Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

04. Tứ chánh cần

19/02/201108:10(Xem: 5768)
04. Tứ chánh cần

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

TỨCHÁNH CẦN
(Catvāriprahāṇāni)

TứChánh Cần là hành phẩm thứ hai trong bảy hành phẩm trợđạo của ba mươi bảy phẩm đạo, là bốn phương tiện siêngnăng tinh cần trong nổ lực hằng ngày qua hiện quán ngăn ngừacác việc ác tâm chưa phát sinh và, không tái phạm những việcác lỡ đã phát sinh bằng vào ý nghĩ hay hành động tạo táccủa thân hay miệng, cùng lúc hiện quán thực hành các việcthiện chưa phát sinh cho phát sinh và, việc thiện đã-đangphát sinh trong nổ lực tiếp nối tu tập theo luật tắc nhânquả qua việc chỉ ác hành thiện.

Tứchánh cần, Sanskrit gọi là Catvāri prahāṇāni; Pāli gọi làCattāri sammappadhānāni. Có chỗ gọi là Tứ chánh đoạn, Tứý đoạn, Tứ ý đoan, Tứ chánh thắng hay Tứ đoạn. Chữcần và chữ đoạnở đây Theo Pāli có nghĩa là pahāna-padhāna(tinh cần để đoạn trừ) tức là dùng bốn pháp này trongviệc siêng năng tinh tấn (cần) để có thể đoạn trừ (đọan)ác cùng mọi sự giải đãi biếng nhác của chúng ta trong việchành thiện. Về chỉ ác thì dùng mọi sự siêng năng tinh tấncủa mỗi chúng ta vừa nổ lực đọan trừ những việc ácmà chúng ta đã lỡ làm ra và dứt khóat không bao giờ táiphạm và, nổ lức siêng năng tinh tấn trong việc ngăn ngừanhững việc ác chưa phát sinh ra ngay từ trong ý nghĩ, khôngcho chúng phát sinh ra trong tự ý (ý hành) và ngoài hành độngcủa thân (thân hành) của miệng (khẩu hành) làm di hại tựchúng ta và cho người khác. Về hành thiện thì hành giả chúngta cũng dùng siêng năng tinh tấn trong việc vừa khơi dậy nhữngviệc làm thiện chưa phát sinh ra trong ý nghĩ thì khiến chochúng phát sinh ra trong tự ý và thể hiện ra ngoài bằng nhữnghành động của thân mình và miệng mình, đồng thời cũngdùng siêng năng tinh tấn trong việc tiếp tục tiếp nối làmcho những việc làm thiện đã-đang phát sinh tăng trưởng ngàycàng nhiều hơn trong việc lợi mình lợi người. Đó là ýnghĩa của Tứ chánh cần hay Tứ chánh đoạn trong việc chỉác hành thiện lợi mình lợi người trong cuộc sống.

PhápTứ chánh cần này được đức Đạo sư dạy cho môn đồcủa mình rất nhiều cũng tùy theo trình độ căn cơ của hàngđệ tử mà Ngài chỉ dạy. Pháp này được ghi lại rải ráctrong ba tạng giáo điển khởi nguyên cũng như phát triển saunày rất nhiều, như trong Trung A-hàm q . 21, q . 52; Tạp A-hàmq . 26, 30, 31; Tăng Nhất A-hàm q . 18. Ở đây chúng tôi xin ghilại một số kinh luận tiêu biểu và thông dụng.

Căncứ vào Pháp giới thứ đệ sơ môn (phần cuối của quyểntrung) thì Tứ chánh cần được ghi lại như sau:

1.Vì muốn đoạn trừ những việc ác đã sinh, mà siêng năngtinh tấn.

2.Vì muốn khiến cho những việc ác chưa sinh không cho phát sinh,mà siêng năng tinh tấn.

3.Vì muốn khiến cho những điền thiện chưa phát sinh có thểphát sinh, mà siêng năng tinh tấn.

4.Vì muốn khiến cho những điều thiện đã phát sinh có thểlàm tăng trưởng hơn lên, mà siêng năng tinh tấn.

Nhờnổ lực một lòng siêng năng tinh tấn hành bốn pháp này chonên gọi là Tứ chánh cần.

