Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

02. Tôn Giáo và dân tộc

16/01/201202:11(Xem: 6756)
02. Tôn Giáo và dân tộc

TÔN GIÁO VÀ DÂN TỘC
Tuệ Minh Đạo Nguyễn Đức Can

CHƯƠNG I
TÔN GIÁO VÀ DÂN TỘC

Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ Việt Nam đã tạo dựng được một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, xuyên suốt chiều dài lịch sử, văn hóa Việt Nam luôn có sự giao lưu với văn hóa của nhiều quốc gia khác.

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội văn hóa, nên nó cũng tuân theo qui luật vận hành của văn hóa nói chung. Có những tôn giáo ra đời và phát triển trong lòng dân tộc (nội sinh), có những tôn giáo từ các dân tộc khác du nhập vào (ngoại nhập). Đó là tình hình chung về tôn giáo ở hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi nước có một đặc thù riêng của mình. Quí độc giả hãy cùng tôi điểm qua về các tôn giáo trong nước.

Trong phạm vi bài này tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến “Văn hóa Phật Giáo và dân tộc”, để quí độc giả tìm hiểu khái quát về Phật Giáo đã du nhập vào Việt Nam từ bao giờ? nguồn gốc của đạo Phật ra sao? và đã Việt Nam hóa văn hóa Phật giáo như thế nào?. Phật Giáo đã gắn liền theo dòng lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt bằng các hình thức gì?

* PHẬT GIÁO:

Thủy tổ của Phật giáo là Thích-Ca Mâu-Ni (nguyên tên là Tất-đạt-đa, Sidharta), sinh vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước công nguyên ở Ấn Độ, (cùng thời với Khổng Tử). Ngài là con vua nước Gia-Tỳ-La (Kapila). Năm 19 tuổi ngài bất mãn với chế độ giai cấp chủng tính ở đương thời, và thấy đời người ta có những nỗi khổ vì sinh, lão, bệnh, tử, bèn từ cha mẹ, biệt vợ con, bỏ cái giàu sang ở chốn cung đình vào Tuyết Sơn đi tu, đến năm 35 tuổi thì ngài được chính giác, nghĩa là ngài được thành Phật ở gốc một cây bồ đề trên bờ sông Vi-liên-thiền. Đời sau gọi chỗ ấy là “Bồ-đề đạo tràng” (Bodhi-manda, hay là kim-cương tọa (Vadjrasana). Từ đó, ngài chu du khắp các nước ở lưu vực sông Hằng để truyền giáo thuyết pháp trong hơn 40 năm. Cuối cùng ngài đến một vườn cây ở gần thành Câu-thi-na-kiệt (Kusinagara) rồi chết. Sách Phật gọi là viên tịch hay nhập niết bàn.

Việt Nam nằm trên đường giao lưu Ấn Độ và Trung Hoa. Khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền ra nước ngoài theo hai đường Nam, Bắc thì Việt Nam tiếp xúc được với cả hai con đường truyền bá đó. Sử sách ghi năm 159 là năm đầu tiên người nước Thiên Trúc (tức Ấn Độ cổ đại) đến miền Trung Việt Nam. Năm 161 họ lại đến, hiện còn các chứng tích về một nhà tu hành Ấn Độ tên gọi Khâu Đà La (Kaudra hay Ksudra) đến tu hành tại Dâu (tỉnh Bắc Ninh) lập nên Sơn Môn Dâu vào khoảng năm 187, đến năm 189. Như vậy, Phật giáo đã có thể du nhập trực tiếp từ Ấn Độ qua đường biển đến Việt Nam trong khoảng 159 đến năm 189 sau Công nguyên, chủ yếu là dòng Nam Tông,

