinh lý giống nhau. Nếu nói hẹp hơn nữa, thì tình thương được thể hiện trong mối tương quan trong dòng huyết thống thân tộc gia đình. Gần nhứt là tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái. Đó cũng là một thứ tình yêu thương bao la cao đẹp bất vụ lợi. Hẹp hơn nữa là tình yêu thương giữa nam nữ.

Trong tất cả các thứ tình yêu thương nói trên, thì ngoài thứ tình yêu thương mang tính từ bi bình đẳng rộng rãi bao la ra, còn lại, đều là những thứ tình yêu thương thuộc trong phạm vi ái kiến. Như tình thương giữa cha mẹ với con cái trong gia đình thân tộc chẳng hạn. Ta cần nên biện biệt rõ điều đó. Tuy nhiên, dù tình thương yêu có cao thấp rộng hẹp khác nhau, nhưng tất cả cũng đều phát xuất từ trái tim tin yêu nồng thắm cả.

Riêng về tình yêu thương của cha mẹ, thật là một thứ tình yêu thương mà từ xưa tới nay, không gì có thể so sánh được. Cao như núi, rộng như biển cũng khó sánh bằng. Thật vậy, sự hy sinh giáo dưỡng cao cả của cha mẹ đối với con cái thật không có bút mực nào tả xiết. Cha mẹ lúc nào cũng thương yêu và nghĩ đến lo lắng chăm sóc cho con đủ mọi thứ trên đời. Từ cái ăn, cái mặc, chỗ ở, cho đến việc học hành, sự nghiệp v.v…Tất cả cũng chỉ vì con, dù phải hy sinh cả tánh mạng cha mẹ cũng không màn.

Vì con cha mẹ cam đành

Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm

(Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân)

Nhìn vào thế giới loài vật, chúng ta thấy, đời sống của chúng cũng không khác mấy với thế giới loài người. Nghĩa là, loài người cũng có kẻ dữ người hiền, cũng có kẻ hiền lương, biết phân biệt phải trái, sống theo luân thường đạo lý, nhận định rõ cội nguồn, biết tôn ty trật tự, kính trên nhường dưới v.v…Tuy nhiên, cũng có kẻ rất hung bạo, sống buông thả không có chút đạo đức tình người, tán tận lương tâm, hành động gian ác trái với nhân luân đạo nghĩa. Loài vật cũng thế. Có những con vật trông chúng rất hung bạo dữ dằn như chó sói, cọp, beo, sư tử… Ngược lại, cũng có những con vật trông chúng rất hiền từ dễ thương, dễ mến, như các loài chim cò, bò, ngựa, gà, thỏ, chó, mèo v.v… Các loài vật hiền từ này, tuy chúng không có khối óc tinh khôn sắc xảo và tình yêu thương cao đẹp rộng lớn như loài người, nhưng chúng cũng biết yêu thương và luôn sẵn sàng bảo vệ mạng sống cho đàn con của chúng, dù phải hy sinh cả tánh mạng. Như vậy, đức hy sinh và hiếu sinh của chúng cũng không khác mấy loài người.

Dù hung hăng dữ tợn, như cọp, beo, sư tử, nhưng chúng chưa bao giờ tàn nhẫn sát hại ăn thịt con của chúng. Dù rằng sự hiểu biết của chúng thua rất xa loài người. Chẳng những không sát hại, mà chúng còn hết lòng ra sức bảo vệ đùm bộc. Như các loài khỉ, vượn hay gà v.v…. Những loài vật này, chúng lúc nào cũng tỏ ra thương yêu rất mực đối với các con của chúng.

Chắc bạn cũng đã từng chứng kiến một con gà mái ra sức bảo vệ đàn con, khi đàn con của chúng bị diều hâu định hãm hại. Đôi cánh yếu mềm của gà mẹ kia, lại là thứ vũ khí rất an toàn luôn sẵn sàng để bảo vệ đàn con. Khi nhìn thấy chú diều hâu sà xuống định quắp lấy gà con, thì gà mẹ kịp thời nhanh nhẹn vươn đôi cánh yếu mềm ra để che chở cho đàn con ẩn núp. Nhờ thế mà đàn con thoát chết dưới tay ác độc của chú diều hâu. Đó là sự che chở bảo vệ an toàn một cách tuyệt vời của gà mẹ.

 

Những lúc gà mẹ dẫn đàn con đi kiếm ăn, nếu như gà mẹ bươi kiếm được miếng mồi ngon, thì liền kêu đàn con đến cùng nhau thụ hưởng. Thay vì hưởng dụng một mình, nhưng vì thương con mà gà mẹ đành phải chịu nhịn đói dành hết phần ăn lại cho con. Ôi ! loài vật mà còn có tình yêu thương hy sinh cho con như thế, thử hỏi loài người chúng ta thì sao ?!!! Hẳn phải có tình thương gấp trăm ngàn lần mới phải?

Có lần, người viết đã chứng kiến một con mèo mẹ tha mèo con đi tìm nơi an toàn trú ẩn. Vì sau khi sanh ra, một đứa bé thấy vậy hay chọc các chú mèo con, và rồi bắt mèo con đem đi nơi khác. Biết không an toàn, nên mèo mẹ nghĩ cách thừa dịp trong lúc vắng người, liền dùng miệng cắn tha mèo con đi nơi khác để tìm nơi trú ẩn an toàn.

Hẳn bạn cũng đã chứng kiến những con chim mẹ tha mồi về tổ để đút cho chim con ăn. Còn vượn mẹ thì bồng ẵm vượn con tìm đường tẩu thoát, khi thấy loài người săn đuổi tìm bắt và sát hại bọn chúng. Còn và còn rất nhiều những con vật khác nữa, lúc nào chúng cũng quyết cố sức để bảo vệ nuôi dưỡng và che chở cho đàn con thoát chết trong sự sát hại của đồng loại và dưới bàn tay ác độc của loài người.

Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu ra đơn cử một vài con vật tiêu biểu thế thôi, để từ đó, chúng ta có một cái nhìn sâu sắc và quán chiếu lại tình thương của loài người chúng ta. Loài người được mệnh danh là loài thượng đẳng cao cấp, tất nhiên, chúng ta phải vượt trội hơn loài vật đủ mọi phương diện. Nhất là ở hai lãnh vực « trí tuệ và tình thương ». Nhưng nếu chỉ xét riêng ở lãnh vực tình thương không thôi, thì thiết nghĩ, mỗi người chúng ta cũng cần nên suy nghiệm lại thật kỹ trong tư tưởng và hành động. Phải thật lòng mà nói, hiện chúng ta đã đánh mất tình thương yêu cao đẹp trong gia đình quá nhiều rồi. Chưa dám nói đến tình thương yêu đồng loại. Hiện trạng cảnh tượng bạo hành trong gia đình sát hại lẫn nhau đã và đang xảy ra hằng ngày. Việc xung đột giữa cha mẹ và con cái trong gia đình, gây ra cảnh tang thương chém giết lẫn nhau, thật quá hãi hùng khiếp đảm !

 

Nhân mùa Vu lan, tôi muốn bạn và tôi, chúng ta hãy thực sự quán chiếu sâu vào về tình thương yêu đối với cha mẹ của chúng ta. Đã lâu rồi, chúng ta hay có cái thói quen nhìn hời hợt bề ngoài. Chúng ta sống theo bản năng tình dục thỏa mãn cho bản ngã vị kỷ nhiều hơn. Ít khi nào chúng ta chịu khó quán chiếu sâu vào tình yêu thương cao đẹp thiêng liêng của cha mẹ. Chúng ta chỉ thấy hình hài và cách đối xử của cha mẹ bề ngoài, mà không nhìn thẩm thấu chiều sâu bên trong. Nếu nhìn kỹ, ta sẽ thấy giữa ta và cha mẹ luôn có mặt và không bao giờ có sự ngăn cách. Vì mỗi tế bào trong ta là những tế bào mà cha mẹ đã ban tặng cho ta. Làm sao ta có thể tách rời ra được ?

Thế thì, ta hờn giận trách móc cha mẹ là chính ta đã hờn giận trách móc chính ta. Nếu ta thương yêu cha mẹ cũng là ta biết thương yêu nơi ta. Vì không có cha mẹ, thì không có ta. Vậy, ta là sự tiếp nối của cha mẹ. Đó là lý do chính yếu mà ta phải hết lòng thương yêu cha mẹ. Vì cha mẹ có quá nhiều sự hy sinh lo lắng giáo dưỡng cho ta. Do đó, nếu ta có những hành động hoặc lời nói xúc phạm đến cha mẹ, thì ta là kẻ đã mang tội bất hiếu rất lớn với cha mẹ. Đã thế, vậy mà có lắm người con chẳng những không biết mang ơn sanh thành giáo dưỡng của cha mẹ, mà trái lại, họ còn nhẫn tâm ra tay sát hại cha mẹ ruột của mình một cách thật tàn bạo dã man !

Cha mẹ là người thân thương nhứt trên cuộc đời này, mà ta còn nhẫn tâm giết hại, thì nói chi đến đồng loại. Thưa bạn, trên đời này bất cứ cái gì, có khó khăn cách mấy, bạn cũng có thể tìm cách tạo ra được cả, nhưng đối với cha mẹ thì làm sao bạn có thể tìm kiếm được đây ?! Hành động sát hại hay làm khổ cha mẹ, chỉ có những kẻ điên cuồng mất hết nhơn tính mới hành động như thế ! Việc hành hạ sát hại cha mẹ, đó là một trọng tội rất lớn. Một trọng tội, mà theo kinh Phật nói, thì đó là phạm một trong ngũ nghịch tội. Phạm tội này, tất nhiên phải bị đọa vào địa ngục vô gián ( tức bị hành phạt chịu nhiều đau khổ không gián đoạn xen hở ). 

Ngũ nghịch tội gồm có : 1. Giết cha. 2. Giết mẹ, 3. Giết A la hán ( bậc tu hành dứt hết phiền não ). 4. Phá hòa hợp tăng ( phá sự hòa hợp làm ly gián của một đoàn thể tu hành ) 5. Xúc phạm gây ra làm thân Phật ra máu ( nói theo ngày nay là phá hoại hay thiêu hủy hình tượng Phật ). Như thế, khác nào là ta đã tự giết chết cuộc đời ta rồi. Giết chết không những hiện đời này, mà còn nhiều đời sau nữa. Thật là đáng thương xót lắm thay !

Ngược lại, bổn phận làm cha mẹ cũng không nên lấy quyền làm cha mẹ nghĩ mình có công lao sanh thành giáo dưỡng mà hành hạ đánh đập chửi mắng con cái quá đáng. Hành hạ con cái cũng chính là tự ta hành hạ lấy chính ta. Vì con ta là kết quả của những dòng máu, tế bào của ta. Vì vậy, ta không nên tạo ra cảnh xung đột bất hòa làm cho cốt nhục tương tàn và gia đình ly tán mất hết hạnh phúc tình thân. Người xưa nói: “Tay cắt tay sao nỡ, ruột cắt ruột sao đành !”

Chuyện xung đột giết hại lẫn nhau trong gia đình đã và đang xảy ra khắp nơi. Báo chí đã đăng tải vấn đề này rất nhiều. Xin nêu ra đơn cử một vài trường hợp để chứng minh. “Một cậu con trai 16 tuổi, chỉ vì một cơn tức giận, dùng dao đâm chết người cha và người mẹ bị trọng thương. Một cô con gái 17 tuổi, chỉ vì cha mẹ không chiều theo ý muốn của mình, bằng cách bỏ đạo Hồi theo đạo Thiên Chúa mà nhẫn tâm đâm chết cha mẹ ruột của mình, không một chút gớm tay. Một người chồng vô lương tâm, vì một cơn giận tức, giết chết vợ mình và chặt làm ba khúc. Một ông già 69 tuổi vác rìu chém vợ và 2 đứa cháu ngoại ruột, cả ba đều chết một cách thảm thương tại chỗ…”

Còn và còn rất nhiều không thể nào kể ra hết được. Như thế, thì thử hỏi tình thương nhân luân đạo nghĩa của con người còn ở chỗ nào ? Ngược lại, cũng có những bậc làm cha mẹ, vì hoàn cảnh bức xúc khổ đau tràn ngập nào đó, hết phương chịu đựng, nên họ đã đánh mất chức năng làm cha, làm mẹ, nhẫn tâm sát hại con mình, không một chút xót thương ! Dù cho hoàn cảnh có khó khăn cực khổ bức xúc đến thế nào đi chăng nữa, nhưng đối với lương tâm đạo đức của con người cũng như đối với luật pháp thế gian, thì hành động sát hại con mình, thật không thể nào chấp nhận được. Đó là phạm trọng tội sát nhân, mà kẻ bị sát hại lại là núm ruột, là sản phẩm quý giá thương yêu mang nặng đẻ đau của mình. Hùm beo tuy là loài thú dữ, nhưng chúng chưa bao giờ ăn thịt con của chúng. Thật còn nỗi đau đớn tủi nhục nào hơn ! Hành động đó chắc chắn là họ sẽ phải bị quả báo hiện đời cũng như quả báo oán thù vay trả đời sau vậy.

Trước thảm cảnh đau thương ngút ngàn đó, không biết các bậc lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, các bậc phụ huynh, các nhà có trách nhiệm giáo dục, các nhà tâm lý học, các nhà xã hội học, các vị lãnh đạo quốc gia, quý ngài sẽ làm gì ? và dùng biện pháp cụ thể nào để ngăn chặn sự bạo hành lan rộng khủng khiếp này ? Đây là một thảm nạn rất lớn làm đảo lộn cuộc sống trong gia đình. Nếu không có biện pháp chạy chữa thích nghi kịp thời, thì tình trạng này ngày càng dẫn đến những hậu quả tang thương khốc hại ác liệt cho gia đình và xã hội không thể nào lường trước được!

Việc nhỏ, thì bạo động sát hại giữa cá nhân với cá nhân, và giữa những người thân thuộc trong gia đình, lớn hơn là gây ra cảnh sát hại chém giết lẫn nhau làm rối loạn đảo điên cho xã hội. Hiện trạng khủng bố, giới trẻ nổi loạn giết người vô tội bừa bãi, băng đảng thanh toán nhau, chiến tranh sát hại sinh linh v.v… gây nên bao thảm cảnh tang thương bi đát đã và đang xảy ra hằng ngày. Tất cả những thảm cảnh đó, là do con người thiếu sự thực tập chánh niệm, thiền quán, để quán chiếu sâu vào khía cạnh của lòng từ bi yêu thương đồng loại. Từ đó, đời sống con người như mất hết lương tâm và phẩm giá đạo đức làm người. Đó là căn bệnh cộng nghiệp của thời đại mà hiện nhơn loại đã và đang hứng chịu.

Theo Phật giáo, muốn chữa trị căn bệnh phải tìm rõ nguyên nhân. Nguyên nhân nào gây nên sự tác hại nổi loạn này ? Dĩ nhiên, có rất nhiều nguyên nhân ngoại tại. Nhưng, theo nhà Phật, thì nguyên nhân chính, đó là phát xuất từ trong tâm thức của mỗi người. Vì tâm loạn nên thế giới loạn. Tâm bình thì thế giới bình. Mọi hiện tượng khổ vui, lành dữ, tất cả đều do tâm ta tạo lấy. Câu nói: “nhứt thiết duy tâm tạo, vạn pháp duy thức biến”, chính là ý này vậy.

