Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

05. Tứ thần túc

19/02/201108:10(Xem: 5554)
05. Tứ thần túc

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

TỨTHẦN TÚC
(Catvāra-ṛddhipādāḥ)

Tứthần túc là hành pháp thứ ba sau Tứ niệm trụ và, Tứ chánhcần thuộc bảy hành phẩm trong ba mươi bảy phẩm đạo. Haihành phẩm đầu nghiêng hẳn về phần phát triển trí tuệhơn là định, để cân bằng về hai mặt định tuệ nên cầnphải phát triển định trong chiều hướng quân bình này, hànhgiả phải cần Tứ thần túc để nhiếp tâm. Thần ở đâychỉ cho cái đức linh diệu, còn túc tức là chỉ cho địnhlà nền tảng chỉ nơi nương tựa để phát sinh quả đứclinh diệu. Đây là bốn pháp thiền định, là bốn thứ phươngtiện giúp hành giả thành tựu các tam-ma-địa (samadhi-chánhđịnh). Theo luận Câu xá 25: "Vì sao định gọi là thần túc?Vì các công đức lỉnh diệu thù thắng đều nương nơi bốnpháp này mà định được thành tựu".

Tứthần túc còn gọi là Tứ như ý túc, ở đây có nghĩa làmọi thành tựu được theo như sở nguyện của hành giả khitu tập bốn pháp này. Tứ thần túc phạn ngữ gọi là catvāra-ṛddhipādāḥ,pāli gọi là cattāro iddhi-pādā, là bốn pháp làm nền tảng,nơi nương tựa phát sinh ra các thứ công đức thiền địnhcho hành giả và, kết quả của chúng theo như ước muốn củangười tu tập. Theo luận Trí Độ 19: “Hỏi: Trong Tứ niệmxứ, tứ chánh cần đã có định, tại sao không gọi là nhưý túc? Đáp: chúng tuy có định, nhưng định lực rất yếu,còn trí tuệ tinh tấn lực thì nhiều, nên hành giả khôngđược như ý nguyện. Bốn loại định đó là Dục làm chủsẽ đắc định, Tinh tấn làm chủ sẽ đắc định, Tâm làmchủ sẽ đắc định, tư duy làm chủ sẽ đắc định”. Nhờsức mạnh của bốn pháp này dẫn phát các loại thần dụngmà sản sinh ra tam-ma-địa (chánh định).

Bốnđịnh ấy là:

Dụcthần túc
Tinhtấnthần túc
Tâmthầntúc
Quánthầntúc.

1.Dục thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơn thìgọi là Dục tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần túc (Srt:chanda-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli:chanda-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda) Thiềnđịnh phát khởi là nhờ sức mạnh của ý muốn tư tưởngmà đạt được thần thông. Dục ở đây chỉ cho ước muốn,mong cầu một cách thiết tha, mong muốn đạt được nhữnggì đang ở ngòai tầm tay hành giả; hay mong cầu những ướcmuốn của chúng ta cho đến khi đạt được những sở nguyệnđó mới thôi, theo nghĩa dục như ý túc. Ở đây chúng ta phảiphân biệt được những mong muốn này chúng theo chiều hướngnào? Chúng câu hữu với giải thoát hay vô minh? Tại sao đứcĐạo sư lại dạy cho chúng ta thực hành "dục", theo phươngpháp này, trong khi ở nơi khác Ngài dạy dục là pháp đứngvào hàng thứ nhất của căn bổn sinh tử hành giả phải tránh?Rõ ràng ở đây, đức Đạo sư đã đứng trên chiều hướnggiải thóat để đưa hành giả đến Thánh đạo thì, đâydục là con đường hướng thượng đưa chúng ta đi đến conđường giải thoát của các bậc Thánh, chứ không phải conđường đưa chúng ta đi vào sinh tử luân hồi. Vậy dục,mong muốn ở đây chúng câu hữu với giải thóat chứ khôngphải câu hữu với vô minh, hậu quả tất yếu của sinh tửluân hồi.