Phật Giáo Bắc Tông ở Trung Quốc cũng đến Việt Nam và dưới ảnh hưởng này, tầng lớp Tăng lữ Việt cũng đã đóng góp vào kho tàng văn hóa Phật giáo, với những nhà sư nổi tiếng như Mâu Bác Khương, Tăng Hội... Đặc biệt một thời gian dài, dưới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần... (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 14). Phật giáo đã phát triển đến mức cực thịnh, trở thành quốc đạo, đóng góp rất lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhiều nhà sư đã trực tiếp tham gia công việc triều chính như các sư Khuông Việt đời Đinh và tiền Lê, Pháp Thuật đời tiền Lê, Vạn Hạnh đời Lý... Vua Lý Thái Tông cũng là một chú tiểu chùa Tiên Sơn. 

Lý Nhân Tông, Lý Thánh Tông, tuy không xuất gia nhưng tham gia hai phái Thiền Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Đời nhà Trần Vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông đều là những nhà Phật Học lỗi lạc. Bản thân Vua Trần Nhân Tông, sau khi chiến thắng Nguyên Mông đã xuất gia sáng lập phái Thiền Trúc Lâm. Thời kỳ này, Chùa trở thành trung tâm văn hóa của làng xã, nhà sư là người hướng dẫn giáo dục về văn hóa, đạo đức, cho nhân dân.

Có thể nói rằng suốt đời Lý và hầu hết đời Trần, Phật giáo được coi là quốc giáo nên hoạt động rất sôi nổi khắp nơi. Làng nào cũng có chùa, có tháp, người ta học chữ, học kinh, hội hè, họp chợ. Hội chùa là một hoạt động văn hóa hơn là một hoạt động tôn giáo. Biết bao mối duyên lành được xe kết trong vườn chùa. Chùa làng quả đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã, của cả nước.

Đến thế kỷ thứ 15, Nho giáo thay chân Phật giáo trong lãnh vực thượng tầng xã hội. Phật giáo từ giã cung đình nhưng vẫn vững vàng phát triển, tiến lên trong các tầng lớp nhân dân từ thành thị đến thôn quê. Đình trở thành trung tâm hành chánh của làng, nhưng chùa vẫn là niềm tin và hy vọng của người dân.

Tiếp theo sau đó là các tôn giáo khác như Nho giáo, Lão giáo, Khổng giáo đã du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, nhưng Phật Giáo vẫn tiêu biểu cho nền văn hóa của dân tộc Việt Nam, người dân Việt Nam vẫn duy trì mọi sinh hoạt chùa chiền và tam tạng kinh điển của Phật giáo làm nền tảng giáo dục cho nhân dân.

* NHO GIÁO: 

Ở Việt Nam trước đây có ba học thuyết tôn giáo: Nho, Phật, Đạo (Lão), thường gọi là Tam Giáo. Nho và Đạo ra đời ở Trung Quốc, từ đó trực tiếp truyền vào Việt Nam từ những ngày đầu Bắc thuộc. Nho giáo đã bắt đầu xuất hiện từ ngàn năm trước Công Nguyên nhưng chỉ đến khi có vai trò của Khổng Tử (551-478 tr, CN.) mới trở thành một hệ thống. Đó là một học thuyết đạo đức chính trị chủ trương con người sống có trách nhiệm, thương yêu con người, vì đời cứu đời, không lo nghĩ đến những chuyện không thiết thực ở kiếp sau, ở thế giới bên kia.

Mối quan tâm của họ là xã hội loạn ly do con người vì tham lam, chạy theo tham vọng nên sinh ra tranh dành, chiến tranh. Phương sách cứu đời của Nho giáo là xây dựng một xã hội hòa mục, ổn định, giống như một gia đình êm ấm cha từ, con hiếu, anh em, vợ chồng thuận hòa, trên thương dưới và dưới nghe trên.

Trật tự trên dưới thuận hòa như vậy theo Nho giáo là biểu hiện của “Đạo” trong trời đất. Thiết lập một trật tự như vậy ở khắp nơi, trong gia đình, ngoài xã hội, giữa dân với nhà nước là phù hợp với “Đạo” đó. Trong phạm vi xã hội, trật tự trên dưới căn cứ vào họ hàng thân sơ, tuổi tác lớn nhỏ và tước vị cao thấp.