Nhưngtheo Kinh Trung A-hàm 21 Hán tạng Kinh Thuyết Xứ 86, tương đươngvới Trung bộ kinh bên Pāli tạng M. 148 Chachikka-suttaṃ, đứcĐạo sư dạy cho người đệ tử thân cận của mình rằng:

“A-nan,trước kia Ta đã nói cho ông nghe về bốn chánh đoạn, Tỳ-kheođối với pháp ác bất thiện đã sanh, vì để đoạn trừchúng nên khởi ước muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hếttâm, đoạn trừ. Đối với các pháp ác bất thiện chưa sanh,vì để chúng không phát sanh nên khởi ước muốn, nỗ lựchành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạn trừ. Đối với các phápthiện chưa sanh, vì để cho phát sanh nên khởi ước muốn,nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạn trừ. Đối vớicác pháp thiện đã sanh, vì để chúng kiên trụ, không bịquên lãng, không bị thoái hóa, được bồi bổ tăng tiến,được phát triển rộng rãi, được viên mãn cụ túc, nênkhởi ước muốn, nỗ lực hành, tinh cần, dốc hết tâm, đoạntrừ. A-nan, bốn chánh đoạn này, ông hãy nói để dạy chocác Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và dạy cho các Tỳ-kheo niênthiếu về bốn chánh đoạn này, họ sẽ được an ổn, đượcsức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọnđời tu hành phạm hạnh.”

Ởđây, đức Đạo sư cũng đứng trên lập trường nhân quả‘Chỉ ác hành thiện’ mà Ngài dạy cho chúng đệ tử củamình phương pháp nổ lực siêng năng tinh tấn đoạn trừ:Một mặt ác đã sinh và chưa sinh, đoạn trừ chúng bằng cáchkhông được tái phạm cùng, nổ lực ngăn ngừa không cho phátsinh và, mặt khác siêng năng tinh tấn đọan trừ ma tâm biếngnhác, nổ lực phát huy nuôi dưỡng lớn thêm hơn, thành tựunhững điều thiện đã phát sinh rồi và, nổ lực khởi phátnhững ước muốn, trạo điều kiện để cho những điềuthiện chưa phát sinh xuất hiện trong cuộc sống, sinh hoạthằng ngày của mỗi hành giả chúng ta, ngày càng hòan thiệnhơn. Đây là bốn phương tiện được đức Đạo sư chỉdạy cho tôn giả A-nan để dạy lại cho những Tỳ-kheo cònnhỏ tuổi một cách tổng quát được áp dụng hằng ngàytrong hiện quán qua việc đoạn trừ ác pháp và nuôi lớn hànhthiện.

Ởchỗ khác như trong kinh Tăng nhất A-hàm 18, tương đương Tứchánh cần Pāli, D 33 Saṅgīti (R. iii.221) Cattāro Sammappadhānā.Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

«Tỳ-kheokhông phóng dật tu bốn ý đoạn, tu tập nhiều tứ ý đoạn.Những gì là bốn? Ở đây, Tỳ-kheo, pháp tệ ác chưa sanh,tìm cầu phương tiện khiến không cho sanh, tâm không rời xa,hằng muốn khiến nó không sanh. Pháp tệ ác đã sanh, tìm cầuphương tiện khiến diệt, tâm không xa lìa, hằng muốn khiếndiệt. Pháp thiện chưa sanh, tìm cầu phương tiện khiến sanh.Pháp thiện đã sanh, tìm cầu phương tiện khiến tăng nhiều,không để thoái thất, tu hành đầy đủ, tâm ý không quên.”Trong kinh này tuy ngoài hình thức lời dạy có khác, nhưng vềý nghĩa thì cũng như các kinh trên nhằm lọai bỏ trước hếtlà ba nghiệp ác của thân khẩu ý trong tác nhân trực tiếpsinh ra quả khổ cho tương lai gần và xa theo nhân quả nhịnguyên và, mặc khác hòan thành tác nhân thiện cũng thuộcba nghiệp thân khẩu ý trong việc hoàn thành quả vui gần hayxa trong tương lai dành cho những căn cơ còn lệ thuộc vàoba cõi sáu đường luân hồi sinh tử. Ở đây đức Đạo sưcũng đặt nặng vấn đề cần thiết của mọi sự nổ lựctinh cần đoạn trừ pháp ác bất thiện không cho sinh, nếulỡ đã phát sinh rồi thì vẫn phải nổ lực ăn năng hốilỗi không tái phạm lại nữa, và canh giữ cái tâm của hànhgiả trong mọi ý nghĩ mọi hành động một các liên tục trongviệc làm thanh tịnh hóa ba nghiệp ác và, hòan thành ba thiệnnghiệp một cách đầy đủ cũng qua ba nghiệp thân khẩu ý.