Quanhững phân biệt trên, cho chúng ta nhận thức được mộtcách rõ ràng rằng tánh chất của dục ở đây, chúng mangmầm móng hướng thượng giải thoát; vì vậy cho nên chúngđi ngược lai với những thứ mong muốn dục vọng thấp hènđể thỏa mãn thú tánh, những tham vọng trói buộc thế gian,đó là thứ dục của tội lỗi, chúng ta nên diệt trừ tậngốc rễ. Vì vậy những mong muốn hướng thượng, giải thóat,an vui, như mong muốn sống một cuộc sống tốt đẹp, thanhcao, hay mong muốn đạt được giải thoát, ra ngoài biển khổsanh tử thì, đó là những thứ mong muốn hợp tình hợp lý,đức Đạo sư luôn luôn khuyến khích chúng ta nên nổ lựcthực hành những pháp như vậy, như dục thần túc này chẳnghạn. Hành giả mong muốn thành tựu pháp thiền định mà mìnhđang tu, thì trước hết phải thiết lập dục nguyện và nổlực thực hành mong đạt đến cứu cánh mà mình đã chọnnhư chứng đạt các Thánh quả. Thứ mong muốn này rất cầnthiết cho hành giả trong lúc thực hành; nếu không có chúngmột cách thiết tha, mãnh liệt thì, chúng ta khó mà đạt đượccứu cánh giải thoát. Thật ra, bản thân của dục tự nókhông tốt, không xấu, không thiện, không ác, không đúng khôngsai, những chúng sẽ trở nên tốt xấu, thiện ác, đúng sai,khi con người áp đặt lên nó những cái đó rồi hợp thứchóa cho nó những cái mà chính nó không có, để rồi từ đódục trở nên hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc thiện, hoặc ác,hoặc đúng hoặc sai … Ở đây, đức Đạo sư không bao giờchủ trương diệt dục, mà Ngài chủ trương hành giả muốngiải thóat thì trừ bỏ dục vọng câu hữu với vô minh, vìdục câu hữu với vô minh là dục xấu, dục, bất thiện,dục sai, chúng sẽ đưa hành giả đến bến bờ sinh tử luânhồi khổ đau, còn ngược lại nếu muốn giải thóat tấtcả những khổ đau của sinh tử luân hồi thì, hành giả phảichuyển đổi trừ đi những thứ dục câu hữu với vô minhthành dục câu hữu với giải thóat. Vậy diệt dục ở đâytức là diệt dục vọng, diệt những mong muốn xấu xa thấphèn, làm cho hành giả phải đọa vào các hàng súc sanh, địangục, ngạ quỷ, chứ đâu có diệt luôn cả những dục nguyện,những mong ước hiền thiện tốt đẹp của hành giả. Nhưvậy chí nguyện, dục nguyện của hành giả về ý muốn tưtưởng để phát khởi thiền định đạt được thần thônglà mong muốn hướng thượng giải thóat hành giả cần phảinuôi dưỡng và nổ lực thực hành cho đến khi nào đạt đượcnhư những mong muốn của mình mới được. Đây là pháp tuthứ nhất của tứ thần túc.

2.Tinh tấn thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơnthì gọi là Tinh tấn tam-ma-địa đọan hành thành tựu thầntúc (Srt: virya-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda,Pāli: virya-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda) Thiềnđịnh phát khởi là nhờ vào sức tinh tấn nổ lực tu tậpcủa hành giả. Khi hành giả đã có mong cầu ước muốn rồimà không có sự tinh tấn nổi lực để thực hành tutập thì ước muốn đó cũng thành vô dụng, chỉ có trênlý thuyết thôi, mà trong thực tế thì là con số không. Dođó tinh tấn nổ lực là điều kiện tất yếu để hòan thànhbổn nguyện của hành giả. Siêng năng thực hành tu tập lànhân tố thứ hai sau mong cầu ước muốn để cho hành giảhòan thành kết quả tốt đẹp sau này. Sự mong muốn củachúng ta dù tốt đẹp đến đâu đi nữa mà cá nhân mỗi ngườikhông tự nổ lực siêng năng, bền lòng vững chí tin tưởngvào pháp tu của mình để thực tập cho mình thì, cho dù chúngta có hàng trăm ước muốn mong cầu tốt đẹp đi nữa, màkhông tinh cần tinh tấn nổ lực thực hành tu tập thì, nhữngmuốn đó muôn đời cũng chỉ là ước muốn suông, cũng chỉlà những ước muốn trên lý thuyết mà thôi.