Đứng đầu mọi dẫy trật tự là Thiên tử, Thiên tử là con trời là chúa tể, là cha, là thầy của mọi người. Thiên tử hay Vua đối với dân cũng như cha đối với con, có trách nhiệm thương yêu, chăm lo, nuôi nấng dậy dỗ. Mà dân đối với vua cũng như con đối với cha, có trách nhiệm phục tùng biết ơn và lo báo đáp.

Làm cơ sở cho xã hội tốt đẹp là những gia đình êm ấm là làng nước có trật tự trên dưới phân minh, là quốc gia thống nhất và ngôi Vua chính thống. Vua sắp xếp cho mọi thần dân theo phân vị mà sống: Ăn mặc, nói năng, hành động, theo lễ qui định. Để đạt đến xã hội như vậy, mọi người từ Thiên tử cho đến dân thường đều phải lo tu dưỡng đạo đức. Nhà nước phải quan tâm đến việc giáo hóa cho mọi người sống theo đạo đức, nhân nghĩa, trung hiếu, lễ nhượng, yên phận, yên mệnh.

Trị nước là công việc của người làm vua, làm quan. Theo quan niệm của Nho giáo chính là công việc của người làm cha mẹ dân: Tu thân và nêu gương, yêu thương và chăm lo cho dân, giáo hóa cho dân, giữ cương thường, đạt lên hàng đầu việc dùng Đức, dùng lễ nhạc để giáo hóa chứ không phải dùng pháp luật, thưởng phạt để cưỡng chế.

Trình bày ở trên là những nội dung chủ yếu của Nho giáo, nhưng cũng chỉ là lý thuyết và lý tưởng. Trong thực tế, các nhà nước Phong kiến khi sử dụng Nho giáo để lái học thuyết này theo mục đích của mình. Nhiều Vua chúa tận dụng chiêu bài “Mệnh Trời” che đậy các tội ác đẫm máu, lợi dụng cương vị “Con trời” để chuyên chế tàn bạo, sử dụng thuyết “Yên phận, yên mệnh” để hăm người dân trong thân phận phục tùng.

Các triều đại phong kiến Việt Nam sau khi thu về trong tay cả lãnh thổ rộng lớn với nền độc lập vững vàng, đứng trước nhiệm vụ ổn định đất nước và sẵn sàng đối phó với nạn ngoại xâm (từ phương Bắc và cả phương Nam) đều có ý thức lựa chọn Nho giáo làm quốc giáo. Từ đời Lý đã lập Văn Miếu (1070) lập Quốc Tử Giám và tổ chức thi cử (1076), mở đầu cho việc trọng dụng Nho giáo, tổ chức học hành thi cử theo Nho học. Từ đó về sau, Nho học càng ngày càng phát đạt. Những người theo Nho học, đậu đạt trong các kỳ thi được giao cho nắm giữ hầu hết các chức vụ quan trọng trong chính quyền. Nhất là từ thế kỷ thứ 15, khi Nho giáo thành độc tôn, khoa thi mở đều đặn, người đi học ngày càng đông, từ kinh đô cho đến các làng, xã hẻo lánh. Nho giáo được lựa chọn vì nhu cầu của nhà nước Trung ương tập quyền và phát triển sâu rộng nhờ chế độ giáo dục và khoa cử.

Nho giáo chiếm lĩnh đời sống tinh thần. Tư tưởng Khổng, Mạnh qua kinh, truyện theo các chú giải của các nhà Nho đời Tống được sùng bái, coi là chuẩn mực của mọi tư duy, ngôn luận và hoạt động học thuật, nghệ thuật. Tuy nhiên có nhiều nhà Nho Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Võ Trường Toản... đã không câu nệ, giáo điều theo lý thuyết Nho giáo.