Cũngtheo Tăng nhất A-hàm 18 thì bốn chánh đọan nếu tu tập thựchành đầy đủ thì tâm ý không quên; tức là trong ý lúc nàocũng nhất quyết thực hành việc đoạn trừ ác pháp và thựchành thiện pháp. Cho nên gọi Tú ý đọan. Ngoài ra đối vớitrong ba nghiệp thân khẩu ý nó rất cần mọi sự nổ lựcsiêng năng đọan trừ trong việc chỉ ác hành thiện. Như vậyTứ chánh đoạn là tối thắng, cho nên nó cũng được gọilà Tứ chánh thắng.

Vàcũng như ý nghĩa của các kinh trên, nhưng tiến lên một bậcnữa, dức Đạo sư theo căn cơ của môn hạ mình dạy vềbốn pháp này chi tiết hơn như trong kinh Tạp A-hàm 31 thuộcHán tạng, tham chiếu S. 49.1-12. Gaṅgā-peyyāla, tươngđương Cf. D. 33. Saṅgīti, của Pāli.thì bốn chánh đoạn nàyđược đức Đạo sư dạy và có những cách đặt tên chobốn hình thức này cùng mỗi ý nghĩa của chúng định nghĩakhác nhau trên hình thức khi Ngài dạy cho các đồ đệ củamình từ kinh 875-879. Trong năm kinh này về hình thức tên gọicủa bốn chánh đọan này là nhất thống, nhưng trên mặtnhận thức và định nghĩa thì có khác nhau về mặt triểnkhai chi tiết và đi sâu hơn những kinh mà chúng tôi vửa đềcập đến.

Bấygiờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Cóbốn Chánh đoạn. Những gì là bốn? Một là đoạn đoạn,hai là luật nghi đoạn, ba là tùy hộ đoạn, bốn là tu đoạn.”

“Thếnào là đoạn đoạn? Tỳ-kheo, pháp ác bất thiện đã khởithì đoạn trừ, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếptâm gìn giữ. Đó gọi là đoạn đoạn.

“Thếnào là luật nghi đoạn? Pháp ác bất thiện chưa khởi thìkhông cho khởi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâmgìn giữ. Đó gọi là luật nghi đoạn.

“Thếnào là tùy hộ đoạn? Pháp thiện chưa sanh thì khiến cho sanhkhởi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn giữ.Đó gọi là tùy hộ đoạn.

“Thếnào là tu đoạn? Pháp thiện đã khởi, khiến tu tập thêmích lợi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìngiữ. Đó gọi là tu đoạn.” Ở hình thức này tuy đức Đạosư có đặt cho bốn chánh đoạn này mỗi pháp một tên riêngvà, cũng theo đó mà ý nghĩa của chúng được xác lập theoý nghĩa tên gọi của chúng.

Cáchthứ nhất là đoạn đọan tức là không những đọan trừnhững pháp ác bất thiện chúng ta đã từng lỡ tạo ra bằngcách không ăn năn hối cải và đoạn trừ không cho thân miệngý tái phạm nữa. Cách thứ hai là luật nghi đọan ở đâycần siêng năng nổ lực giữ gìn tâm ý thân miệng mình khôngcho phạm phải những sai lầm chưa phát sinh bằng cách giữgìn luật nghi đối với thân miệng ý không cho phát sinh. Cáchthứ ba là tùy hộ đoạn, tức những pháp thiện thì hànhgiả phải nổ lực khiến cho sinh khởi bằng vào những ướcmuốn, bằng những nổ lực tinh cần tiến lên để đạt nhữngước muốn và nhiếp tâm giữ gìn. Cách thứ tư là tu đoạn,là những pháp thiện đã đuợc hành giả thực hành bằngvào ý nghĩ hành động của thân của miệng, không những chỉthực hành tu tập một lần mà còn nổ lực tu tập, huân tậpnhiều hơn nửa, để cho pháp thiện càng ngày càng tăng trưởngvà hòan thiện hơn trong việc thực hiện hành thiện. Và bàikinh cuối cùng của loạt kinh trên đức Đạo sư dạy về bốn chánh đọan, được Ngài triển khai khác hơn một chútvề cách phân chia cũng như tiến sâu và chi tiết hơn, trongnhững ý nghĩ cử chỉ hành động của hành giả. Ngoài nhữngchi tiết về bốn phương tiện chỉ ác hành thiện trên, ởđây chúng còn tùy thuộc vào giới của các căn thuộcluật nghi và nhờ các đối tượng cảnh bên ngòai các tướngtam-muội chân thật khi định như tướng xanh bầm, tướngsình chướng, tướng mưng mủ, tướng hoại, tướng thú ănchưa sạch mà khéo léo nổ lực bảo vệ hộ trì tu tập khôngcho thối thất. Và cuối cùng cách thứ tư được đức Đạosư chỉ cho hành giả nào tu tập bốn niệm xứ tức là thựchành tu đoạn. Đức Phật dạy:

“Cóbốn Chánh đoạn. Những gì là bốn? Một là đoạn đoạn,hai là luật nghi đoạn, ba là tùy hộ đoạn, bốn là tu đoạn.”