Ởđây, tinh tấn siêng năng nổ lực không phải chỉ là sựhắng hái, bồng bột trong nhất thời, như ngọn lửa rơm cháybùng lên rồi sau đó tắt liền, mà sự tinh tấn nổ lựcở đây phải miên mật, lúc nào cũng thực tập không bao giờgián đoạn. Trong kinh Di Giáo đức Đạo sư có dạy: "...Nhưngười dùi cây lấy lửa, cây chưa nóng đã thôi, tuy muốnđược lửa, nhưng khó thể được".

Sựsiêng tinh tấn tu tập của hành giả ở đây cũng vậy, khôngnên như người dùi cây tìm lửa kia. Muốn đạt được thiềnđịnh thì, lúc nào cũng phải siêng năng tinh tấn nổ lựcliên tục và đầy đủ mới đạt được kết quả như chúngta mong muốn.

3.Tâm thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơn thìgọi là tâm tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần túc (Srt:citta-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli:citta-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda) Thiền địnhphát sinh nhờ sức mạnh của tâm niệm. Một lòng chuyên nhấttrụ nương vào sức mạnh của tâm, nên định dẫn phát màkhởi lên. Như mặt trời tia sáng chiếu khắp mọi nơi, ánhsáng của nó bị yếu dần đi và, trở nên hòa dịu khôngthiêu đốt vạn vật được. Nhưng nếu tia sáng mặt trờikia mà qua thấu kính hội tụ thì nó có thể thành lửa thiêuđốt bất cứ thứ vật chất nào trên thế gian này. Hay nhưgiòng sông lớn, nếu bị chia làm nhiều giòng chảy nhỏ thìsức chảy của nó bị yếu đi. Trái lại, chỉ một giòngsuối nhỏ, không chảy nhiều đường, cũng đủ sức xuyênthủng đá tảng. Hành giả tu tập cũng lại như vậy, khi tâmmình định nhất vào một đối tượng nào đó một cách chuyênnhất thì, vọng tâm sẽ không khởi lên được và không bịtán loạn, khi đó không việc gì không thành tựu. Phật códạy trong kinh Di giáo: "Chú tâm nhất xứ vô sự bất biện:Chú tâm vào một chỗ, không việc gì không thành".

4.Quán thần túc, nói cho đầy đủ và chính xác hơn thìgọi là quán tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần túc (Srt:vīmāṃsā-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda,Pāli: vīmaṃsā-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda),Thiền định phát sinh nhờ sức mạnh tư duy quán sát Phậtlý. Hành giả nương vào sức mạnh tư duy quán sát nên địnhdẫn phát mà sinh khởi.

Quánlà dùng trí tuệ quán sát tư duy lý pháp mình đang tu và, nhờđó mà định phát sinh và, khi định đã có thì định tuệquân bình. Khi quán trí này do định phát sanh thì, trí nàylà tịnh trí, chính vì nhờ tịnh cho nên nó có thể thôngđạt thật nghĩa của các pháp trong vũ trụ một cách nhưthật. Đó là bốn pháp thần túc thông dụng mà chúng ta thườnggặp.

Ngoàira theo Câu xá quang ký 25 thì: “Bốn pháp này theo vị gia hạnhmà thành lập tên thì:

1/Dục thần túc, ở đây dục đối với vị của gia hạnh màkhởi lên định nầy, vì nương vào sức sức mạnh của dục,nên định dẫn phát mà khởi lên.

2/Cần thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh mà siêngnăng tu tập định này, nhờ nương vào sức mạnh của siêngnăng tinh tấn nên định dẫn phát mà khởi lên.