Thái độ ít câu nệ về tư tưởng tôn giáo cũng lại biểu hiện trong nhân dân nhưng theo một cách khác. Người Việt Nam thờ cúng gia tiên, ứng xử trong các quan hệ gia đình, họ hàng làng xóm, với Vua, quan trong những chuẩn mực lễ nghĩa Nho giáo. Nhưng họ cũng thờ Phật, thờ Thần, thờ cúng ở đạo quán. Nói chung họ sống theo quan niệm thương người, làm việc thiện, tôn trọng kỷ cương.

Ba học thuyết tôn giáo trên đều có ảnh hưởng ít nhiều, khác nhau theo từng vùng tới các tầng lớp xã hội. Song Nho giáo bám chắc vào cơ chế chính trị xã hội, vào chế độ giáo dục khoa cử, vào tầng lớp trí thức làm chủ học thuyết, văn hóa nên có ảnh hưởng sâu sắc nhất.

Do ảnh hưởng Nho giáo, một mặt nhà nước phong kiến Việt Nam quan tâm rất sớm và rất nhiều đến việc mở mang giáo dục, chú ý đào tạo nhân tài, sưu tầm và biên soạn sử sách. Mặt khác, nhân dân vì vậy cũng trở thành hiếu học, tôn sư trọng đạo, quý trọng văn hóa. Cả hai phía góp phần làm cho Việt Nam thành nước có văn hiến sớm hơn nhiều nước khác trong vùng.

Với nền kinh tế nông nghiệp và cuộc sống định cư thành làng, Nho giáo cũng góp phần củng cố trật tự xã hội, củng cố tình làng, nghĩa xóm và khi gặp nạn nước, nhiều người vì nghĩa khí mà chiến đấu hy sinh anh hùng. Tinh thần đạo đức nhân nghĩa, hòa với truyền thống yêu quê hương, đất nước, góp phần giáo dục làm cho con người bớt tàn bạo. Mặt khác, Nho giáo cũng dạy cho con người ta thờ cúng các vị thần chính trực, bảo quốc hộ dân mà chống thờ cúng nhảm nhí.

*KY TÔ GIÁO:

Riêng về Ky-Tô-Giáo và Tin Lành đều thờ chung một vị giáo chủ đó là Chúa Jesu nhưng môn phái Ky Tô Giáo là đạo Công giáo thuộc toà thánh La mã, Rôma. Còn đạo Tin Lành là Ky Tô Giáo cải cách (hay còn gọi là Cơ-Đốc giáo). Đạo Tin Lành có cùng một giáo lý với Ky Tô giáo, nhận chúa Jesu là chúa cứu thế và thờ phượng Đức Chúa Trời. Đạo này chỉ thờ Chúa không công nhận Đức Mẹ còn đồng trinh như bên Ky Tô Giáo, họ lý luận rằng Đức Mẹ đã sinh ra Chúa Jesu thì làm gì còn đồng trinh. Các giáo sĩ Tin Lành được quyền có vợ con. Còn các hàng giáo phẩm bên Thiên Chúa không được quyền lập gia đình. Mọi nghi lễ lại phức tạp, rườm rà hơn bên Tin Lành. 

Đạo Ky-Tô-Giáo từ phương tây mới du nhập vào Việt Nam, từ thế kỷ thứ 15. Năm 1533 đến năm 1614, các giáo sĩ dòng Phranxicô thuộc Bồ Đào Nha và Daminh thuộc Tây Ban Nha đã đến Việt Nam, nhưng những giáo sĩ đó chưa biết tiếng và chưa quen thông thổ nên không đạt được kết quả. 

Từ năm 1615 đến năm 1624 các giáo sĩ dòng tên (Jésuites) Bồ Đào Nha vào Việt Nam. Những giáo sĩ này nhiều người thông thạo tiếng Việt lại hoạt động khôn khéo nên chỉ một thời gian không lâu sự truyền giáo đã đạt được kết quả, lôi kéo được khá nhiều tín đồ.