Tâm con người giống như người họa sĩ. Nó có khả năng vẽ ra thiên hình vạn trạng lành, dữ, khổ, vui. Nó muốn vẽ thế nào cũng được. Vẽ ra thiên đường hay địa ngục cũng do nó chủ động. Đó là tâm vọng tưởng sinh diệt tạo nghiệp. Biết thế, thì chúng ta nên chạy chữa từ căn nguyên xuất phát của nó. Chạy chữa bằng cách nào? Bằng cách là giáo dục từ căn nguyên, có nghĩa là chuyển hóa những hạt giống xấu ác trở thành những hạt giống lương thiện. Vì trong tâm thức của mỗi người đều sẵn có hai thứ hạt giống thiện và bất thiện này. Tuy nhiên, hạt giống bất thiện chiếm ưu thế nhiều hơn. Muốn được an ổn, mỗi người phải tự quán chiếu sâu vào tâm thức. Có nhìn kỹ lại mình mới mong nhận diện chuyển hóa những hạt giống xấu ác được. Đó là cách chạy chữa căn bệnh tận gốc rễ. Ngoài cách này ra, những cách chạy chữa khác đều là ngọn ngành mà thôi. Mặc dù phương cách đó có khó khăn đối với chúng ta, nhưng có như thế, thì mới mong tận diệt được cội gốc của khổ đau.

Phương cách chạy chữa ngọn ngành trước mắt, là chúng ta cần phải nâng cao giáo dục đạo đức, xây dựng tình người ở mỗi cá nhân, từ trong học đường, gia đình và xã hội. Đối với người Phật tử tại gia, thì chúng ta nên áp dụng năm nguyên tắc đạo đức căn bản, tức năm giới luật mà Đức Phật đã ngăn cấm. Có thường xuyên thực tập, quán chiếu hành trì như thế, thì đời sống của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội mới thực sự có được hạnh phúc an bình. Chỉ có những giải pháp đó mới thực sự phục hồi lại giá trị căn bản đạo đức của con người. 

Chúng ta nên nhớ rằng, luật pháp chỉ trừng trị, khi nào chúng ta có những hành động phạm pháp biểu lộ chứng cớ cụ thể. Còn khi niệm ác dấy khởi trong tâm thức muốn hại người, hại vật, thì luật pháp làm sao biết đâu mà trừng trị ? Đó là vấn đề trách nhiệm lớn lao của các nhà giáo dục, nhất là đối với các nhà lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo. Nếu như chương trình giáo dục ở nhà trường, mà không đặt nặng trên nền tảng xây dựng đạo đức nhân bản, thì đừng mong thế giới loài người có được đời sống an bình.

Muốn xây dựng hạnh phúc trong gia đình, điều tiên quyết, là mỗi người phải chịu khó tìm hiểu và lắng nghe. « Ái ngữ và lắng nghe » là hai nguyên tắc cơ bản để xây dựng tình thương. Nhờ lắng nghe sâu sắc bằng tất cả sự có mặt của mình, từ đó, chúng ta mới có hiểu và cảm thông, thương yêu nhau nhiều hơn. Nếu thiếu đi hai nguyên tắc căn bản này, thì chúng ta không thể nào tháo gỡ những nội kết, những bức xúc của những nỗi khổ niềm đau cho nhau. Hãy cùng nhau thực tập học hạnh lắng nghe và lòng từ bi cứu khổ của Bồ tát Quán Thế Âm. Hãy chịu khó lắng nghe thật kỹ lại chính lòng mình và lắng nghe nỗi khổ niềm đau của tha nhân. Có lắng nghe thiết thiệt như thế, thì ta mới có thể tự hóa giải cho mình và người. Đây là phương pháp thật hành giải khổ cấp thiết mà thiết nghĩ, mỗi cá nhân nên áp dụng vào đời sống hằng ngày.

Hạnh phúc là mục đích nhắm tới của con người. Con người, dù ở giai tầng đẳng cấp nào, không ai lại không muốn có hạnh phúc. Song có điều đừng vì mưu cầu hạnh phúc của mình mà nhẫn tâm chà đạp lên hạnh phúc của kẻ khác. Đó là không công bằng và chính đó là mầm mống gây nên bao sự bất công, bạo động, chiến tranh làm khổ đau cho nhau. Sống trong một thế giới cộng nghiệp mà con người không hướng tới sự bảo vệ hạnh phúc cho nhau, thì đó là một tai họa bạo động rối loạn sát hại với nhau không sao tránh khỏi.

Nếu cha mẹ con cái trong gia đình thiếu sự thiết lập truyền thông tìm hiểu, lắng nghe và cảm thông nhau, tất nhiên, chúng ta không thể nào có sự sống hài hòa thương yêu lẫn nhau. Do đó, sự thiết lập truyền thông để tìm hiểu tận gốc rễ của mọi vấn đề mâu thuẫn xung đột, thật hết sức quan trọng. Chúng ta phải thật tâm tìm hiểu và hóa giải trong sự thương yêu hòa kính, thì mọi người mới có thể giải quyết những gút mắc « nội kết » khó khăn cho nhau. Đó là yếu tố rất thiết yếu đem lại nguồn vui sống hạnh phúc trong mỗi gia đình. Thiếu yếu tố này, thì dễ dàng gây ra sự đổ vỡ tan nát trong gia đình. Vì mỗi người luôn sống khép kín trong ốc đảo của bản ngã tự cao, của lòng hận thù, ganh tỵ. Từ đó sẽ dẫn đến một hệ quả gây nên cảnh tượng bạo hành tàn sát lẫn nhau trong gia đình. Đó là vì không giải tỏa được sự ẩn ức thù hận mà nguyên nhân nội tại, là chỉ vì mỗi người chúng ta luôn nuôi dưỡng những tri giác sai lầm. Từ nhận thức sai lầm, không được bàn giải thấu đáo, cảm thông, nên mới gây ra cảnh nồi da xáo thịt tàn hại lẫn nhau.

Con người, nếu chỉ biết sống theo nhu cầu vật chất không thôi, thì chưa đủ đảm bảo trong việc mưu cầu hạnh phúc. Sống không có hạnh phúc là cuộc sống mất hết ý nghĩa của đời người. Thế nên, ngoài việc giải quyết những nhu cầu vật chất cho đời sống thể chất ra, con người còn phải nghĩ đến việc nuôi dưỡng đạo đức tinh thần. Cần có một đời sống tâm linh phong phú hơn. Một đời sống có ý nghĩa là phải được quân bình giữa vật chất và tinh thần. Nhưng tinh thần vẫn là cột trụ, là điểm tựa, có một giá trị vô song, tối cao để chỉ đạo cho sự đặt định tình thương đúng hướng chân lý.

Có thế, thì mới đảm bảo được đời sống hạnh phúc cá nhân và gia đình. Đó là điều, thiết nghĩ, mỗi người chúng ta nhân mùa báo hiếu, cần phải quán chiếu sâu vào đời sống, để tìm lại giá trị đích thực của tình thương trong ý hướng thánh thiện làm đẹp cho mình và cuộc đời. Nhưng trước hết vẫn là sự hạnh phúc cho mỗi cá nhân và gia đình. Nếu mỗi cá nhân và gia đình có hạnh phúc, thì xã hội mới có được an bình hạnh phúc. Được thế, thì thế giới loài người mới thực sự có đời sống vui tươi, đúng với ý nghĩa bản chất cao đẹp của con người. Và như thế, mới có thể hãnh diện tự hào là hơn tất cả các loài động vật khác. Bằng ngược lại, thì thật là đáng thương và tủi hổ cho kiếp sống làm người!

 

 

 

Trà Vinh quê hương tôi

 

Tôi vốn sanh trưởng tại làng Mỹ Hòa quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Trà Vinh là tên gọi của một địa danh đã có từ lâu. Thuở nhỏ, tôi hay thích nghe các bậc bô lão trong làng kể chuyện đời xưa, nhứt là những chuyện ma quỷ. Những chuyện nầy, ai nghe cũng thích, nhưng sau khi nghe rồi, có người mắc tiểu ban đêm không dám đi. Mỗi lần đi phải đánh thức người nhà cùng đi. Thậm chí, có người không dám ngủ trong nhà một mình, phải khuyến dụ bạn bè hàng xóm đến ngủ.

 Ma cỏ thì không thấy, nhưng nghe ai nói tới ma thì sợ. Còn tôi nghe qua, cũng không dám đi chơi ban đêm. Nhớ có lần, Mẹ tôi sai tôi đi qua nhà người anh lấy món đồ, lúc đó trời đã chạng dạng tối, Mẹ sai thì không dám cãi, nhưng đi thì rất sợ ma. Tôi cấm đầu cấm cổ chạy một mạch, nhưng vừa chạy vừa la lớn: “ sụ sụ chó roi dâu”. Tôi nghe các cụ nói, ma nó sợ chó và roi dâu. Bây giờ nghĩ lại thật tức cười thầm. Thường vào những lúc có tiệc tùng, đám sám, các cụ già thường hay được mời đến tụ họp để chung vui. Trước khi nhập tiệc, hoặc sau những lúc trà dư tửu hậu, các cụ thường hay kể chuyện đời xưa cho con cháu nghe.

Có lần, tôi nghe một bác cao niên trong làng kể về lai lịch của hai chữ Trà Vinh. Vì thuở ấy, tôi còn quá nhỏ, đâu có đủ trình độ để nghe các vị đó kể chuyện, nhứt là những câu chuyện có liên quan đến địa danh lịch sử của quê hương. Bây giờ tôi còn nhớ man mán, cụ đó nói: Trà Vinh là tiếng của người Khmer. Tỉnh Trà Vinh có nhiều địa danh mà đứng đầu đều có chữ Trà. Như Trà Cú, Trà Cuôn, Trà Kha, Trà Nóc v.v…

Tôi chỉ nghe loáng thoáng cụ đó nói như thế. Nhưng thú thật, khi lớn lên và có chút cơ duyên học hỏi nghiên cứu tìm hiểu chút ít về lịch sử của nước nhà, tôi cố tra cứu tìm nguồn gốc của hai chữ nầy, mà tuyệt nhiên không thấy sách sử nào đề cập đến. Có lẽ, sự tra cứu tìm hiểu của tôi còn hạn hẹp, nên chưa tìm ra đó thôi. Mãi cho đến bây giờ, tôi cũng vẫn chưa rõ.

Hồi tưởng lại, không biết cụ đó nói như thế mà có đúng như vậy không? Song có điều, theo thiển nghĩ của tôi, có thể là như thế. Bởi vì, theo sử ghi lại, đất Trà Vinh xưa kia là gốc của người Chân Lạp. Cho nên, hiện nay dân tộc Khmer còn sinh sống rải rác khắp các nơi quận thành, cho đến tận hang cùng ngỏ hẻm. Nhứt là ở các vùng như Trà Kha, Trà Cú v.v… nơi nào cũng có mặt họ. Họ sống quần tụ với nhau, người mình gọi xóm họ ở là sóc. Phải nói dân số của họ cũng khá đông. Vì nơi đây là gốc gác xứ sở của họ trước kia, nên việc họ đặt tên cho một địa danh như thế, đó cũng là chuyện thường tình mà thôi. Thôi thì chuyện đó, xin được gác lại để nhường cho các nhà chuyên nghiên cứu về sử học giúp thế cho chúng ta.

Hôm nay, tôi muốn đề cập đến một vài đặc điểm mang tính chất văn hóa lịch sử đã có lâu đời nơi vùng đất trù phú mà tôi sanh ra và lớn lên. Tên Trà Vinh, đã có một thời dường như bị lãng quên, người ta ít khi gọi đến. Đó là vào thời kỳ 9 năm chấp chánh cai trị của chánh phủ Ngô Đình Diệm. Dạo đó, đổi tên Trà Vinh lại là Vĩnh Bình. Bấy giờ tên Trà Vinh như đã bị khai tử, ít nghe người ta nhắc đến. Sau năm 1975, tôi không còn nhớ rõ năm nào, chánh quyền cộng sản lại sát nhập hai tỉnh Vĩnh Bình và Vĩnh Long lại, gọi chung là tỉnh Cửu Long, tức lấy hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang nhập lại gọi tắt là Cửu Long. Sau nầy họ lại tách ra làm 2 tỉnh trở lại, nên cái tên Trà Vinh được đội mồ sống dậy mãi cho đến hôm nay.

Trà Vinh gồm có các huyện: Cầu Ngang, Càng Long, Cầu Kè, Châu Thành, Trà Cú, Duyên Hải. Về vị trí, Trà Vinh nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, được bao bọc bởi hai con sông: sông Tiền và sông Hậu. Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, do đó nên khí hậu nóng ẩm quanh năm và chỉ có hai mùa mưa nắng.

Vì là vùng đất phù sa trù phú, nên Trà Vinh có nhiều vườn tược cây cối xanh tươi mát mẻ và nhiều kênh rạch dọc ngang, và cũng có nhiều vườn cây ăn trái trông rất đẹp mắt.

Trà Vinh có nhiều lễ hội. Lễ hội được người ta chú ý nhiều nhứt đó là lễ hội cúng biển ở xã Mỹ Long, mà người địa phương hay gọi là Bến Đáy. Vì nơi đây, dân làng chuyên sống về nghề đóng đáy giăng lưới bắt cá. Lễ hội nầy, được người dân bản xứ tổ chức rất trang trọng linh đình. Lễ cúng biển còn gọi là lễ hội nghinh Ông. Vì dân chúng hành nghề đóng đáy, nên họ rất tin tưởng cá Ông. Lễ hội nầy được tổ chức trọng thể hằng năm thời gian là 3 ngày. Bắt đầu từ ngày 10 cho đến ngày 12 tháng 5 âm lịch, địa điểm hành lễ là tại miếu Bà Chúa Xứ.

Trong ba ngày nầy có nhiều nghi lễ diễn ra rất trang trọng, đẹp mắt. Như lễ nghinh ông Nam Hải ( trên thuyền là các vị thần hóa trang Quan Công, Châu Xương, Quan Bình ). Lễ rước Bà Chúa Xứ, rước Cậu, lễ Nghinh Ông ( rước cá ông để tỏ lòng biết ơn cá ông khi đi biển gặp nạn ) lễ tế thần Nông, chánh tế là lễ nghinh ngũ phương đi bộ vòng quanh thị trấn.

Dân chúng ở nhiều nơi kể cả ở thành phố Sài Gòn, người ta cũng tấp nập đổ xô về xem lễ. Đây là một lễ hội có truyền thống lâu đời. Có nhiều trò chơi dân gian cũng được đem ra thi thố để cho dân chúng xem. Như trò chơi nhảy bao, kéo co, đua mông bắt cá kèo, cá bống v.v…Thật là một lễ hội vui chơi tưng bừng náo nhiệt. Lễ hội kết thúc với việc đưa tàu ra biển.

Thuở nhỏ, tôi rất thích đi xem lễ hội nầy. Suốt thời gian 3 ngày tôi luôn có mặt ở Bến Đáy. Tôi có hai người dì, tức em ruột của Mẹ tôi sinh sống lập nghiệp ở đó. Ngày đêm, tôi thường hay rũ mấy đứa bạn cùng trang tuổi đi rong chơi, xem hết trò nầy đến trò khác. Có khi đến khuya tôi mới về nhà. Dì tôi thường hay la rầy, nhưng dượng tôi thì không. Ông ta rất thông cảm tuổi trẻ ham vui chơi như tôi. Ngày nay, vì sống xa xứ sở quê hương, nên tôi chưa có dịp lần nào về đúng vào thời điểm cúng biển để xem lại lễ hội vui nhộn kỳ thú nầy.