“Thếnào là đoạn đoạn? Tỳ-kheo, pháp ác bất thiện đã khởithì đoạn trừ, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếptâm gìn giữ; pháp ác bất thiện chưa khởi, thì không chokhởi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn giữ;pháp thiện chưa sanh, thì khiến cho sanh khởi, khởi dục, phươngtiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn giữ; pháp thiện đã sanh, thìkhiến cho tu tập thêm lợi ích, khởi dục, phương tiện, tinhcần, nhiếp tâm gìn giữ. Đó gọi là đoạn đoạn.

“Thếnào là luật nghi đoạn? Tỳ-kheo khéo phòng hộ căn con mắt,giữ kín chặt, chế ngự, tiến hướng. Cũng vậy, đối vớicác căn tai, mũi, lưỡi, thân, ý, khéo phòng hộ, giữ kínchặt, chế ngự, tiến hướng. Đó gọi là luật nghi đoạn.

“Thếnào là tùy hộ đoạn? Tỳ-kheo đối với mỗi một tướngtam-muội chân thật, như tướng xanh bầm, tướng sình chướng,tướng mưng mủ, tướng hoại, tướng thú ăn chưa sạch màkhéo bảo vệ hộ trì, tu tập, giữ gìn, không khiến cho sútgiảm. Đó gọi là tùy hộ đoạn.

“Thếnào là tu đoạn? Tỳ-kheo nào tu tập bốn Niệm xứ, thì đógọi là tu đoạn.”

Riêngbản kinh này bốn cách theo tên gọi được phân bố trở lạivà thêm vào những chi tiết rõ ràng hơn trong mỗi chức năngcủa từng tên gọi không còn như trước nữa. Chức năng củađoạn đoạn nay bao hàm cả bốn công việc cùng lúc cho việcchỉ ác hành thiện nói chung và, vai trò của luật nghi đọandành cho việc phòng hộ, giữ kín chặt, chế ngự, tiến hướngcủa các căn mắt tai, mũi, lưỡi, thân và ý thuộc về giới,trong việc tiếp xúc các cảnh bên ngoài như sắc thinh, hương,vị, xúc và pháp. Trong khi cách thứ ba dành cho định đểbảo hộ, giữ gìn trong việc thực hành lúc tu tập phải nhờvào các tướng như tướng xanh bầm, tướng sình chướng,tướng mưng mủ, tướng hoại, tướng thú ăn chưa sạch, đểhành giả quán mà đối trị các bệnh chấp về thanh tịnhcủa thân mà nhìn ra được những tuớng đó là như thậtbất tịnh. Và cách còn lại là cách quán khi hành giả tu tậpTứ niệm xứ (trụ) với mục đích đề phòng và đình chỉđể đọan trừ tất cả những tạp niệm vọng tưởng khởilên khi hành giả tu tập.

Bảnkinh này tương đương với bản Pāli: D. 33. Saṅgīti:

Đoạnđoạn: (pahāna-padhāna), tinh cần để đoạn trừ. ... Tham chiếu,

D.33. Saṅgīti: katamañc’āvuso pahāna-padhānaṃ? Idh’ āvuso bhikkhuuppannaṃ kāma-vitakkaṃ nādhivāseti pajahati vinodeti ... ở đây,tỳ kheo, dục tầm đã khởi, không thừa nhận nó, đoạn trừnó, tiêu diệt nó.

Luậtnghi đoạn: (saṃvara-padhāna), tinh cần phòng hộ (chế ngự).

Thamchiếu, D.33: katamañ c’ āvuso saṃvara-padhānaṃ: Id ‘āvuso

bhikkhucakkhunā rūpaṃ dsvā na nimittaggāhī hoti ..., Thế nào là tinhcần phòng hộ? Tỳ kheo sau khi thấy sắc bởi mắt, không chấpthủ tướng...

Tùyhộ đoạn: (anurakkhaṇā-padhāna), tinh cần thủ hộ.

Cf.D.33: katamañ c’āvuso anurakkhaṇa-padhānaṃ? Id’ āvuso bhikkhu

uppannaṃbhaddaṃ samādhi-nimittaṃ anurakkahti... Thế nào là tinh cần

thủhộ? Tỳ kheo thủ hộ định tướng (dấu hiệu của định)tốt đẹp đã khởi

lên...