Nhưng đến năm 1664 Hội Thừa Sai truyền giáo Paris (MEF) ra đời và được Giáo hoàng giao cho độc quyền truyền đạo ở Việt Nam. Do đó, đã gây ra mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa các giáo sĩ dòng tên Bồ Đào Nha với giáo sĩ Hội Thừa Sai truyền giáo Paris. Các giáo sĩ Bồ Đào Nha không thừa nhận quyền điều khiển của hai giám mục người Pháp là Pallu và Lambert de la Motte (đã được Giáo Hoàng phong chức Giám Mục từ năm 1685). Họ kiện lên Giáo Hoàng nhưng không được.

Đến năm 1862, Giáo Hoàng ra lệnh cho các giáo sĩ dòng Tên rút hết khỏi Việt Nam. Từ đây việc truyền giáo ở Việt Nam hoàn toàn thuộc quyền Hội thừa sai truyền giáo Pháp quốc. Các Giáo sĩ Hội thừa sai truyền giáo Pháp quốc song song với việc mở mang “Nước Chúa” đồng thời phục vụ cho sự xâm lược của thực dân Pháp đến chiếm Việt Nam, biến nước Việt Nam là một thuộc địa của Pháp hàng trăm năm.

Về văn hóa do Thiên Chúa giáo du nhập từ Tây phương vào Việt Nam, nó không phù hợp với phong tục tập quán của nhân dân Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng, thí dụ như dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống hiếu hạnh, thờ cha, cúng mẹ khi quá vãng, nhưng nếu ai đã theo đạo Thiên Chúa thì chỉ được thờ một hình của Chúa, không được thắp nhang, không được thờ cúng cha mẹ, mãi đến giữa thập niên 60, giáo hội La Mã mới cho cải cách (theo đề nghị của hàng giáo phẩm Việt Nam) bằng cách được phép thờ cúng cha mẹ với mục đích để phát triển tín đồ. Trên đây chỉ là một trong hàng trăm thí dụ khác nó trái ngược với văn hóa truyền thống dân gian Việt Nam.

*ĐẠO TIN LÀNH:

Đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam từ năm 1911, lúc đầu chỉ được truyền đạo từ các vùng nhượng địa của Pháp. Đến năm 1920, mới được tự do truyền giáo ở khắp các nơi trong nước. Số tín đồ của Đạo Tin Lành hiện nay có khoảng bốn trăm ngàn tín đồ. Đạo Tin Lành là Ky-Tô-Giáo cải lương (hay còn gọi là Cơ Đốc Giáo) Đạo Tin Lành có cùng một giáo lý với Ky-Tô-Giáo, nhận Chúa Jesu là Chúa cứu thế, và thờ phụng Đức Chúa Trời, Đạo này chỉ thờ Chúa không công nhận Đức Mẹ còn đồng trinh. Các Mục Sư truyền giáo được quyền lấy vợ, có gia đình.

Trong nước ta còn hai tôn giáo phát xuất từ lòng dân tộc mà ra đó là “Cao-Đài và Hòa Hảo” nhưng kinh sách cũng dựa trên căn bản giáo lý của Đức Phật để phát triển theo chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam.