Đó là lễ hội của người Việt ( kinh ). Ngoài ra, cũng còn có các lễ hội của người Khmer (Miên) Như các lễ hội: Lễ Tết năm mới của họ được tổ chức vào tháng 4 dương lịch. Lễ cúng ông bà, người Khmer gọi là lễ Dôlta đây cũng là lễ lớn của họ. Lễ cúng trăng, lễ nầy họ tổ chức vào ngày 15 tháng 10 âm lịch. Lễ Dâng Bông, đây là lễ họ giúp đỡ cho nhau như xây chùa, hay xây cất trường học v.v… Tập tục nầy, họ biểu lộ tinh thần tương trợ cho nhau rất hay.

Trong các lễ hội nầy, tôi thích nhứt là lễ hội Dâng Bông. Trên mỗi cây bông họ làm bằng giấy rất đẹp, cứ mỗi đóa hoa giấy là họ cột bao tiền trên đó. Sau khi làm lễ cúng xong thì họ mới mở ra. Tất cả số tiền nầy họ đều cúng vào chùa để chùa trọn quyền sử dụng vào công việc xây cất. Ngoài ra, họ còn rải bạc cắc cho các trẻ em trong làng xúm nhau tha hồ mà giành giựt lượm lấy. Tôi là một trong các đứa trẻ lượm được nhiều nhứt. Bởi tôi nhờ lanh tay lẹ mắt lại có thân hình hơi to con hơn tụi nó một chút, nên tôi lấn mấy đứa khác té nhào hết. Có lúc nhìn lại thấy chân trầy da chảy máu. Đó là một kỹ niệm thời thơ ấu của tôi thật khó quên.

Ngoài những lễ hội ra, Trà Vinh còn có rất nhiều danh lam thắng tích. Những danh lam (chùa) nổi tiếng, như các ngôi chùa Khmer gồm có: Chùa Hang, đây là một ngôi chùa có nhiều cây cổ thụ là nơi hội tụ của các loài chim cò… về trú ẩn. Chùa Angkorette ( chùa Âng ), đây là ngôi chùa xưa nhất của người Khmer. Chùa Nodol, còn gọi là chùa Cò, chùa nầy tọa lạc thuộc quận Trà Cú, rất nổi tiếng.

Đại khái, chúng tôi chỉ nêu ra tiêu biểu những ngôi đại Già Lam của người Khmer, và còn rất nhiều những ngôi chùa khác mà lối kiến trúc của họ rất cổ kính lâu đời tuyệt mỹ. Thường những ngôi chùa nầy có diện tích rất rộng và không một chùa nào mà không có những cây cổ thụ to lớn. Nhìn thấy, chùa nào cũng như là một đại tòng lâm. Và mỗi ngôi chùa đều có những vị Tăng sĩ trú ngụ tu học rất đông.

Về những ngôi chùa của người Việt, cũng có nhiều ngôi chùa rất nổi tiếng và có lịch sử lâu đời. Tiêu biểu như chùa Lưỡng Xuyên, đây là ngôi Tổ Đình. Xưa kia, trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo, nơi đây là cái nôi sản xuất các bậc tăng già Thiền Đức tài ba lỗi lạc. Như các bậc tôn túc: Cố Hòa Thượng Thiện Hoa, Hòa Thượng Thiện Hòa v.v… Đây là những bậc Tôn Đức đã hơn một thời lãnh đạo Giáo hội Phật Giáo ở miền Nam. Tiếng tăm của các Ngài vẫn còn vang dội mãi cho đến hôm nay và mai sau.

Ngôi Tổ Đình nầy đã được Tăng Ni và Phật tử khắp nơi cùng nhau phát tâm đóng góp công sức và tiền bạc để trùng tu. Theo chỗ chúng tôi được biết, người khởi xướng và đứng ra chủ trì cho việc trùng tu nầy là Hòa Thượng Thích Thanh Từ. Hiện tại, nơi đây là trường Phật Học Sơ Cấp, cũng là cơ sở nối dài cho việc đào tạo Tăng tài.

Ngoài ra, còn có các ngôi đại già lam khác, phần lớn đã được trùng tu rất khang trang đẹp mắt. Như ngôi cổ tự Phước Thanh ở xã Mỹ Cẩm thuộc huyện Cầu Ngang. Ngôi chùa nầy cũng đã lâu đời, trải qua trùng tu đôi lần. Hiện nay, ngôi chùa rất khang trang rộng lớn. Chùa gồm có 2 ngôi đại Hùng Bảo Điện và ngôi Hậu Tổ, cả ba ngôi đều rộng lớn và nối liền nhau. Chung quanh chùa cây cảnh rất nên thơ ngoạn mục. Chùa quanh năm mát mẻ vì có nhiều cây cối che mát. Có những cây như 2 cây me to lớn song song nhau, bên cạnh hông chùa rất lâu đời có trên trăm năm. Trước sân chùa có tôn tượng Phật Thích Ca với vị thế ngồi rất cao lớn nghiêm trang. Bước vào cổng chùa phía bên tay trái là thờ tôn tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Tôn tượng nầy với tư thế đứng tay mặt bắt ấn cam lồ và tay trái cầm tịnh bình, trông thấy thật là tướng hảo quang minh. Trước sân chùa là một vườn cây kiểng trông rất tao nhã thanh lịch xinh đẹp. Bước vào đây, du khách ngắm nhìn những cây kiểng không bao giờ biết chán, vì là những cây kiểng rất có giá trị. Chùa nầy hiện nay có rất nhiều du khách thập phương ở các nơi xa xôi thường đến chiêm bái tham quan ngắm cảnh.

Ngoài những ngôi chùa có tầm vóc to lớn lịch sử ra, Trà Vinh còn có những thắng tích phong cảnh rất nên thơ hữu tình khác. Đến Trà Vinh, người ta không thể nào quên được di tích lịch sử Ao Bà Om, người địa phương hay gọi là ao vuông. Đây là một thắng cảnh nổi tiếng của Trà Vinh. Ao có kích thước chiều dài khoảng 500m, rộng 300m, nằm dọc theo quốc lộ 53, cách trung tâm thị xã Trà Vinh khoảng 7km về hướng tây nam. Mặt nước ao trong và phẳng lặng, xung quanh ao vuông là gò cát cao có nhiều cổ thụ tàn lá che mát, không khí thật trong lành mát mẻ.

Ao nầy có chuyện tích kỳ bí. Theo người làng kể lại, thì ở vùng nầy có hai cái ao. Gần đó có một cái ao Ông. Thú thật, tôi chưa đến và chưa biết rõ ao Ông nầy. Tôi chỉ nghe kể lại mà thôi. Sở dĩ có cái tên ao Ông, ao Bà, vì lẽ, theo truyền thuyết, thì xưa kia, người ta chia ra làm hai nhóm: một nhóm toàn là phụ nữ và nhóm kia là nam giới. Họ tranh nhau đào vét đất làm thành ao. Nếu như bên nào hoàn tất trước, thì sẽ được hương chức trong làng ban thưởng. Bên mấy ông, vì ỷ lại sức mạnh, nên chỉ uống rượu ngâm thơ tán dóc, không ai đào vét chi cả. Ngược lại, bên quý bà, thì ai nấy đều cấm đầu cặm cụi lo đào vét. Khi đào vét xong, trời gần sáng, quý bà thả lồng đèn lên, tất cả đều reo hò mừng la vang dội! Trong khi đó, cái ao của mấy ông thì còn dang dở không đâu vào đâu, vì cái tội ăn chơi ỷ lại khinh thường khi dễ mấy bà. Từ đó, mới có cái tên gọi ngộ nghĩnh là “Ao Bà Om”.

Ngoài ao danh tiếng nầy ra, Trà Vinh còn có một thắng cảnh nữa, đó là bãi biển Ba Động. Biển nầy thuộc địa phận xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, cách trung tâm thị xã Trà Vinh khoảng 55km. Bãi biển dài hàng chục cây số, cát trắng nước trong, đặc biệt không khí ở đây rất trong lành tươi mát.

Vì thế trong dân gian mới có hai câu ca dao truyền tụng:

Biển Ba Động nước xanh cát trắng

Ao Bà Om thắng cảnh miền tây

Chuyến về quê năm rồi, tôi có đến bãi biển nầy. Hiện nay, lượng du khách đến đây ngắm cảnh cũng khá đông. Nơi đây đã trở thành khu du lịch đông đảo du khách, không thua gì Ao Bà Om.

Người ta thường nói, người già khi uống trà độc ẩm thường hay nhớ ôn lại chuyện xưa, tích cũ. Có lẽ tôi là một trong số những người già đó. Nhưng xin thưa, tôi chưa thật già lắm, chỉ mới bước qua cái tuổi lục tuần. Khi nhớ lại chuyện xưa, nhứt là chuyện quê hương nơi chôn nhao cắt rốn của mình, đã hơn một thời mình sanh ra và lớn lên. Như thế, hẳn ít nhiều gì mình cũng có gắn bó với bao kỷ niệm vui buồn. Từ những lũy tre xanh, ngôi trường làng, ngôi chùa cổ, đình miếu, bờ ao, dậu trúc, đường làng, cổ thụ, ao hồ, đồng ruộng, cho đến những dòng sông kênh rạch v.v… tất cả đều là những hình ảnh thiết thân quen thuộc với tôi.

Tôi được những thứ đó đã hun đúc bảo bọc tạo cho tôi và những người dân nơi đây có một nếp sống chơn chất hiền hòa. Sống trong nếp sống tình tự hài hòa của một người dân quê lam lũ. Có những buổi sáng, mặt trời lên khỏi rặng cây xanh, ánh nắng chan hòa trải khắp tươi mát dịu hiền thật dễ chịu, tôi ra đồng hít thở không khí và hưởng những ngọn gió đồng trong mát, ngồi nghe gió thổi rì rào qua những cánh đồng lúa chín. Quê hương tôi đã cho tôi nhiều kỷ niệm thân thương, nên thơ, thật hữu tình duyên dáng, nhứt là vào những đêm trăng trong gió mát, ngồi nhìn những tàng dừa rợp bóng, những khóm trúc gió thổi vi vu, những ngôi nhà lá xiêu vẹo lụp xụp…Đó là những hình ảnh tuyệt đẹp đối với tôi.

Chiều về, nhìn những áng mây hồng chói chang vàng rực óng ánh ở tận phía chân trời, mà tôi thường nói với mấy đứa bạn là trời đang nấu cơm chiều. Rồi tôi đưa mắt nhìn về phía xa xa sau những rạng cây xanh, có những cụm khói lam chiều bốc lên cao, bay tỏa nghi ngút lan xa trên những nóc nhà mái lá. Thỉnh thoảng có những đàn cò trắng vỗ cánh nhịp nhàng bay ngang qua cánh đồng lúa chín, như chúng đang tìm về nơi tổ ấm. Bên cạnh những cánh đồng bát ngát thơm mùi lúa chín đó, có những chú mục đồng ngồi trên lưng trâu, miệng hát nghêu ngao vài ba câu vọng cổ điệu hò của thời xa xưa nào đó, nhại lại giọng hát tuyệt vời của người nghệ sĩ tài ba Út Trà Ôn…

Đó là những bức tranh tuyệt tác êm đềm thơ mộng của tuổi thơ mà hơn một thời tôi đã chứng kiến trải qua. Ôi! Còn gì thấm đượm tình tự quê hương cho bằng! Quả đúng như câu người ta nói: “quê hương là chùm khế ngọt”! Là tất cả những gì thân thương mà chúng ta hiện có bây giờ và ở đây. Hồi tưởng, viết lại để tự sưởi ấm cõi lòng với bao nhiêu tâm tư gởi về quê hương muôn thuở và kính dâng lên cho Ba Mẹ, người đã cho tôi hình hài vóc huyễn, với biết bao công lao ân tình giáo dưỡng chan chứa sâu đậm. Tôi hoài vọng với tất cả tấm lòng thương nhớ về quê hương của một thời vàng son dĩ vãng của một đứa con xa xứ hiện đang sinh sống ở quê người.

Vài nét về ý nghĩa Tắm Phật

Nhớ lại, ngày xưa khi còn là một chú bé ngây thơ, hằng năm, tôi thường theo mẹ tôi đến chùa dự lễ Phật Đản vào ngày mùng tám tháng tư âm lịch. Hồi đó, ở quê các chùa thuộc hệ phái Phật giáo Bắc Tông đều cử hành đại lễ Phật Đản vào ngày mùng tám, chớ không phải ngày rằm như hiện nay. Ngày nay, sở dĩ các chùa cử hành Đại Lễ Phật Đản thống nhứt vào ngày rằm tháng tư âm lịch, là do sự quyết định chung của Hội Nghị Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới, tổ chức lần đầu tiên tại thủ đô Colombo Tích Lan, từ ngày 26 tháng 5 năm 1950 đến ngày 7 tháng 6 năm 1950. Từ đó trở đi, tất cả các chùa Phật giáo Bắc Tông đều tổ chức đại lễ Phật Đản vào ngày rằm tháng tư âm lịch hằng năm. Tuy nhiên, hiện nay có một số chùa ở thôn quê vẫn còn giữ lệ cúng tắm Phật vào ngày mùng 8 nầy.

Người Phật tử ở thôn quê họ chơn chất thật thà lắm. Họ đi chùa phần nhiều là theo tục lệ truyền thống ông bà nhiều hơn. Kỳ thật, ít có ai thâm hiểu giáo lý sâu xa. Thậm chí, việc tụng niệm hay mặc áo tràng đối với họ cũng thật là xa lạ và bỡ ngỡ. Song có điều họ rất thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau. Trong xóm làng gia đình nào có hữu sự, thì những gia đình khác họ đều quan tâm và cùng nhau chung lo. Quả đúng với câu nói của người xưa: “Nhất gia hữu sự bá gia ưu”. Nghĩa là một nhà có việc, thì trăm nhà cùng lo. Đó là một tập tục rất hay, rất đẹp và rất cao quý của người dân quê.

Đến công việc chùa cũng thế. Khi chùa có việc, thì họ kéo nhau đến phụ giúp, gọi là làm công quả. Dù cho có bận rộn việc nhà đến đâu, họ cũng cố gắng thu xếp để đến lo công việc chùa. Vì họ quan niệm, chùa là ngôi nhà chung của họ, mà mọi người đều phải có trách nhiệm chung lo. Khi giúp chùa, họ không bao giờ có ý tính toán nạnh hẹ so đo. Tùy theo khả năng sức khỏe mà họ làm. Nhất là quý bà quý cô, trước lễ chánh thức một ngày, họ kéo nhau về chùa rồi xúm xít nhau làm, kẻ việc nầy, người việc nọ để chuẩn bị đãi đằng cho ngày đại lễ. Họ cật lực làm việc trong tinh thần hài hòa cởi mở và tận tình giúp đỡ cho nhau. Họ nói chuyện vui cười với nhau một cách rất là tự nhiên thoải mái. Có sao nói vậy, họ không thích sống bề ngoài. Họ rất sợ tội lỗi và lúc nào họ cũng muốn chắt mót bòn thêm phước đức. Đó là nét đặc thù chơn chất mộc mạc thật là dễ thương quý mến và rất quý kính của người dân quê.