Tuđoạn: (bhāvana-padhāna), tinh cần tu tập.

Cf.D.33: (...) Idh’ āvuso bhikkhu sati-saṃbojjhaṅgaṃ bhāveti ...,ở đây

tỳkheo tu tập niệm giác chi...

Đólà những kinh mà đức Đạo sư đã tùy nghi vào căn cơ củamôn đệ mà nói pháp được ghi lại. Ngoài ra chúng ta cũngtìm thấy bốn phương tiện này cũng được ghi lại trong cácbộ luận như Đại Tỳ-bà-sa luận 96; Đại Trí Độ luận19; Du-già-sư-địa luận 29, 57, 98 v.v…

Riêngở đây Theo Đại Tỳ-bà-sa luận 141 ghi lại thì bốn phươngtiện này có khả năng chính đọan trừ tất cả mọi thứphiền não. Cho nên gọi là Tứ chánh đoạn. Cũng theo bộ luậnnày thì, hai phương tiện trước liên quan đến việc đoạntrừ phiền não chướng, và hai phương tiện sau có liên quanđến việc đọan trừ sở tri chướng. Ở đây tứ chánh đọannếu theo vị của Tứ thiện căn thì bốn phương tiện nàychủ yếu đang ở trong thời gian tu tập thuộc noãn vị, tứcthuộc giai đọan phàm phu vị chuẩn bị tiến vào địa vịcủa các bậc Thánh. Đó là những gì chúng ta tìm thấy vịtrí của bốn phương tiện tu tập hành giả chúng ta, nếuhòan thành bốn phương tiện này một cách rốt ráo thì nhânđây là hành trang để hội nhập Thánh vị.

Tómlại, qua Tứ chánh đoạn này, hành giả nếu tu tập trong hiệnquán theo chỉ ác hành thiện thì quả vị của các bậc Thánhđang nằm trong tầm tay của mọi hành giả qua việc thanh tinhhóa ba nghiệp thân khẩu ý. Đây là một phương pháp khôngcó gì gọi là khó khăn cho lắm nếu hành giả nổ lực siêngnăng tinh tấn trong việc kiểm sóat ý nghĩ, hành động củamình một các miên mật để đọan trừ mọi thứ tạp nhiễmcủa vọng và, làm chủ được ý nghĩa và hành dộng củachúng ta trong việc chỉ ác hành thiện. Vì vậy cho nên KinhTứ chánh đoạn này được đức Đạo sư liệt kê vào mộttrong bảy hành pháp của Ba mươi bảy phẩm trợ đạo cầnthiết dành cho những hành giả muốn đi vào con đường Thánhđạo thật sự.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2022(Xem: 464)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 794)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 569)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 1043)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 4145)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 4109)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
23/03/2022(Xem: 1590)
Tác ý là sự quyết định của tâm. Tác ý có thể xấu hay tốt, thiện hay bất thiện. Tác ý sanh lên trong lúc nào? Tác ý có thể sanh lên từ cảm giác nhưng cũng có thể sanh lên từ sự suy tưởng hay suy nghĩ của mình. Như vậy, làm thế nào để biết chắc chắn đó là tác ý? Tác ý là một cảm giác mạnh sinh khởi trong một con người. cảm giác mạnh này thôi thúc người đó phải hành động để giải quyết vấn đề. Cảm giác này được coi là tác ý vậy...
10/12/2021(Xem: 2592)
Trong một kiếp nhân gian, mọi chúng sinh đều khởi đầu từ sinh và kết thúc ở diệt. Có sinh, phải có diệt. Diệt là chấm dứt để trở về với cát bụi, khép kín một vòng sinh lão bệnh tử. Tứ là sự chết, sự kết thúc. Trong Kinh Tử Pháp ( Tạp A Hàm, quyển 6, số 121, 雜阿含經 第6卷,一二一,死法), Phật dạy các đệ tử chánh tư duy về vô thường trong sinh tử để không dính mắc, không chấp giữ mà đạt đến giác ngộ Niết Bàn.
27/11/2021(Xem: 1689)
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật học và văn học.
24/11/2021(Xem: 2104)
Tôi nhớ lại có lần Nữ cư sĩ Clair Brown, Giáo sư Tiến sĩ từ Trường đại học California – Berkeley (UC Berkeley) đã đề cập với tôi về một thứ gọi là “Kinh tế học đạo Phật” (Buddhist economics).
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,248,799