*ĐẠO CAO ĐÀI: 

Người sáng lập ra đạo này là ông Phủ Ngô Văn Chiêu, công chức ở Phú Quốc. Đạo Cao Đài còn mệnh danh là “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Ra tuyên ngôn chính thức thành lập ngày 7 tháng 10 năm 1926 ở miền Nam Việt Nam. Thống Đốc Nam Kỳ phê chuẩn cho phép thành lập Đạo. Lễ ra mắt của đạo đồng thời cũng là lễ phong các chức sắc trong đạo, được tổ chức long trọng ở chùa Từ Lâm gần Tây Ninh trong 3 ngày 18-19-20 tháng 10 năm 1926, tại lễ này có toàn quyền Đông Dương, Thống Đốc Nam Kỳ tới dự. Ông Lê Văn Trung được tôn là Đức Giáo Tông (Người điều khiển chung, đứng đầu cửu Trùng Đài) có nhiệm vụ thi hành phép tắc của đạo Đức Giáo Tông có ba hàng chức sắc thuộc ba ngành Khổng Giáo, (mặc áo đỏ). Phật Giáo (mặc áo vàng) và Lão Giáo (mặc áo lam) phụ tá. Ba mầu đó tượng trưng cho ba uy tín, đức hạnh và sự bao dung của đạo. Đức Giáo Tông có ba vị chưởng pháp thuộc ngành lão giáo mặc áo trắng. Các nữ chức sắc cũng mặc áo trắng, các chức sắc Khổng giáo, Lão giáo đều có phần trách nhiệm riêng của mình như công tác nhân sự, tổ chức, nội vụ, tài chánh...

Trong Thánh Thất, hình tượng “Con mắt” là hình thiêng của đạo Cao Đài vì mắt là cửa sổ tâm hồn “Nhã Thị Chủ Tâm”, cần phải thấy được bản lãnh thể chân tâm để bước vào thiện nghiệp. Khi hành lễ, bức mành được kéo lên để lộ ra “Con Mắt” tối cao, có thắp một ngọn nến năm nén hương và đốt trầm. Gần đây đạo “Cao Đài” chia ra làm nhiều môn phái. Tín đồ theo đạo “Cao Đài” lan rộng ra cả miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc.

* ĐẠO HÒA HẢO:

Đạo Hòa Hảo là một tôn giáo mới ở Việt Nam, có nguồn gốc từ Đạo Phật. Giáo chủ là Huỳnh Phú Sổ, quê ở làng Hòa Hảo, huyện Tân Châu, An Giang, sáng lập ra đạo này lúc 21 tuổi (1939). Tên của Đạo lấy tên quê của Giáo Chủ. Mặt khác tên của đạo cũng nói lên tôn chỉ, mục đích hướng đến sự hoà thuận. Tuy là một tôn giáo mới, nhưng đạo Hoà Hảo đã tập hợp được nhiều tín đồ ở miền Tây Nam bộ. Nền tảng của triết lý Phật Giáo Hòa Hảo là lý tưởng từ bi, bác ái, đại đồng và luật nhân quả của nhà Phật. Phật Giáo Hòa Hảo bài trừ những điều mê tín, dị đoan. Không sử dụng thịt, cá cúng Phật và không dùng giấy tiền, vàng bạc, phướn xá, trai đàn. Đạo Hòa Hảo không dùng hình tượng, đề cao thuyết “Phật tức Tâm” nên phương thức hành đạo giản dị.

Đạo Hòa Hảo cúng Phật bằng nước lạnh, hương (nhang) Hoa, (nước lạnh tượng trưng cho sự trong sạch, hoa tượng trưng cho sự tinh khiết còn hương để thanh trừ mọi uế tạp). Tín đồ Hoà Hảo ăn chay bốn ngày trong tháng (theo âm lịch) 14-15, 29 và 30 (nếu tháng thiếu thì lấy ngày mồng một tháng sau thay cho ngày 30). Khi tế lễ, nếu có hương thì tốt, trường hợp không có hương thì nguyện cũng được, miễn là tâm thành. Hiện tại tín đồ Hòa Hảo có khoảng trên một triệu người, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Nói tóm lại Đạo Phật là “Đạo Giải Thoát” mọi khổ đau của con người, đưa con người đến “Đại Giác Ngộ” để khai mở trí tuệ và đem lòng từ bi thương chúng sinh, cứu giúp sự đau khổ của mọi người, mọi loài, mọi sinh vật trên thế gian. Dùng đủ mọi phương tiện, giáo lý, kinh điển giáo huấn cho con người tự giải thoát “Vô minh” hầu đi đến giác ngộ và đem tình thương để xoá bỏ hận thù.