Thông thường, trước thời khóa lễ chánh thức, thì có lễ tắm Phật. Người ta chuẩn bị rất chu đáo và rất trang nghiêm cho buổi lễ tắm Phật nầy. Một tượng Phật sơ sanh được đặt vào chính giữa thau nước. Nước mưa, họ lọc rất kỹ. Dĩ nhiên, trước đó người ta đã lau chùi tượng Phật rất kỹ lưỡng sạch sẻ. Một thau nước lớn để trên một cái bàn nhỏ. Cái bàn cũng được thiết trí rất xinh xắn trang hoàng. Người ta rải nhiều thứ bông trong thau nước. Những bông hoa đủ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, nổi lều phều trên mặt nước. Những tràng hoa được kết thành đủ loại màu sắc tuyệt đẹp. Những tràng hoa nầy, người ta choàng lên thân hình tượng Phật sơ sanh, trông rất xinh lịch đẹp mắt. Đồng thời, bên cạnh thau nước lớn, người ta còn để hai cái gáo tròn nhỏ xinh đẹp để cho mọi người múc nước tắm Phật.

Đến giờ hành lễ, vị thầy trụ trì và một vài ông đạo ( ở quê người ta thường gọi những vị mới vào chùa tu bằng ông đạo ) lên chánh điện để làm lễ. Bổn đạo thì lên trước kẻ đứng, người ngồi. Bên nam thì đứng, bên nữ thì ngồi. Còn bọn trẻ như chúng tôi, thì ngồi đứng không yên, muốn đứng thì đứng, muốn ngồi thì ngồi, không ai thèm để ý đến. Chúng tôi còn chọc ghẹo khều móc với nhau, giống như những con khỉ nhảy nhót. Tuổi trẻ vì ham vui mà đi chùa, chớ nào có biết lễ lạy, tụng kinh bái sám gì đâu! Nhiều khi thấy mấy ông đạo cạo trọc đầu láng o, bọn tôi còn trêu chọc cười đùa ngạo nghễ cho vui nữa. Thật nào có biết tội phước là gì! Tuổi trẻ thơ ngây cứ lấy sự vui đùa làm sở thích. Nghe nói đi chùa có nhiều chè xôi bánh trái, lại thêm có các cô thiếu nữ trẻ đẹp. Nghe thế, bọn chúng tôi rất vui thích đến chùa để được ăn chè xôi bánh trái và lại thêm có cơ hội trêu chọc mấy ả cho vui. Tâm trạng đi chùa của bọn trẻ chúng tôi hồi đó chỉ biết có ngần ấy, thế thôi…

Điều mà tôi hơi lấy làm lạ, nhiều bà đi chùa lại có mang theo chay không để đựng nước. Kể cả mẹ tôi cũng thế. Có lần, tôi hỏi mẹ tôi, mẹ đi chùa mà mẹ đem theo chay không để làm gì? Mẹ tôi nói: Mẹ đem theo để lấy nước tắm Phật về cho mọi người trong nhà uống để được mạnh khỏe. Uống nước nầy có chư Phật, Bồ Tát gia hộ, nên suốt năm không ai có bệnh hoạn và có nhiều việc may mắn đến với mình nữa. Nghe mẹ nói, thì tôi chỉ biết vậy thôi. Chớ tôi đâu có biết nghĩ ngợi suy luận gì hơn. Mà giả như, tôi có lý luận về lý nhân quả báo ứng đi nữa, thì chắc gì bà nghe. Chẳng những không nghe thôi mà trái lại, bà còn la rầy tôi nữa.

Khi lớn lên, nhờ có chút duyên lành học hỏi Phật pháp, nhất là giáo lý Đại thừa, thì tôi mới thấy điều nầy quả thật là quá mê tín dị đoan. Nhưng đối với những người đó cũng như mẹ tôi thì họ rất là tin tưởng. Đó là một niềm tin rất đơn thuần chất phác và không được điều hướng bởi lý trí. Người dân quê, nhất là phái nữ đại đa số đều có niềm tin như thế. Làm sao họ có thể hiểu và tin sâu vào lý nhân quả! Cho nên, ta cũng không lấy gì ngạc nhiên mà trách họ được. Thậm chí, như hiện nay, vẫn còn có một số Phật tử nữ sau khi làm lễ tắm Phật xong, họ vẫn lấy nước tắm Phật về nhà uống. Đó cũng là một niềm tin theo thói quen. Nếu uống nước đó mà hết bệnh, thì mỗi ngày ta mỗi tắm Phật để lấy nước uống. Thế là khỏi phải đi bác sĩ và khỏi phải tốn hao tiền mua thuốc.

Nếu bảo uống nước đó thì được may mắn, vì có Phật, Bồ Tát gia hộ như mẹ tôi nói, thì khi uống xong, tôi vào sòng bài đánh bài thua sạch túi, vậy sao Phật Bồ Tát không gia hộ cho tôi hốt tiền của thiên hạ. Hoặc tôi ra đường giựt đồ người ta, lúc đó bị cảnh sát bắt, sao Phật, Bồ Tát không gia hộ cho tôi khỏi bị cảnh sát bắt? Như vậy, uống thì uống mà nếu tôi làm việc bậy bạ phi pháp, thì tôi vẫn bị luật pháp trừng trị đích đáng. Còn nếu tôi không uống nước đó, mà tôi làm việc đàng hoàng, chánh đáng, không vi phạm luật pháp, thì thử hỏi có ai dám bắt bớ hành phạt tôi không? Điều buồn cười hơn nữa, là khi mẹ tôi đem nước tắm Phật về uống, thì cách mấy ngày sau, anh tôi bị bệnh. Như vậy, thì Phật và Bồ Tát không có linh thiêng gia hộ cho anh tôi rồi. Nói lên điều nầy, thì hơi khó nghe đối với những người mê tín, nhưng rất đúng với lý nhân quả Phật dạy. Thiết nghĩ, người Phật tử khi tin tưởng một điều gì, ta cần phải có sự sát nghiệm của lý trí. Không nên tin tưởng một cách mù quáng.

Như đã nói, nhờ có chút kiến thức học hỏi về Phật pháp, nên nay khi đọc tụng lại bài kệ tắm Phật, tôi mới thấy nghĩa lý của bài kệ thật quá thậm thâm vi diệu. Ngày xưa, tôi cũng đã từng tụng thuộc lòng như ăn cháo, nhưng thú thật, tụng thì tụng mà không hiểu mô tê chi cả. Bài kệ tắm Phật chỉ vỏn vẹn có 12 câu bằng chữ Hán Việt. Có lẽ, một phần vì chữ Hán Việt, nên khi tụng đọc ít có người hiểu được. Phần khác, vì nghĩa lý rất uyên thâm huyền diệu nên cũng thật khó hiểu. Nội dung bài kệ nêu ra hai phần: Bổn môn và Tích môn hay còn gọi là Chơn đế và Tục đế.

Về phần Bổn môn, là nêu rõ lý pháp thân. Nói cách khác là chỉ rõ mỗi người đều sẵn có tánh Phật. Bổn là gốc, là cái sẵn có không do tạo tác mà có. Đó là chỉ cho chơn như. Một thực thể không nằm trong phạm trù duyên sinh nhân quả. Vì nó vượt ngoài đối đãi nhị nguyên. Một thực thể không hình, không tướng, mà trong Tâm Kinh Bát Nhã gọi là “Thật Tướng”. Nghĩa là tướng “Không” của vạn pháp. Cho nên thực thể nầy không sinh không diệt. Phần nầy, chúng ta thấy rất rõ trong 8 câu đầu của bài kệ:

“Ngã kim quán mộc chư Như Lai

Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ

Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu

Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân

Già Da thành lý bất tằng sanh

Ta la thọ gian bất tằng diệt

Bất sanh bất diệt lão Cù Đàm

Viễn ly huyễn tướng vô ngôn thuyết”

Cần nói rõ, sở dĩ có buổi lễ tắm Phật nầy, là vì người ta dựa theo truyền thuyết cho rằng, khi đức Phật ra đời, cung trời Phạm Thiên có mưa thơm tắm Phật. Do noi theo truyền thuyết đó, mà hằng năm trong ngày đại lễ Phật Đản, có cử hành nghi thức tắm Phật. Và nghi thức nầy đã trở thành một tục lệ truyền thống.

Đọc qua 8 câu trên, ta thấy hoàn toàn không có đề cập gì đến tắm ông Phật ra đời ở Ấn Độ cả. Mà tượng Phật sơ sanh chỉ là một biểu trưng nhằm thức nhắc người Phật tử chúng ta hãy xoay về nội tâm để mỗi người tự quán chiếu và dùng nước thanh tịnh để tắm cho ông Phật pháp thân của chính mình. Đã là Phật pháp thân thì làm gì có hình tướng để chúng ta tắm rửa? Bởi Phật pháp thân vốn thanh tịnh sáng suốt, có cấu bợn gì đâu mà phải tắm? Đây quả là mang một ý nghĩa biểu trưng, tức nương “Sự” để hiển “Lý” hay ngay nơi “Tướng” mà nhận lại “Tánh”. Nương ngón tay để thấy mặt trăng.

Đó chẳng qua là chư Tổ khéo dùng phương tiện mượn hình ảnh tắm Phật để nói lên ý nghĩa siêu thoát. Vì mỗi người cần nên gột rửa những phiền não ô trược ở nơi tự tâm, hầu phát huy bản thể sáng suốt ở nơi tâm mình. Hai chữ “Như Lai” ở câu đầu của bài kệ, là chỉ cho thể tánh hay pháp thân bất sanh bất diệt. Chớ không phải là hình ảnh đức Phật ở bên ngoài. Nếu chỉ một bề hiểu tắm Phật ở bên ngoài, thì chúng ta bị dính kẹt ở nơi “Sự” mà không hiển được “”. Đó là chúng ta mắc vào cái lỗi thiên kiến. Phật dạy “Sự và Lý” phải viên dung vô ngại.

Có xa lìa ngũ trược tức năm thứ ruỗng mục suy tàn, thì chúng ta mới nhận được thể tánh, tức đồng chứng pháp thân. Nói một cách dễ hiểu hơn, khi nào phiền não không còn, thì chừng đó Phật tánh sẽ hiện bày. Mây tan thì trăng sáng, sóng dừng thì nước lặng. Điều quan trọng là làm cho mây tan và sóng dừng. Còn trăng và nước vốn sẵn có, không cần phải tìm cầu. Mây và sóng là những hiện tượng phù hư giả dối không thật. Vì chúng không thật nên tan biến bất thường. Vô minh phiền não cũng thế. Vì phiền não không có thật tánh, nên ta mới chuyển hóa chúng được. Trong Chứng Đạo Ca Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác có nói:

Vô minh thực tánh tức Phật tánh

Ảo hóa không thân tức pháp thân.

Đó là cái thấy bằng tuệ giác của người chứng đạo. Không phải cái thấy tầm thường như chúng ta. Cái thấy của chúng ta là cái thấy bằng nghiệp thức. Do đó, nên lúc nào chúng ta cũng bị kẹt mắc trên hữu tướng. Vì dính mắc trên hữu tướng, nên không thấu suốt được vô tướng. Chỉ thấy vô minh mà không thấy được Phật tánh. Thực tế, thì vô minh và Phật tánh không hai. Nhưng bảo rằng một cũng không đúng. Đó là lý Bất Nhị Pháp Môn trong Kinh Duy Ma Cật. Nói một là sai mà nói hai thì không đúng. Rời cái thân ảo hóa ngũ uẩn nầy, mà tìm cái pháp thân, thì làm sao có được. Ngay nơi cái thân ảo hóa nầy mà nhận ra cái không thân hay pháp thân. Lý nầy thật không phải dễ hiểu. Như toàn nước chính là sóng. Nhưng thực tế, thì sóng không phải là nước. Nhưng nếu rời nước thì làm gì có sóng? Khi sóng đang nổi lên, thì nước cũng không rời sóng. Cho nên mới nói toàn sóng chính là nước. Câu nói phiền não tức Bồ đề hay sanh tử tức Niết bàn là thế. Nói cách khác, phiền não dụ như bóng tối, bóng tối vốn không có thực thể, nên khi có ánh sáng thì bóng tối không còn. Vô minh hết thì tánh giác hiện bày.

Bốn câu kế là nói lên cái lý bất sanh bất diệt. Sanh mà không thật sanh, diệt mà không thật diệt. Sanh diệt, diệt sanh như vẽ đường trò chơi. Khác nào như hoa đốm giữa hư không. Hoa đốm vốn không có trong hư không, nhưng vì bị bệnh nhặm mắt mà thấy in tuồng như có hoa đốm. Cũng thế, pháp thân vốn không sanh, không diệt, tại vì mê lầm nên chúng ta mới thấy có sanh, có diệt. Đến chỗ cứu cánh tuyệt đối, thì không thể dùng ngôn ngữ để luận bàn. Có luận bàn ngôn thuyết thì đó chỉ là làm cái chuyện trò đùa hư huyễn mà thôi. Đó là hết 8 câu nói vể Bổn môn hay Chơn đế.

Bốn câu kệ tiếp, nói về Tích môn:

Kim triêu tứ nguyệt thập ngũ nhựt

Tịnh Phạn vương cung sanh Tất Đạt

Cửu long phúng thủy thiên ngoại lai

Cử bộ liên hoa tùng địa phát.

Tích môn là nói về những hiện tượng xảy ra theo thế tục đế. Nghĩa là, đức Phật sanh ra nhằm ngày trăng tròn tháng tư ở trong cung vua Tịnh Phạn tên của Ngài là Tất Đạt Đa. Trong khi Phật ra đời có chín con rồng phun nước và chư thiên hiện đến tung hoa chào mừng. Khi đó, đức Phật đi bảy bước và mỗi bước đều có hoa sen từ đất hiện ra nở dưới chân Ngài. Đó là diễn tả những hiện tượng khi Phật ra đời. Tuy nhiên, trong phần tích môn nầy, ta lưu ý là hiện tượng Phật bước trên hoa sen. Tuy rằng đây là một truyền thuyết, nhưng nó mang một ý nghĩa tiêu biểu rất siêu thoát. Hoa sen có nhiều đặc tính, nhưng đặc tính tiêu biểu nhất, đó là mang yếu tính thanh tịnh. “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Đó là nói lên cái ý nghĩa cư trần bất nhiễm trần vậy.

Tóm lại, khi múc nước tắm Phật, ta nên giữ chánh niệm và quán chiếu thật sâu vào nội tâm. Để nhận diện từng tâm niệm dấy khởi của mình và mỗi một muỗng nước thanh tịnh từ trên vai Phật tưới xuống, ta coi như trút bỏ những thứ phiền não cáu bợn rối rắm trong lòng, theo dòng nước thanh tịnh mà trôi chảy đi hết. Đó là những thứ phiền não tham lam, sân hận, tật đố, si mê, ngã mạn v.v… tất cả đều được chuyển hóa thành những dòng nước suối nguồn thanh tịnh, từ bi, trí huệ, vị tha, bình đẳng …

Những dòng nước thanh tịnh nầy luân lưu theo dòng thời gian chảy xuyên suốt từ Phật truyền đạt đến chư Tổ và tới tất cả chúng ta. Đó là những dòng nước thanh tịnh để rửa sạch những ô nhiễm ngũ dục lục trần. Tâm Phật và tâm ta cùng hòa quang trong cùng một nhịp điệu phá tan những mê lầm từ vô lượng kiếp. Hãy nhìn vào tượng Phật sơ sanh đang hiện diện trước mắt ta, như thầm nhắc nhở ta phải luôn luôn sống trong tỉnh thức. Có hằng sống trong tỉnh thức thì đời ta mới có an lạc và giải thoát. Đó là ta khéo biết trở về nhận lại cái kho tàng quý báo ( bảo sở ) vô giá của ta. Mà lâu nay, vì si mê tăm tối, ta mãi đắm nhiễm theo duyên trần, rồi tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp ác, để rồi phải chịu trầm luân mãi trong vòng sanh tử khổ đau.