3/Tâm thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh nhất tâmchuyên trụ, nhờ nương vào sức mạnh của tâm, nên địnhdẫn phát khởi lên.

4/Quán thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh, quánsát tư duy lý, nhờ nương vào sức mạnh của quán, nên địnhdẫn phát mà khởi lên.

Trongđịa vị của gia hạnh tuy có nhiều pháp, nhưng bốn phápnày là lợi ích tối thắng. Cho nên từ bốn pháp này mà gọitên”.

TheoPháp giới thứ đệ sơ môn, phần cuối quyển trung của ngàiTrí khải Đại sư thì, ở trong Tứ niệm xứ là thật tu trítuệ, trong Tứ chánh cần là chính tu tinh tấn, như vậy ởđây tuệ nhiều, định ít, nên nay phải nhiếp tâm tu bốnloại thiền định để quân bình định tuệ, mọi sở nguyệnđạt được, cho nên gọi là như ý túc. Qua những kinh luậntrên cho chúng ta nhận thức rằng đức Đạo sư đã sắp xếpmọi pháp có trước có sau theo thứ tự những đối tượngdục, tinh tấn, tâm và quán làm nền tảng cho hành giả tutập thiền định trong việc cân bằng định tuệ và thànhtựu theo như sở nguyện của chúng ta đều được gọi lànhư ý túc, vì chúng là những đối tượng để cho tất cảmọi thứ công đức tu hành, thần lực nương vào đó mà phátsanh, và thành tựu theo như ý muốn của hành giả. Bốn phépnầy tuy là bốn nấc thang thứ tự theo nhau, đưa hanh giảtừ cái nhân hữu lậu mê mờ, đến cái nhân vô lậu giảithoát. Trước hết, do thường mong muốn (dục), cho nên siêngnăng nổ lực tu tập dũng mãnh (tinh tấn); nhờ sự tinh tấntu tập dũng mãnh, nên phiền não được tiêu trừ, nhờ vậymà tâm được chuyên nhất (tâm), nhờ tâm chuyên nhất nênquán trí được thanh tịnh (quán), để trở thành năng lựcphá tan gốc rễ vô minh. Nhưng trong thực tế khi hành giảtu tập, chúng phải đồng lúc hiện hữu theo luật tắc duyênkhởi.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2022(Xem: 497)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 827)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 590)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 1083)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 4154)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 4120)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
23/03/2022(Xem: 1616)
Tác ý là sự quyết định của tâm. Tác ý có thể xấu hay tốt, thiện hay bất thiện. Tác ý sanh lên trong lúc nào? Tác ý có thể sanh lên từ cảm giác nhưng cũng có thể sanh lên từ sự suy tưởng hay suy nghĩ của mình. Như vậy, làm thế nào để biết chắc chắn đó là tác ý? Tác ý là một cảm giác mạnh sinh khởi trong một con người. cảm giác mạnh này thôi thúc người đó phải hành động để giải quyết vấn đề. Cảm giác này được coi là tác ý vậy...
10/12/2021(Xem: 2611)
Trong một kiếp nhân gian, mọi chúng sinh đều khởi đầu từ sinh và kết thúc ở diệt. Có sinh, phải có diệt. Diệt là chấm dứt để trở về với cát bụi, khép kín một vòng sinh lão bệnh tử. Tứ là sự chết, sự kết thúc. Trong Kinh Tử Pháp ( Tạp A Hàm, quyển 6, số 121, 雜阿含經 第6卷,一二一,死法), Phật dạy các đệ tử chánh tư duy về vô thường trong sinh tử để không dính mắc, không chấp giữ mà đạt đến giác ngộ Niết Bàn.
27/11/2021(Xem: 1695)
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật học và văn học.
24/11/2021(Xem: 2117)
Tôi nhớ lại có lần Nữ cư sĩ Clair Brown, Giáo sư Tiến sĩ từ Trường đại học California – Berkeley (UC Berkeley) đã đề cập với tôi về một thứ gọi là “Kinh tế học đạo Phật” (Buddhist economics).
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,275,153