* ĐẠO HỒI GIÁO:

Đạo Hồi du nhập vào Việt Nam khá sớm, tín đồ Hồi Giáo ở Việt Nam khoảng vài chục ngàn người. Hầu hết trong số họ là những người Chàm, dân tộc Khmer và một bộ phận nhỏ người gốc MaLaysia, Indonesia và Nam Ấn Độ. Phần lớn tín đồ Hồi giáo sống ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ. Mọi sinh hoạt của họ vẫn duy trì những nghi lễ Hồi Giáo chung như cầu kinh Koran, thờ linh vật, kiêng ăn thịt lợn (heo), trang phục khăn chít trên đầu...
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/07/2022(Xem: 3608)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 3599)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
23/03/2022(Xem: 1163)
Tác ý là sự quyết định của tâm. Tác ý có thể xấu hay tốt, thiện hay bất thiện. Tác ý sanh lên trong lúc nào? Tác ý có thể sanh lên từ cảm giác nhưng cũng có thể sanh lên từ sự suy tưởng hay suy nghĩ của mình. Như vậy, làm thế nào để biết chắc chắn đó là tác ý? Tác ý là một cảm giác mạnh sinh khởi trong một con người. cảm giác mạnh này thôi thúc người đó phải hành động để giải quyết vấn đề. Cảm giác này được coi là tác ý vậy...
10/12/2021(Xem: 2405)
Trong một kiếp nhân gian, mọi chúng sinh đều khởi đầu từ sinh và kết thúc ở diệt. Có sinh, phải có diệt. Diệt là chấm dứt để trở về với cát bụi, khép kín một vòng sinh lão bệnh tử. Tứ là sự chết, sự kết thúc. Trong Kinh Tử Pháp ( Tạp A Hàm, quyển 6, số 121, 雜阿含經 第6卷,一二一,死法), Phật dạy các đệ tử chánh tư duy về vô thường trong sinh tử để không dính mắc, không chấp giữ mà đạt đến giác ngộ Niết Bàn.
27/11/2021(Xem: 1559)
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật học và văn học.
24/11/2021(Xem: 1899)
Tôi nhớ lại có lần Nữ cư sĩ Clair Brown, Giáo sư Tiến sĩ từ Trường đại học California – Berkeley (UC Berkeley) đã đề cập với tôi về một thứ gọi là “Kinh tế học đạo Phật” (Buddhist economics).
23/11/2021(Xem: 2873)
Đề tài diễn giảng chuyên môn đầu tiên "Phật giáo và Tâm lý trị liệu" (佛教與心理療癒) của Kế hoạch nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đại học Phật Quang Sơn tổ chức tại sảnh Vân Thủy, ngày 17 tháng 11 vừa qua, tiếp đến chủ đề "Tu hành và Chuyển hóa - Đối thoại giữa Tu thiền và Tư vấn Tâm lý" (修行與轉化 禪修與心理諮商的對話), do Thạc sĩ Dương Bội (楊蓓), Chủ nhiệm Khoa Giáo dục đời sống thuộc Học viện Dharma Drum Institute of Liberal Arts (法鼓文理學院); Giáo sư Quách Triều Thuận (郭朝順), người Tổng chủ trì Kế hoạch nghiên cứu, Viện trưởng Học viện Phật giáo Phật Quang Sơn chủ trì. Gần 70 vị Giáo sư nổi tiếng, thuộc Khoa Phật học, Khoa Tâm lý học, Học viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tham dự buổi tọa đàm đầy ý nghĩa.
14/11/2021(Xem: 8643)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
08/11/2021(Xem: 7062)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
05/09/2021(Xem: 9404)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,504,182