 

 Nay đây, một duyên lành rất lớn là ta được múc nước thanh tịnh để tắm Phật. Phật bên ngoài cũng như ông Phật trong tâm ta. Mỗi muỗng nước ta tưới là ta quyết tẩy sạch trôi đi những não phiền cáu bợn, hầu để cho ông Phật pháp thân của ta hiện bày. Đó là ý nghĩa Phật xuất thế. Cứ mỗi một niệm mê lầm là có một niệm giác chiếu soi. Vô minh ở đâu thì có Phật xuất thế ở đó. Hãy để cho ông Phật tự tâm ta ra đời trong mọi thời gian và nơi chốn. Có thế, thì đời ta mới thực sự chấm dứt khổ đau. Và ta hãy cương quyết phát đại thệ nguyện:

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Cùng Một Hướng Đi

 

Đại giới đàn kỳ 6, đã được tổ chức long trọng tại Phước Huệ Công Đức Tòng Lâm từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 7 năm 2007. Khác hơn những lần trước, lần nầy, ngoài việc chư Tôn Đức Giới Sư truyền trao giới pháp cho các giới tử ra, nó còn mang một ý nghĩa chuyển hướng đặc biệt; nó mở ra, đánh dấu một trang sử mới trong sự chuyển mình tiếp nối sứ mệnh thừa kế hoằng truyền của một tông phái từ ngàn xưa, đó là Thiên Thai tông hay còn gọi là Pháp Hoa tông.

Về tông phái nầy, trong quá khứ cũng như hiện tại đã có rất nhiều người nghiên cứu và cũng đã có rất nhiều quyển sách nói về tông phái nầy. Ở đây, tôi không dám có cái cao vọng luận giải bàn thêm, vì có nói cũng bằng thừa. Vả lại, xét mình không có đủ trình độ luận giải sâu xa hơn những gì mà các bậc thức giả đã viết. Thôi thì, đành gác bút lại để gia tâm học hỏi tìm hiểu chiêm nghiệm thêm về cái tông phái nầy mà lâu nay, tôi luôn để tâm học hỏi hành trì. Tuy nhiên, để cho sự trình bày có đầu đuôi gốc ngọn một chút, người viết cũng xin được có đôi dòng khái quát về nguồn gốc trước sau của tông phái nầy.

Nói đến Tông Thiên Thai Giáo Quán, đại đa số người Phật tử Việt Nam đều biết đến, tuy nó không được rộng truyền như Thiền tông hay Tịnh độ tông ở Việt Nam. Nhưng đối với Phật giáo Trung Quốc, thì nó là một trong những tông phái lớn. Tông nầy lấy kinh Pháp Hoa làm kinh điển y cứ để thành lập. Vì Thiên Thai Trí Giả Đại Sư lãnh ngộ yếu chỉ từ kinh Pháp Hoa. Do đó mà Ngài khởi xướng sáng lập ra tông nầy. Vì thế, tông nầy còn gọi là Pháp Hoa tông. Ngài Trí Khải thờ Ngài Nam Nhạc Huệ Tư làm Thầy. Ngài Huệ Tư sống vào khoảng đầu thế kỹ thứ 6 ( 515- 577 ), và chuyên hành trì pháp tu Chỉ Quán. Lấy Đại Trí Độ Luận làm nền tảng cho việc nghiên cứu tu học về “Nhất tâm tam quán”. Từ đó về sau sự truyền thừa của tông nầy rất thạnh hành nổi tiếng.

Thiên Thai là tên núi, đây là một địa danh rất nổi tiếng từ xưa tới nay. Vì “hình thể của núi nầy giống như đóa sen úp gồm 8 cánh, có 8 nhánh 8 khe; Thượng thai, Trung thai, Hạ thai giống như chòm sao Thai có 3 sao, nên gọi là Thiên Thai. Núi nầy gồm 8 ngọn hợp thành, trong đó ngọn hoa Đảnh cao nhất với 1136m”. (Từ Điển Phật Học Huệ Quang tập 9 trang 8224)

Cũng như Thiền Tông, tông thiên Thai phát xuất từ Trung Hoa, rồi sau đó được truyền sang qua Việt Nam. Và cũng từ đó ở Việt Nam đã được chư Tổ Sư truyền thừa luân lưu bất tuyệt mãi cho đến ngày nay. Theo hệ phái truyền thừa tông chỉ mãi đến Hòa Thượng thượng Phước hạ Huệ tính theo hệ phái là Ngài thuộc dòng đời thứ 47.

Đại khái, đó là chúng tôi xin lược qua đôi nét về duyên do xuất xứ của tông nầy, để chúng ta biết qua đôi nét ngọn nguồn.

Trong Đại Giới Đàn kỳ nầy, có 3 điểm chính yếu mà chúng tôi thấy rất quan trọng cần được nêu ra. Đó là:

  1. Lễ tuyên pháp thừa tự.
  2. Lễ tuyên xưng Phước Huệ Tổ Đình.
  3. Lễ truyền pháp quán đảnh.

Ngoài ra, còn có lễ tấn phong pháp vị Thượng Tọa cho Đại Đức Thích Phước Tấn.

Trước hết, nói về lễ “Tuyên pháp thừa tự”. Thế nào gọi là tuyên pháp thừa tự? Có vị đã hỏi chúng tôi như thế. Bốn chữ đó hoàn toàn thuộc về Hán Việt. Để có một định nghĩa rõ ràng hơn, sau đây, chúng tôi xin được y cứ vào hai quyển Tự Điển của cụ Thiều Chửu và của cụ Đào Duy Anh để giải thích.

 

Chữ “Tuyên” theo quyển Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh giải thích, thì nó gồm có 3 nghĩa: 1. bày tỏ ra cho mọi người biết. 2. Khơi cho thông hết. 3. Đọc to lên. Thường chữ tuyên theo sau nó là chữ bố. Bố có nghĩa là rộng khắp, là bày tỏ xa cho mọi người đều biết. Như vậy, chữ tuyên nói đủ là tuyên bố, ghép hai chữ lại nó có nghĩa là tuyên bố công khai rõ ra khắp hết cho mọi người đều biết.

Chữ “Pháp” theo nhà Phật, nghĩa của nó rất rộng, nó có nghĩa sâu cạn khác nhau. Theo Duy Thức định nghĩa: “Nhậm trì tự tánh quỹ sanh vật giải”. Nghĩa là phàm cái gì mà nó giữ nguyên đặc tính và khuôn mẫu của nó, mà người ta nhìn vào là biết rõ không lầm lẫn giữa vật nầy với vật khác, đều gọi là một pháp. Như lửa, tính chất của nó là nóng. Hoặc như cái bình, khi người ta nhìn vào biết nó là cái bình chớ không phải là cái tách, hay vật gì khác, đó là một pháp v.v… Ngoài ra, nó còn có nghĩa là phép tắc, quy củ. Nói rộng ra, mọi hiện tượng trên thế gian nầy, cái gì có hình tướng đều gọi chung là pháp. Đó là pháp hữu vi. Ngay cả cái không hình tướng như tâm thể của mỗi loài cũng gọi là pháp. Đó là pháp vô vi.

Qua định nghĩa trên, ta thấy chữ pháp được dùng trong cụm từ 4 chữ nầy, nó mang hai ý nghĩa đặc biệt:

Thứ nhứt, pháp là giáo pháp hay pháp môn, sâu hơn là “pháp gốc” của một tông phái đã được truyền thừa tiếp nối hành trì, từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Pháp gốc (bổn pháp), nói cách khác là bản tâm hay thể tánh của muôn loài. Đây thuộc về pháp “Vô Vi”, bất sanh bất diệt.

Thứ hai, pháp là phép tắc khuôn mẩu của một sự vật, gồm chung các loại vật thể có hình tướng, tiêu biểu như chùa, tháp v.v… cần phải được duy trì và phát triển… đây thuộc về pháp “Hữu Vi”có sanh có diệt.

Chữ “Thừa” theo quyển Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu ở trang 227, có giải thích như sau: Thừa có 6 nghĩa: 1. vâng, như nói bẩm thừa là vâng theo. 2. Chịu, như nói thừa vận, là chịu vận trời. Thừa ân là chịu ân v.v… người trên ban cho, kẻ dưới nhận lấy gọi là thừa. 3. Đương lấy, như nói thừa phạp là thay quyền giúp hộ. 4. Phần kém. 5. Nối giõi, như thừa diêu, nối dõi giữ việc cúng tế. 6. Tiếp theo.

Qua những nghĩa nêu trên, chữ thừa trong đây gồm các nghĩa là: thừa ân, nhận lãnh, vâng giữ, làm theo nối dõi không cho đoạn tuyệt.

Chữ “Tự” cũng theo quyển Hán Việt Tự Điển Thiểu Chửu ở trang 97, ông giải thích có 2 nghĩa: 1. Nối, như tự tử là con nối. 2. Con cháu, như hậu tự là con cháu sau.

Ghép hai chữ “Thừa Tự” lại, theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh ở trang 457, thì có nghĩa là: Nối sự nghiệp của cha ông.

Như vậy, qua sự phân tích chiết tự giải thích trên, cụm từ Tuyên pháp thừa tự nầy có nghĩa là: “tuyên bố rộng khắp cho mọi người biết về pháp phái của tông môn, nói rõ là giáo pháp của Tông Thiên Thai cũng như những cơ sở chùa tháp hiện hữu do Hòa Thượng Thích Phước Huệ đã tạo dựng hầu để truyền đạt lại cho người thừa kế tiếp nối sứ mệnh mà nỗ lực duy trì và phát triển, làm rạng rở sơn môn học phái”

Nhưng ai là người thừa kế, nắm giữ giềng mối của tông môn? Từ xưa, việc truyền đạt cho người thừa kế là một quy củ căn bản trong thiền môn. Chữ “truyền” mang 2 ý nghĩa đặc thù: vừa nói lên tiếp nối làm hưng thạnh dòng pháp của tông môn, cũng vừa nói lên phần hình thức sư tướng: quản trị, duy trì và phát triển các cơ sở mà do vị Thầy bổn sư khai sáng lập thành. Vì Bổn Sư xét thấy tuổi già sức yếu, không còn đủ sức khỏe để gánh vác những trách vụ nặng nề, nên cần phải chọn người thừa kế. Tuy trong hàng đệ tử đông, nhưng vị Bổn Sư cần phải chọn người có khả năng đủ tài đức để giao phó trách nhiệm. Khi đã được Thầy giao phó trách nhiệm, thì vị đệ tử đó phải phụng chỉ tuân hành, không có quyền từ chối. Vì trước khi giao, người Thầy đã nhiều năm để ý theo dõi cung cách hành xử của người đệ tử đó thật kỹ càng. Giờ đây, khi được giáo phó, tất nhiên người đệ tử đó không được từ khước mà phải đãi lao gánh vác trách nhiệm thay cho Thầy. Đó là người đệ tử có dịp báo ân cho Thầy mình vậy.

Trong bao nhiêu năm qua, Hòa Thượng thượng Phước hạ Huệ Pháp Chủ Công Đức Tòng Lâm, một mặt, vừa tận lực lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt tại Úc và Tân Tây Lan, mặt khác, lại lưu tâm dốc hết tâm lực để tạo dựng nên những cơ sở cho các Phật tử và chư Tăng Ni có nơi hành lễ tu học. Ngoài cơ sở Phước Huệ ra, ngài còn quan tâm xây dựng một vài cơ sở khác như Quang Minh, ở thành phố Melbourne thuộc tiểu bang Victoria, và Đại Tòng Lâm, Sydney. Riêng cơ sở Đại Tòng Lâm, đây là cả một hoài bảo tâm huyết của ngài, bao nhiêu kỳ vọng, ngài đều đặt hết quyết tâm xây dựng nơi đây mong sớm được hình thành cơ sở nầy.

Trong bao nhiêu năm qua, dù tuổi già sức yếu, nhưng ngài bất chấp gian lao mệt mỏi, ngài đã âm thầm miệt mài xúc tiến công việc xây dựng hình thành từng bước. Ngài đã thiết tha vận động trong hàng Tăng Ni Phật tử, những ai có cái nhìn rộng rãi về tiền đồ Phật giáo ở những thế hệ mai sau trên xứ sở đất nước nầy, nên phát tâm ủng hộ tài vật cũng như công sức để cho ngài sớm được hoàn thành sở nguyện. Phàm đã có cơ sở dù nhỏ hay lớn, tất nhiên, cần phải có người có trách nhiệm quản lý trông coi duy trì và phát triển. Mục đích là nhằm vào lợi ích chung cho mọi người. Vì thế, nên ngài cần phải giao phó trách nhiệm cho người thừa kế.

Buổi lễ diễn ra hôm đó, Hòa Thượng đã bày tỏ tâm tư nguyện vọng của ngài trước mọi người. Nhất là đối với những đệ tử trong tông môn. Hòa Thượng như trút cạn nỗi lòng giao hết sự nghiệp lại cho hàng đệ tử trong tông môn gánh vác. Đã đến lúc, ngài cần phải nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Đó là ý nghĩa nội dung chính yếu của buổi lễ Tuyên Pháp Thừa Tự.

 Ba vị mà HT đã nhắm tới giao phó trọng trách cho những vị đó gánh vác: Vị thứ nhứt là HT Thích Phước Bổn. Có thể nói, HT Phước Bổn là bậc đàn anh trong tông môn thừa đương trọng trách điều hành mọi công việc và các cơ sở hiện có thay cho Hòa Thượng. Vị thứ hai là Thượng Tọa Thích Phước Tấn, đảm đang gánh vác trọng trách tiếp tục lo công việc xây dựng cơ sở Quang Minh. Vị thứ ba, là Đại Đức Thích Phước Nhơn, tiếp tục thay Hòa Thượng trông coi cơ sở Đại Tòng Lâm. Đó là ba vị đã được Hòa Thượng ân cần giao phó trọng trách. Cả ba vị đều đối trước Hòa Thượng và mọi người mà đảnh lễ phát nguyện y giáo phụng chỉ.

Tiếp theo là lễ Tuyên xưng Phước Huệ Tổ Đình. Từ ngữ Phước Huệ nó có một ý nghĩa tối ư quan trọng thiết yếu trong giáo lý Phật giáo. Dù là hệ thống giáo lý Nguyên Thủy hay Phát Triển, cũng đều lấy đó làm căn bản cho việc tu hành để tiến tới Phật quả. Câu nói: “Phước Huệ lưỡng toàn phương tác Phật”, cho thấy, quả nó thật quan trọng đến ngần nào trong giới tu học Phật. Ngoài tính chất mang ý nghĩa đặc thù đó, nó còn là một danh xưng được đặt tên cho một cơ sở. Danh xưng nầy tự nó cũng đã nói lên cái tôn chỉ cao thượng của người tu dù xuất gia hay tại gia, tất cả đều phải nhắm tới, vì đó là mục đích tối hậu của người tu.

Suốt thời gian qua, cơ sở nầy kể từ khi thành lập cho đến nay, nó là cơ sở chính yếu là trung tâm sinh hoạt của Giáo Hội. Dù trải qua bao gian lao thử thách, lắm khi phải đối đầu trực diện với những chướng ngại khó khăn từ ngoại tại hay nội tại, nhưng Phước Huệ vẫn trụ hình đứng vững không bao giờ khuất phục, lay động chùn bước. Nó vẫn kiên nhẫn khiêm tốn để gắng sức vươn mình thẳng bước đi tới. Vì có như thế mới thật sự đúng theo danh xưng của nó là Phước Huệ. Vì bản chất của nó là quang minh chánh đại nên không ai có thể phủ mờ hay làm biến chất nó được.

Chính cơ sở nầy, đã hun đúc tạo thành những người con trung kiên hết lòng phụng sự cho đạo pháp. ( Chỉ trừ một vài vị thiếu duyên nên không thể hòa mình tu học hành hoạt theo quy chế của tông môn. Ngoài ra, tất cả đều tuân hành phụng giáo theo quy chế của tông môn). Và chính nó cũng đã hơn một thời làm vẻ vang cho Phật Giáo Việt Nam tại xứ Úc Châu và Tân tây Lan nầy. Nói thế, không có nghĩa là đến thời điểm nầy nó không còn tiếp tục đóng góp xây dựng và phát triển cho Phật giáo nữa. Không. Trăm lần không vạn lần không. Nó chỉ chuyển mình trong tư thế thích nghi theo phương thức khế cơ mà thôi. Lập trường đường hướng hoạt động phụng sự cho Phật giáo trên xứ sở nầy của nó trước sau vẫn không thay đổi. Tùy khả năng và phương tiện sẵn có mà nó tích cực đóng góp. Chẳng qua đây là giai đoạn chuyển hướng đặt nặng việc hành trì trong tông môn nhiều hơn mà thôi.

Đã đến lúc cần phải nhìn lại và lo củng cố nội bộ trong chiều hướng trau dồi đạo lực, nếp sống đạo đức để tự mỗi người nỗ lực quán chiếu tâm linh sâu hơn, cho việc tu hành chóng đạt thành kết quả như ý nguyện. Đó là hướng tiến nội tại thu hẹp để những vị xuất gia trong tông môn có thêm cơ hội nhìn lại mình rõ hơn. Như vậy, việc đổi danh xưng, không phải là thối bước mà đó là một sự chuyển mình vươn lên trong nếp sống hướng thượng giải thoát cao đẹp hơn. Vì không còn phải bị chi phối ở ngoại cảnh nhiều như trước.

Tổ Đình là ngôi nhà Tổ mà tất cả con cháu phải có bổn phận trông coi duy trì và phát triển. Vì đây là ngôi nhà chung, không riêng của ai. Tất cả những ai trong tông môn đều phải thấy đó là một trách nhiệm bổn phận của mình. “Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, hoặc ăn cây nào rào cây nấy”, đó là những câu tục ngữ mà các bậc cổ đức đã khuyến nhắc con người. Đạo làm người cần phải biết cội nguồn. Một con người có gốc rễ đạo đức sâu, họ luôn nhớ cội biết nguồn. Đối với người đời còn phải tri ân và báo ân như thế. Còn đối với người xuất gia đã tòng sư học đạo thì sao? Tất nhiên, là phải hành xử vượt cao hơn người đời rất nhiều. Người xưa nói: “nhứt tự vi sư, bán tự vi sư”. Nghĩa là một chữ cũng là Thầy mà nửa chữ cũng là Thầy. Đã thế, thì ta phải hết lòng tôn sư trọng đạo, phải luôn tâm niệm trong sự tri ân và báo ân. Dù chỉ thọ ân trong một ngày, cũng không thể nào quên được.

Tổ đình còn là một mái ấm của đại gia đình không phân biệt phái tính xuất gia hay tại gia. Tuy nhiên, đối với người xuất gia là vai trò chính trong việc phụng thờ. Vì nơi đây là ngôi nhà thờ chư Tổ của một tông phái lâu đời, nên người xuất gia thừa kế phải có trách nhiệm bảo vệ quản trị phụng sự nặng hơn. Đương nhiên, tất cả phải coi đó là một mái ấm thiết thân của mình. Dù cho trôi nổi phiêu bạt nơi đâu, cuối cùng cũng phải nhớ đến Tổ Tông cội nguồn của mình. Đã nói là mái ấm, tất nhiên, ngoài thì che ấm, nhưng bên trong thì mỗi người phải giữ cho thật êm. Đó mới thật là một mái ấm hạnh phúc của đại gia đình. Vì thế, tất cả đều phải có bổn phận bảo vệ duy trì và phát triển ngôi nhà chung nầy.

Kế tiếp là buổi lễ truyền pháp. Xưa kia, trong nhà Thiền, khi thầy truyền cho trò gọi là truyền tâm pháp, hay Tâm ấn. Nên có câu nói là: “dĩ tâm truyền tâm”. Nghĩa là lấy tâm của người thầy in lên tâm của người trò. Nhưng chỉ truyền đạt cho một người mà thôi. Tất nhiên, người đó phải có cái “Thấy” bằng thầy hoặc kém hơn thầy một chút. Sự truyền thừa nầy, bắt nguồn từ đức Phật truyền cho Ngài Ca Diếp. Từ đó, Tổ Tổ tương truyền, truyền Tâm Pháp và Y Bát. Cứ thế truyền mãi cho đến đức Lục Tổ Huệ Năng, thì chấm dứt truyền y bát. Chỉ còn lại là truyền Tâm Ấn mà thôi.

Nói truyền pháp ở đây không phải thế. Người xuất gia khi đã được 5 hạ lạp trở lên mới được cầu pháp với một vị Bổn Sư của mình hay với một vị Thầy khác. Vị thầy đó, mình thấy có đầy đủ đức độ xứng đáng cho mình nương tựa tu học. Sau đó, người cầu pháp phải bạch trình với vị Thầy đó, bày tỏ tâm nguyện cầu pháp của mình. Khi được vị Thầy đó hoan hỷ hứa khả chấp nhận, làm lễ ấn chứng cho mình nhập môn, từ đó mình mới chánh thức trở thành vị đệ tử trong tông môn. Dĩ nhiên, việc làm lễ cho cá nhân, tất nhiên là đơn giản hơn là làm lễ chung cho tập thể.

Buổi lễ truyền pháp hôm đó, ngoài những vị xuất gia đệ tử của Hòa Thượng, (thọ giới Tỳ Kheo tăng từ 5 tuổi hạ trở lên ) ra, còn có chư Tôn Đức Tăng ở Mỹ, như HT Thiện Viên, TT Phước Sung, TT. Duy Tín, TT. Thiện Long cũng xin cầu pháp với Hòa Thượng.

 Buổi lễ cầu pháp diễn ra theo một nghi thức cổ truyền của Thiên Thai Giáo Quán Tông rất là trang trọng. TT. Thích Phước Tấn thay mặt chư Tôn Đức Tăng hiện diện, thành kính dâng lên với tất cả lòng thành hướng về Tam Bảo, về chư liệt vị Tổ Sư bổn phái, và nhứt là Hòa Thượng Bổn Sư thượng Phước hạ Huệ để bộc bạch đôi lời thỉnh cầu Hòa Thượng chỉ giáo truyền trao pháp phái. Sau đó, Hòa Thượng đã truyền pháp quán đảnh cho từng vị một. Mỗi người đều chí thành để nhận những giọt nước pháp nhũ cam lồ từ tay của một bậc Thầy khả kính đã dày công hành đạo nối dõi Tông thừa để rưới lên truyền đạt cho những đứa con của mình đang hết lòng quy ngưỡng lãnh thọ pháp ân.

Tiếp theo, Hòa Thượng Thích Phước Bổn, tuyên đọc pháp phái truyền Phật tâm ấn của chư liệt vị Tổ Sư truyền thừa. Đọc xong, Ngài xướng tụng đúng theo bài bản nghi thức truyền pháp. Sau đó, Hòa Thượng đã cấp phát pháp phái cho mỗi vị, và Hòa Thượng bảo mỗi người phải làm một bài kệ 4 câu rồi trình lên cho Hòa Thượng. Trình kệ là trình bày nói lên cái kiến giải tu học qua sự lãnh hội Phật pháp của mình. Tất nhiên, cái thấy của mỗi người có sâu cạn khác nhau. Mục đích là để Hòa Thượng biết trình độ mà hướng dẫn chỉ giáo thêm. Điểm đặc biệt là chỉ truyền pháp cho chư Tăng mà thôi. Còn bên chư Ni, tất nhiên là không được truyền thừa. Đó là đúng theo luật Phật chế. Do đó, mà có một vài Sư Cô cũng hơi buồn. Buồn thì chịu chớ biết nói sao hơn!

Nhìn chung, Đại giới đàn kỳ 6 nầy, đánh dấu một bước ngoặc, mở ra một trang sử mới khá quan trọng. Trong tinh thần thượng tôn hạ kính, hòa hợp, đó là nếp sống gương mẫu của tăng già. Cụ thể hôm nay là những hàng đệ tử xuất gia của Hòa Thượng đã siết chặt tình huynh đệ trong ý hướng thừa kế sự nghiệp mà chính do Hòa Thượng đã bỏ ra bao nhiêu tâm huyết và công sức tạo thành. Hướng đi và cơ sở đã có sẵn, chỉ cần mọi người đồng tâm hiệp lực xây dựng, phát triển, những gì mà Hòa Thượng Tôn Sư đã ân cần chỉ giáo, giao phó. Đó là trách nhiệm chung của những hàng đệ tử trong tông môn.

Những gì giao phó cho những vị có trách nhiệm thừa kế, đã được Hòa Thượng tận tay trao truyền ấn khả cả hai phương diện: pháp lý và tình người. Hòa Thượng đã công bố trước mặt mọi người. Đây mới là điểm chính mà Hòa Thượng đã cưu mang hoài bảo tâm nguyện nầy từ lâu. Đến nay, mới đúng hợp thời cơ để Hòa Thượng truyền đạt lại, để Ngài lui về nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Đó là tâm nguyện của ngài trong bấy lâu nay, cho đến hôm nay ngài mới được toại nguyện. Công ơn của ngài thật quá lớn lao, cao rộng như trời biển, làm sao những hàng đệ tử thừa kế có thể quên được?

Như vậy, Đại gìới đàn kỳ 6 nầy chỉ là thể hiện trên hình thức lễ nghi truyền giới, mà thực chất nội dung chính yếu của nó phải nói là trao truyền sự nghiệp lại cho những vị có trách nhiệm thừa đương, gánh vác trọng trách. Bên cạnh đó, còn có lễ tấn phong pháp vị Thượng Tọa cho Đại Đức Thích Phước Tấn. Việc nầy cũng nằm trong tâm nguyện của Hòa Thượng mong mỏi từ bấy lâu nay.

Tóm lại, thật đây là một niềm vui riêng của một bậc Thầy cả đời đã hiến thân phụng sự phục vụ cho đạo pháp và nhơn sinh. Và đó cũng còn là một niềm vui chung của mọi người. Bây giờ, ngài mới thực sự yên tâm mà nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho Hòa Thượng thân tâm thường an lạc và cầu nguyện cho chư Tôn đức Tăng Ni trong tông môn có đầy đủ sức khỏe, nghị lực hầu vượt qua mọi khó khăn, để hoàn thành sứ mệnh trong phương trời cao rộng: “tác Như Lai sứ hành Như Lai sự”.

Thành tâm cầu nguyện cho mọi người luôn sống an lành, hạnh phúc, trong ánh hào quang soi sáng của chư Phật

 

Truyền thống Đại Giới Đàn

 

Theo sử liệu Phật giáo cho chúng ta biết, sự truyền thọ giới pháp đã có từ thời đức Phật còn tại thế. Khi ngài La Hầu La xuất gia, chính đức Phật bảo Tôn Giả Xá Lợi Phất truyền trao 10 giới Sa Di cho La Hầu La và Tôn Giả Mục Kiền Liên làm giáo thọ hướng dẫn, thế phát cho La Hầu La.

Sau khi Phật nhập diệt, tăng đoàn tiếp nối truyền thụ giới pháp cho nhau dưới mọi hình thức: “tùy thời, tùy cảnh và tùy duyên”. Riêng Phật giáo Việt Nam, từ xưa đến nay, dòng sinh mệnh của Phật giáo luôn luôn gắn liền với dòng sinh mệnh của dân tộc. Chính vì sự gắn liền đó, nên thời nào dân tộc hưng thịnh vẻ vang, thì Phật giáo cũng được vẻ vang hưng thịnh. Ngược lại, thời nào dân tộc bị suy vi đen tối, thì Phật giáo cũng bị đen tối suy vi. Lịch sử đã chứng minh như thế. Tuy nhiên, dù ở bất cứ thời đại thạnh suy nào, Phật giáo cũng có tổ chức những giới đàn lớn nhỏ tùy theo mỗi hoàn cảnh khác nhau.

Ngoài tính chất hệ thuộc vào thời thế, nó còn tùy thuộc vào mỗi Tông Phái cũng như mỗi Giáo Hội qua từng thời đại. Nhưng nhìn chung, mục đích trì giới và bảo vệ giá trị cao quý của Tăng đoàn vẫn là một. Vì giới luật còn thì đạo pháp còn. Do đó, bên cạnh những sinh hoạt khác của Phật giáo như: xây dựng chùa chiền, in kinh ấn tống, phiên dịch kinh điển v.v… thì Đại Giới Đàn là một trong những pháp sự mà Giáo Hội bao giờ cũng quan tâm đặt lên hàng đầu của Phật giáo.

Bởi tầm mức quan trọng đó, cho nên Phật giáo ở vào những thời đại hưng thạnh, tiêu biểu như qua hai thời đại Lý Trần, được đánh giá cao độ vàng son của Phật giáo. Bởi thế, số lượng tăng sĩ của hai thời đại nầy, nhứt là thời Trần rất đông đảo. Tam Tổ Thực Lục chép rằng: “ chỉ riêng Ngài Pháp Loa trong thời gian bấy giờ cũng đã đứng ra đôn đốc tạo dựng lên đến 200 tăng đường, để có nơi cư trú học tập cho hàng tăng sĩ. Số tăng sĩ được xuất gia từ năm 1313, tức là năm khởi đầu việc hạn chế tăng sĩ, cho đến năm 1329, tức là trong 16 năm, đã có 15.000 người xuất gia được công nhận. Đó là số người xuất gia trong khuôn khổ Giáo Hội Trúc Lâm, và cũng đã được quy định thật rõ rệt. Như vậy, cứ mỗi kỳ có Đại Giới Đàn, có vào khoảng từ 3000 đến 4000 người thọ giới. Hiện nay, ta chưa thấy có một tài liệu nào nói rõ rệt về con số tăng sĩ hồi đó, nhưng ta có thể ước lượng rằng ít nhất cũng có hơn 30.000 vị”.

Điều nầy, cũng không có gì khó hiểu. Bởi lẽ, hễ có người xuất gia tu hành đông đảo, thì nhu cầu tất yếu truyền giới và thọ giới phải có. “Trong thời đại nhà Lý, có nhiều Đại Giới Đàn tổ chức ngay trong triều đình, để cho vương công, hầu tước và quan lại thọ giới xuất gia hay tại gia, tùy theo hạnh nguyện của mỗi người”. ( Kiêm Đạt Đại Giới Đàn Thiện Hòa )

Theo tài liệu của L. Cedière ghi rằng: “Vào đầu năm 1010, khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã cho chọn những người xuất sắc trong lớp trí thức, sĩ phu đương thời cho xuất gia. Bốn năm sau đó, ( 1014 ) Tăng Thống Thẩm Văn Uyên lập giới đàn tại chùa Vạn Thọ, để tăng tín đồ thọ giới. Vào thượng tuần tháng 8 năm 1016 có hơn 1000 người ở kinh đô Thăng Long được tuyển chọn để thọ giới làm tăng sĩ”

Sang thời nhà Trần, như đã nói, Phật giáo rất hưng thạnh, ngay cả đến các vị vua cũng phát nguyện thọ giới tu học. Vì thế, gây nên một phong trào rất sâu rộng về việc xuất gia thọ giới tu học từ trong triều đình cho đến dân gian. Và lẽ dĩ nhiên, trong thời nầy có nhiều Đàn giới tổ chức rất trọng thể.

Sang nhà Hồ và thời kỳ Minh thuộc, thời nhà Hồ, vì thời gian quá ngắn ngủi, nên Phật giáo chưa làm được gì, thì kế lại bị nhà Minh sang đô hộ. Từ đó, cả dân tộc đi vào lầm than khổ sở. Chúng cai trị một cách rất khắc nghiệt tàn bạo dã man. Phật giáo cũng đồng chung số phận. Thời nầy, Nho giáo (Tống Nho) đắc thời đắc thế, họ chèn ép Phật giáo đủ điều. Mọi sinh hoạt của Phật giáo coi như bị bế tắc. Số tăng sĩ có đủ tài đức rất là hiếm hoi. Phần nhiều đều không thông suốt giáo lý. Đây là thời kỳ đen tối suy đồi của Phật giáo.

Rồi đến nhà Hậu Lê, mọi sinh họạt của Phật giáo cũng chưa phục hưng lại được. Lý do, vì số tăng sĩ chân tu thực tài thực học không có bao nhiêu. Vả lại, kinh điển lại bị nhà Minh một phần họ vơ vét mang về Tàu và một phần họ thiêu hủy. Thời nầy, Nho học độc thịnh chiếm ưu thế, được sự hỗ trợ của triều đình, nên sĩ phu đổ xô nhau vào con đường quan lộ cử nghiệp. Họ chạy theo công danh đua nhau thi cử làm quan. Do đó, nên tình trạng Phật giáo không thể nào vươn mình lên được.

Tình trạng suy đồi đó kéo dài mãi cho đến thế kỷ 16, bấy giờ tình hình Phật giáo mới trở nên sáng sủa đôi chút. Nhờ có các nhà sư Trung Hoa sang truyền bá. Từ đó, Phật giáo mới có cơ phục hưng phát triển.

Trong thời kỳ nầy, có các phái Nguyên Thiều và Liễu Quán đã tích cực nỗ lực hoạt động, nên sinh khí Phật giáo dần dần trở nên khởi sắc. Thời nầy, có nhiều Đại Giới Đàn lần lượt được tổ chức ở các chùa: Thiên Mụ, Chúc Thánh, Viên Thông v.v… Mỗi Đàn giới có rất nhiều người xuất gia thọ giới.

 

Đến thời kỳ Phật giáo chấn hưng, cũng có nhiều Đại Giới Đàn tổ chức trọng thể ở các chùa miền Nam như: Giác Hải, Tiên Linh ( Bến Tre) Phi Lai (Châu Đốc) Long Hòa (Trà Vinh)… và có rất nhiều người thọ giới. Riêng ở miền Trung cũng có nhiều Đàn giới tổ chức ở các chùa như: Từ Hiếu, Quốc Ân, Tây Thiên, Tiến Hưng v.v…

Thời gian trước năm 1975, trong miền Nam cũng có nhiều nơi tổ chức các Đại Giới Đàn rất quy mô trọng đại. Đặc biệt, Tông Phái Thiên Thai kể từ thập niên ba mươi đến giữa thập niên năm mươi, mỗi năm vào ngày Vía Đức Quán Thế Âm Bồ tát 19 tháng 2 âm lịch, Tổ Sư thượng Liễu hạ Thiền đều có kiến lập giới đàn hoằng giới tiếp dẫn hậu lai. Mỗi giới đàn, giới tử xuất gia, tại gia cầu thọ tịnh giới trung bình 300 đến 500 người, có giới đàn, giới tử lên đến gần cả ngàn người.

Sau khi Tổ sư viên tịch chư Tôn Đức trong hàng đệ tử tiếp nối công nghiệp hoằng giới của Tổ. Hằng năm, đều có khai đàn truyền giới cho hàng tứ chúng hậu học tại các chùa trong Tông Phái như: Tôn Thạnh, Pháp Quang, Pháp Hội, Pháp Giới v.v…

Riêng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt kể từ ngày thành lập, giới đàn đầu tiên được khai diễn tại Việt Nam Quốc Tự vào năm 1964. Và theo quy định của ngành Tăng Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt, thì mỗi năm Đại Giới Đàn được tổ chức một lần tại một miền Giáo Hội, từ vĩ tuyến 17 vào đến Cà Mau gồm có các miền: Vạn Hạnh, Liễu Quán, Khánh Hòa, Quảng Đức, Vĩnh Nghiêm, Huệ Quang, Khánh Anh v.v…

Sau năm 1975 mãi cho đến hôm nay, từ trong nước đến ngoài nước, rải rác khắp đó đây, các chùa cũng đều có tổ chức các Đại Giới Đàn, tiêu biểu như Đại Giới Đàn Thiện Hòa tổ chức vào năm 1983 tại Phật Học Viện Quốc Tế, thuộc tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Riêng tại Úc Châu, điểm đặc biệt và cũng là niềm vinh hạnh lớn lao cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan, tại Tổ Đình Phước Huệ (Phước Huệ Công Đức Tòng Lâm) trụ sở của Giáo Hội Trung Ương. Hòa Thượng Trưởng lão thượng Phước hạ Huệ Viện trưởng Viện Hoằng Đạo cũng là Pháp Chủ Tổ Đình Phước Huệ, Ngài đã liên tục khai nhiều đàn giới.

Lễ truyền giới Sa Di đầu tiên vào năm 1982, kế đến là năm 1986 và cho đến năm 1996 thì Đại Gìới Đàn Phước Huệ kiến lập 2 năm một lần, cho tới năm 2003, là trải qua gồm có 5 Đại Giới Đàn.

Đặc biệt Đàn giới năm 1991 tức Đại Giới Đàn kỳ 1, được tổ chức lồng trong những ngày đại lễ khánh thành chùa Phước Huệ vào các ngày 21, 22, 23, 24, tháng 12 năm 1991. Phải nói đây là một Đại Lễ khánh thành ngôi chùa Việt Nam lần đầu tiên lớn nhứt ở Úc.

-.Đại Giới Đàn kỳ 2, được tổ chức rất trọng thể vào các ngày 3 , 4, 5, tháng 8 năm 1996, nhằm ngày Vía đức Bồ Tát Quán Thế Âm 19, 20, 21, năm Bính Tý.

- Đại Giới Đàn kỳ 3, được tổ chức khai đàn trọng thể kể từ ngày 6 tháng 8 đến ngày 10 tháng 8 năm 1998.

- Đại Giới Đàn kỳ 4, tổ chức khai đàn trọng thể từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 23 tháng 7 năm 2000. Ngoài việc truyền giới, còn có lễ suy tôn pháp vị Hòa Thượng và tấn phong pháp vị Thượng Tọa.

- Đại Giới Đàn kỳ 5, diễn ra từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 20 tháng 7 năm 2003.

- Đại Giới Đàn kỳ 6, tổ chức trọng thể từ ngày 27 tháng 7 đến ngày 30 tháng 7 năm 2007.

- Đại Giới Đàn kỳ 7, được tổ chức khai đàn trọng thể từ ngày 18 tháng 3 đến ngày 21 tháng 3 năm 2011.

Như vậy, những Đàn giới đã được lần lượt tổ chức tại Tổ Đình Phước Huệ tính theo thời gian trước sau có tất cả là 7 Đại Giới Đàn. Đàn giới nào cũng được tổ chức rất trang trọng. Trải qua những Đàn giới đó, kết quả, có nhiều vị xuất gia thọ giới và sau khi đắc giới, quý vị đó tiếp tục tu học cho đến ngày nay. Một số Tăng Ni, thuộc tông môn Tổ Đình Phước Huệ, theo nhu cầu Phật sự cấp thiết, nên một số vị đã được Hòa Thượng bổ nhiệm nhận lãnh trách vụ trụ trì ở các chùa trong và ngoài nước Úc. Một vài vị đi du học ở nước ngoài. Còn lại một số thì hiện đang tu học và làm Phật sự tại Tổ Đình. Số nầy khá đông. Hiện nay, tổng số có trên 30 vị đang tu học tại Tổ Đình, phần lớn đều thọ đại giới, chỉ có 2 Sa Di một trẻ một già. Hầu hết những vị nầy đều là đệ tử xuất gia của Hòa Thượng Đàn chủ thượng Phước hạ Huệ.

Lược qua một số Đại Giới Đàn mang tính cách lịch sử của từng giai đoạn qua các thời đại như thế, cho chúng ta thấy một cách rõ ràng rằng: đây là một truyền thống, tiếp nối từ nghìn xưa mãi đến nghìn sau. Vì thời nào cũng vậy, giới luật là linh hồn, là cột trụ của Phật giáo. Do tính quan trọng đó, nên có câu: “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ. Tỳ ni tạng diệt, Phật pháp diệc diệt”. Nghĩa là, Tạng Giới Luật còn thì Phật pháp còn. Tạng Giới Luật mất, thì Phật pháp cũng mất. Vì giới luật là mạng sống chính yếu của Phật pháp.

Do đó, nếu chúng ta duy trì được truyền thống Đại Giới Đàn, tất nhiên là chúng ta sẽ duy trì được mạng mạch trường lưu của Phật pháp. Chính vì ý thức được tầm mức quan trọng trong sự tồn vong đó, nên trong suốt bao năm qua, Hòa Thượng Pháp Chủ Tổ Đình Phước Huệ đã bất chấp mọi khó khăn, vượt qua mọi trở ngại, Ngài kiên quyết liên tục tổ chức mở ra các Đại Giới Đàn tại Tổ Đình Phước Huệ, nhằm mục đích tạo phương tiện cho hàng tứ chúng có đủ cơ duyên để lãnh thọ giới pháp hầu lấy đó làm phương châm tiến thủ trên bước đường tu học. Đó là một hoài bảo, một tấm lòng từ bi vị tha của một bậc Thầy đầy khả kính đã dầy công tạo dựng từng thế hệ, tiếp nối thắp sáng ngọn đuốc chánh pháp trong khung trời: “Tam Vô Lậu Học” (Giới, Định, Huệ).

Đại Giới Đàn kỳ nầy, một lần nữa, nói lên tính chất duy trì và phát triển truyền thống, và quyết tâm bảo tồn một kho tàng vô giá mà trước khi vào Niết bàn, đức Thế Tôn đã cạn lời thổ lộ ân cần khuyến nhắc các thầy Tỳ kheo rằng: “Nầy các Thầy Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ, các Thầy phải tôn trọng, trân kính Tịnh Giới, như người mù mà được sáng mắt, như kẻ nghèo nàn mà được vàng ngọc, phải biết Tịnh Giới là đức Thầy cao cả của các Thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì Tịnh Giới ấy”.

Ôi! Còn lời vàng ngọc quý giá nào hơn! Mong sao âm vang của lời thức nhắc dặn dò ấy luôn mãi vang dội ngự trị trong lòng của mỗi người con Phật và nhứt là đối với các giới tử lãnh thọ giới pháp hôm nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Từ Kinh Duy Ma Đến Pháp Hoa

 

Kinh Duy Ma thuộc hệ tư tưởng siêu việt của văn học Phật giáo Đại Thừa. Cách trình bày kết cấu lập luận của kinh văn rất súc tích và rất có nghệ thuật. Về mặt yếu lý, người đọc thật cũng không phải là dễ hiểu. Nếu người đọc không có một trình độ kiến thức Phật học căn bản vững chắc. Nhất là đối với những nguồn tư tưởng sâu sắc của các kinh điển Phật giáo Đại Thừa. Xét về thời điểm xuất hiện, giữa kinh Duy Ma và kinh Pháp Hoa, ta thấy kinh Duy Ma chắc chắn là ra đời trước kinh Pháp Hoa rất lâu. Bởi khi Phật nói kinh Pháp Hoa Ngài ở trên núi Linh Thứu. Và lúc bấy giờ tuổi của Ngài cũng khá cao. Lý do, là vì trong pháp hội Pháp Hoa có vua A xà thế. Như vậy, là A xà thế sau khi giết vua cha là Bình Sa Vương rồi mới lên ngôi vua. Đó là điểm mà ta cần phải lưu ý về thời điểm xuất hiện giữa hai kinh khác nhau.

Điểm đặc biệt, Kinh Duy Ma không phải do Phật nói, mà Phật chỉ ấn chứng do các vị đệ tử thuật lại. Theo Hòa Thượng Nhất Hạnh cho rằng, kinh Pháp Hoa được ghi chép thành văn tự phải ở vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai Dương Lịch, mới được lưu truyền. Nghĩa là khoảng 700 năm sau khi Phật nhập diệt. “Hòa Thượng nêu ra bằng chứng của sự xuất hiện ở vào thời điểm nầy là Thầy Long Thọ sống vào cuối thế kỷ thứ hai, và Thầy đã dẫn kinh Pháp Hoa” ( Sen nở trời phương ngoại trang 1 )

Đứng về phương diện lập trường của Kinh Duy Ma, theo nhận xét của bác sĩ Kimura Taiken, một học giả Nhật Bản chuyên nghiên cứu về sử học Phật giáo Ấn Độ cho rằng: “Lập trường Kinh Duy Ma, chủ yếu tuy lấy Bát Nhã làm bối cảnh nhưng lại chỉ khẳng định tất cả về phương diện diệu hữu mà chủ trương “Không” về mặt tiêu cực của Bát Nhã, đó là đặc chất của Kinh Duy Ma” (Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Thích Quảng Độ dịch, trang 68 ).

Như vậy, kinh Duy Ma nhằm mục đích là phá chấp tư tưởng hạn hẹp của hàng Nhị Thừa và phát huy nâng cao tư tưởng Phật giáo Đại thừa lên đến cực điểm. Song có điều người ta thấy rằng, sự khiển trách đối với hàng Nhị Thừa của Kinh Duy Ma, thật quá nặng lời, nếu không muốn nói là quá thiên trọng cực đoan. Có người còn nghĩ xa hơn và cho rằng, Kinh Duy Ma như có vẻ kỳ thị với hàng Thanh Văn. Bởi nhân vật chính của Kinh Duy Ma là một vị cư sĩ có gia đình. Dù ông là một Trưởng Giả có địa vị giàu có lớn trong xã hội. Nhưng, ông lại hìện thân có bịnh để nhằm quở trách các hàng Nhị thừa. Mà tiêu biểu đứng đầu là Tôn giả Xá lợi phất. Ai cũng biết, ngài Xá lợi phất là một bậc trí huệ đệ nhất trong hàng Thanh Văn. Thế mà ở đây, ngài lại bị cư sĩ Duy Ma Cật khiển trách nặng nề. Theo lời thuật lại của ngài khi Phật sai ngài đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật. Ngài nói: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên lặng ( tọa thiền ) dưới gốc cây, khi ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: Thưa ngài Xá Lợi Phất! Bất tất ngồi sững đó mới là ngồi yên lặng, vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý, mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi mới là ngồi yên lặng; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu, mới là ngồi yên lặng; tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng. Không đoạn phiền não mà vào Niết bàn mới là ngồi yên lặng. Nếu ngồi được như thế là cỗ Phật ấn khả ( chứng nhận ) vậy.

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con nghe nói những lời đó rồi, im lặng không trả lời đặng, nên con không dám đến thăm bịnh ông” ( Kinh Duy Ma Cật, Dịch Giả Thích Huệ Hưng trang 27 Phẩm Đệ Tử )

Đứng ở một góc độ nào đó, thì ta thấy lập trường của Kinh Duy Ma rõ ràng là nhằm nâng cao địa vị của người cư sĩ tại gia. Phải chăng đó cũng là để biểu dương cho tinh thần nhập thế của đạo Phật. Vẫn biết, Trưởng giả Duy Ma Cật là hiện thân của Bồ Tát nhằm chuyển hóa tư tưởng của hàng Nhị Thừa và phàm phu. Hầu để cho họ tiến lên Đại Thừa. Điều nầy, thiết nghĩ, không ai có thể phủ nhận được.

Điểm lý thú giữa Kinh Duy Ma và Kinh Pháp Hoa, khi đối chiếu ta thấy, kinh Duy Ma càng nặng lời khiển trách hàng Nhị Thừa bao nhiêu, thì đến kinh Pháp Hoa lại càng nâng cao địa vị của hàng Nhị Thừa lên cao tột bấy nhiêu. Phải nói, hệ tư tưởng trong Kinh Pháp Hoa là một hệ tư tưởng rộng mở bao dung khoáng đạt không có kỳ thị như kinh Duy Ma. Điểm nầy ta thấy rất rõ ở Phẩm Phương Tiện. Chính vì thế, nên nói Kinh Pháp Hoa là vua trong các Kinh. Nói cách khác, Kinh Pháp Hoa đã đạt đến địa vị cao nhất trong các kinh điển Đại Thừa. Về điểm nầy, ta thấy ở Phẩm thứ mười, đoạn cuối của phần kệ trùng tụng, Phật dạy rằng:

Dược Vương, nay bảo ông

Các Kinh của ta nói

Mà ở trong Kinh đó

Pháp Hoa tột thứ nhất.

Có thể nói, Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa là nêu lên lập trường căn bản của Kinh nầy. Ở Kinh Duy Ma Cật, ta thấy, địa vị của ngài Xá lợi phất bị lu mờ, trái lại ở Kinh Pháp Hoa thì địa vị của ngài Xá lợi phất lại sáng rỡ nổi bật.

Như vậy, Kinh Pháp Hoa quả thật đã mở rộng cánh cửa quy tam thừa về Phật thừa. Thường gọi là quy tam hiển nhất. Chính đó là điểm siêu việt đặc thù của Kinh Pháp Hoa. Bởi chính tư tưởng đó mà đã đưa kinh Pháp Hoa lên ngôi vị độc tôn có khả năng dung nạp tất cả trong vườn hoa kinh điển Đại Thừa. Như trăm sông đều chảy xuôi dòng về biển cả.

Nếu nhìn ở một góc độ khác, ta thấy Kinh Duy Ma như để uốn nắn hun đúc tư tưởng cho hàng Nhị Thừa chuyển hướng lên Đại Thừa. Đó không phải là cái nhìn kỳ thị như có người đã nghĩ. Mà đó chỉ là một sự dọn đường rất kỳ đặc ngoạn mục của Kinh Duy Ma. Chính nhờ vào sự uốn nắn hun đúc đó mà sau nầy các hàng Nhị Thừa đã được Phật khai hóa dễ dàng hơn. Như vậy, theo tôi, thì Kinh Pháp Hoa chỉ là thừa hưởng cái đặc sản quý báo của Kinh Duy Ma và như đã dọn đường sẵn trước mà thôi. Nói cách khác, Kinh Duy Ma chính như dốc hết công lực cày bừa dọn đất sẵn, để đến Kinh Pháp Hoa dễ bề canh tác gieo hạt giống Đại Thừa một cách rất dễ dàng. Do đó, mà ta thấy ở Kinh Pháp Hoa tất cả hàng Thanh Văn đều được Phật thọ ký hết. Tất cả đều được Phật giáo hóa chuyển hướng lên Đại Thừa. Đó là điểm đặc thù của Kinh Pháp Hoa mà các kinh điển khác không bao giờ có.

Nói tóm lại, từ Kinh Duy Ma đến Kinh Pháp Hoa, theo cái nhìn của chúng tôi, thì giữa hai kinh tuy thời gian xuất hiện có khác nhau, nhưng đứng trên lập trường chuyển hóa khai thông tư tưởng từ hệ tư tưởng hạn hẹp cố chấp của hàng Nhị Thừa và phàm phu đến hệ tư tưởng rộng mở phóng khoáng bao dung tất cả mọi căn cơ của Kinh Pháp Hoa về một mối, tức duy nhất chỉ có một Phật Thừa không hai cũng không ba. Đó cũng còn là một hệ tư tưởng khéo dẫn dụ nhứt quán của Phật giáo. Tuyệt đối, không có gì là mâu thuẫn chống trái nhau. Tất cả chỉ có một con đường duy nhất, hướng dẫn mọi căn cơ, chủng tánh dị biệt của hết thảy chúng sanh để đạt đến thành tựu viên mãn Phật quả mà thôi.

 

 

 

MỤC LỤC

 Trang

Vài Lời Giới Thiệu............................................... 2

Lời Đầu Sách....................................................... 8

Phần Một - Thơ................................................. 12

Một Cõi Đi Về................................................... 13

Ai Say, Tôi Say................................................. 14

Ân Cha Mẹ........................................................ 15

An Phận Sống.................................................... 16

Bài Thơ Không Tên........................................... 17

Bến Cũ ........................................................... 18

Biểu Hiện........................................................... 19

Bình Minh......................................................... 20

Buông Gánh...................................................... 21

Buông xả......................................................... 22

Cạm Bẫy .......................................................... 23

Cám Ơn Người .................................................. 24

Cảm Thông........................................................ 25

Tâm Như Họa Sĩ................................................ 26

Chí Nữ Nhi........................................................ 27

Chiều Đông Nhớ Mẹ.......................................... 28

Cho Trọn Nghĩa Tình........................................ 29

Chúc Tết ........................................................ 30

Cuộc Đời ......................................................... 31

Về Chùa ......................................................... 32

Đóa Sen Hồng................................................... 33

Đời Có Chi Đâu................................................. 34

Đối Diện .......................................................... 35

Đời Người ........................................................ 36

Đón Chào ........................................................ 37

Động Hoa Vàng................................................. 38

Dựng Lại Mùa Xuân.......................................... 39

Dứt Khổ Đời...................................................... 39

Giấc Mơ ........................................................... 40

Gió Xuân ......................................................... 41

Hoa Hồng.......................................................... 42

Hoàng Hôn........................................................ 42

Hờn Dổi .......................................................... 43

Hướng Niệm...................................................... 44

Khổ Vui ........................................................ 45

Không Gian....................................................... 46

Lối Về................................................................ 47

Mong Đợi ......................................................... 48

Một Chữ T......................................................... 49

Mượn Lời........................................................... 50

Nắng Đã Lên...................................................... 50

Nắng Lên........................................................... 51

Cặp Bến............................................................. 52

Nếu Tôi Chết..................................................... 53

Người Đó........................................................... 55

Nguyện Cầu....................................................... 56

Khổ.................................................................... 57

Nước Mắt........................................................... 58

Quê Xưa............................................................ 59

Sầu Riêng.......................................................... 60

Ta Làm Thơ....................................................... 61

Tắm Nắng.......................................................... 62

Tan Niềm Tục.................................................... 63

Thiền Hành........................................................ 64

Thoát Lưới......................................................... 65

Thong Dong....................................................... 66

Đừng Thương Tiếc............................................. 67

Tỉnh Thức.......................................................... 68

Tình Yêu Muôn Thuở........................................ 69

Trăng Thu ......................................................... 70

Trẻ Mồ Côi........................................................ 71

Trường Mộng..................................................... 72

Tùy Duyên......................................................... 73

Vạn Cảnh Tùy Tâm........................................... 74

Về Chùa............................................................. 75

Về Đâu?............................................................. 76

Về Thực Tại....................................................... 77

Vườn Hoa Nhơn Loại........................................ 78

Vườn Thơ.......................................................... 79

Xuân Buồn........................................................ 80

Xuân Cảm......................................................... 81

Xuân Phong....................................................... 82

Huyễn Mộng...................................................... 83

Tự Tỉnh.............................................................. 84

Hạt Sương Mơ................................................... 85

Mưa................................................................... 86

Bướm Ong......................................................... 87

Bầu Trời Xanh................................................... 88

Sống Thực......................................................... 89

Đâu Là Hạnh Phúc............................................ 90

Cảnh Mưa Đời................................................... 91

Một Là Tất Cả................................................... 92

Nhắn Gởi........................................................... 93

Mây Trắng......................................................... 94

Bé Thơ............................................................... 95

Vui Với Thiên Nhiên......................................... 96

Sám Hối............................................................. 97

Sinh Hoạt Ngoài Trời........................................ 98

Thiên Tai Khổ Nạn............................................ 99

Đi Trong Mưa.................................................. 101

Hướng Niệm Quan Âm.................................... 102

Hoài Niệm Cố Hương...................................... 103

Kính Mừng Thầy............................................. 106

Tin Sét Đánh................................................... 107

Lời Tâm Sự...................................................... 109

Hạnh Ngộ........................................................ 112

Duy Tâm......................................................... 112

Hoa Vô Ưu...................................................... 113

Thắp Hương.................................................... 114

Chiều Tàn ....................................................... 115

Phần hai - Tạp Bút.......................................... 116

Cầu siêu trên biển............................................ 116

Chung quanh vấn đề giáo dục con cái.............. 127

Độc Tố............................................................. 143

Họa hay phúc.................................................. 150

Một vài cảm nghĩ về Hạnh Nguyện của 

Bồ Tát Quán Thế Âm ..................................... 162

Một vài cảm nghĩ về Ngày Phật Đản............... 169

Một vài cảm nghĩ về Ngày Đại Lễ Vu Lan....... 175

Muốn trở thành người Phật Tử........................ 187

Nghệ thuật tả trăng trong truyện Kiều............. 198

Thử tìm hiểu vài nét về việc hành xử qua

ngôn ngữ của Kiều........................................... 209

Ngược Dòng..................................................... 232

Người Phật tử với việc đi chùa......................... 239

Những Mầm Non Phật Pháp........................... 254

Những ngày bên Mẹ......................................... 271

Những niềm vui khi tụng Kinh Vu lan............. 281

Tân xuân Tùy Bút........................................... 289

Thử tìm lại giá trị của tình thương................... 299

Trà Vinh quê hương tôi................................... 316

Vài nét về ý nghĩa Tắm Phật........................... 329

Cùng Một Hướng Đi........................................ 342

Truyền thống Đại Giới Đàn............................. 360

Từ Kinh Duy Ma đến Pháp Hoa ...................

***

Chân thành cảm tạ Thầy Phước Thái & Thầy Phước Viên đã gởi tặng Trang Nhà Quảng Đức phiên bản điện tử tập sách này (T.Nguyên Tạng, 1-6-2014)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/201907:33(Xem: 333)
Phật Giáo và Những Dòng Suy Tư (sách pdf)
07/12/201920:54(Xem: 341)
Trong Trung Bộ Kinh, Kinh 110 Tiểu Kinh Mãn Nguyệt, Đức Phật xác quyết trên thế gian này có những người theo chánh hạnh, chánh hướng tự mình chứng đạt với thắng trí đời này đời khác, và truyền dạy lại, như đoạn kinh văn sau đây về người bất chánh có tà kiến như người bất chánh, và người chơn chánh có chánh kiến như người chơn chánh
06/12/201912:14(Xem: 697)
Tuổi thơ được cha mẹ cận kề, chăm bẵm, chỉ bảo là điều hạnh phúc nhất của mỗi đứa trẻ. Nhưng xã hội ngày nay, vì nhiều lý do, tỷ lệ ly hôn tăng lên đáng kể, khiến nhiều em phải đối diện với cảnh gia đình ly tán. Những tổn thương tâm lý, khát khao được gần mẹ, gặp cha của các em như em bé trong bài viết dưới đây khiến người lớn chúng ta phải thực sự suy ngẫm.
01/12/201908:36(Xem: 248)
Chánh Ngữ Trong Đời Và Đạo Nguyên Giác Lý do để viết bài này là vì bản thân người viết có sai lầm cần bày tỏ. Tuy rằng sai lầm đã hiệu đính, nhưng cũng cần nói ra, vì Đức Phật đã dạy rằng hễ sai thì nên tự mình bày tỏ. Trong Trường A Hàm, Kinh DA 24 (Kinh Kiên Cố), bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, có ghi lời Đức Phật dạy: “Ta chỉ dạy các đệ tử ở nơi thanh vắng nhàn tĩnh mà trầm tư về đạo. Nếu có công đức, nên dấu kín. Nếu có sai lầm, nên tự mình bày tỏ.” (1)
01/12/201907:54(Xem: 861)
Kính bạch Thầy, hơn một tuần qua con ở nhà theo dõi khóa tu thọ trì trọn bộ Kinh Pháp Hoa tại Tu Viện Quảng Đức, nhân dịp này con có dịp ôn lại tất cả bài đã học để vào một cuộc thi sát hạch cuối khoá và con đã đùng hết thì giờ trong ngày để trì tụng trọn bộ kinh Pháp Hoa và đã suy nghiệm như sau . Kính dâng Thày sự học hỏi của con như một sự trình pháp và thương xót cho hoàn cảnh con không thể về dự chung với đạo tràng với các bạn để cùng nhau tu tập. Kính, đệ tử Huệ Hương. Khi nghe được lời phó chúc của Đức Phật trong phẩm Chúc Luỵ ta phải cúi lạy tri ân công đức của Ngài đối với chúng ta biết là dường nào. Vì chỉ có Đức Phật mới ban bố cho chúng sanh 3 thứ trí tuệ mà chỉ có nơi Ngài đó là:
01/12/201907:47(Xem: 309)
“Thế Tôn lời dạy tỏ tường Năm điều quán tưởng phải thường xét ra Ta đây phải có sự già Thế nào tránh thoát lúc qua canh tàn Ta đây bệnh tật phải mang Thế nào tránh thoát được an mạnh lành
26/11/201915:46(Xem: 830)
Thông thường ở đời chẳng ai muốn gặp phải nghịch cảnh, chướng duyên cả, tâm lý chung của con người vốn là tránh khổ tìm vui, đó là tâm lý tự nhiên muôn đời. Song, với hành giả tu Phật thì nên nhận định rõ rằng có những nỗi khổ trong đời con người ta '' chạy trời
19/11/201918:29(Xem: 584)
Khóa Tu Thanh Lọc Thân Tâm năm 2020 tại Úc Châu do TT Thích Tâm Thành hướng dẫn. Phật tử Tu Viện Quảng Đức xin hoan hỷ liên lạc Đạo hữu Hồng Hạnh (Mob:0402 741 639) để ghi danh ngay từ bây giờ. Hoặc email: quangduc@quangduc.com
15/11/201921:12(Xem: 501)
Cuộc sống của con người và vạn vật chung quanh biến đổi từng giờ từng phút theo không gian và thời gian. Không hề có bất kỳ sự kiện hay sự vật nào tồn tại vĩnh viễn. Giáo lý nhà Phật gọi tình trạng đó là Vô thường.
10/11/201909:16(Xem: 1749)
Trong những ngày vừa qua, Phật tử xuất gia cũng như tại gia, trong nước cũng như ngoài nước đã mạnh mẽ lên tiếng chống đối, phản biện, lên án, góp ý với một giáo sư trường đại học Khoa Học và Xã Hội Việt Nam tại Sài Gòn về thái độ cùng với lời phát biểu trực tiếp, công khai mạ lỵ và chống báng giới tu sĩ Phật giáo. Nhân vật đối tượng của sự phản đối đó là ông Dương Ngọc Dũng, có học vị tiến sĩ ngành học tôn giáo (Ph.D in Religion) tại trường đại học Boston (Boston University), Hoa Kỳ.