Sáu ba-la-mật

05/12/201209:38(Xem: 4535)
Sáu ba-la-mật

phat thich ca 3

SÁU BA LA MẬT

Nguyễn Thế Đăng

Sáu ba-la-mật là Bồ-tát hạnh. Bồ-tát hạnh gồm có hai sự tích tập: tích tập phước đức là làm lợi lạc cho người khác và tích tập trí huệ là xóa tan bóng tối vô minh để đi đến sự sáng tỏ hoàn toàn của tâm thức.

Một trong vài cuốn kinh lưu hành đầu tiên ở Việt Nam (Giao Chỉ) là do một người Việt là sư Khương Tăng Hội dịch. Kinh này có thể được dịch ở Đông Ngô, nhưng chắc chắn ngài có gởi về quê hương ngài để lưu hành. Bản kinh đó là Lục Độ Tập Kinh,nói về sáu độ, tức là sáu ba-la-mật. Từ khởi thủy Phật giáo Việt Nam đã bắt đầu bằng con đường Bồ-tát hạnh, để xuất hiện những triều đại Bồ-tát như Thiền sư Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn (đời Lý), Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông (đời Trần), và con đường ấy kéo dài cho đến ngày nay, mặc cho bao nhiêu thịnh suy của đất nước.

I. Từ ngọn đến gốc

Ba-la-mật đầu tiên là Bố thí. Bố thí thì rõ ràng là sự tích tập phước đức rồi. Ba-la-mật cuối cùng là Trí huệ (hay phiên âm từ tiếng Sanscrit là Bát-nhã). Cực bên này là phước đức do bố thí bởi lòng bi. Cực bên kia là trí huệ do thực hành trí huệ quán chiếu tánh Không. Bốn ba-la-mật giữa là Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn và Thiền định đều có sự giao hòa giữa phước đức và trí huệ.

Khi đã tròn đủ sáu ba-la-mật, vị ấy có đầy đủ phước đức và trí huệ. Tâm của vị ấy là sự hợp nhất của trí huệ và đại bi.

Sự hoàn thiện phước đức và trí huệ của sáu ba-la-mật đều dựa vào luật nhân quả.

1. Bố thí ba-la-mật:Bố thí có vẻ là việc dễ làm nhất. Chưa có ai chưa từng cho hay biếu tặng người khác một cái gì. Ngay trong đời sống bình thường, bố thí là một bổn phận làm nên đời sống: cha mẹ bố thí cho con cái tiền lương, công sức, sức khỏe của mình. Cha mẹ bố thí cho con cái, và cũng nhận được từ con cái niềm vui, ý nghĩa làm cha mẹ. Trong kinh tế thị trường, sản xuất, buôn bán, trao đổi là cho và nhận. Nếu mọi người không muốn cho ai cái gì hết và nhận lại cái gì hết thì xã hội cũng không có. Trong bố thí, người ta nhận ra người khác, ai cũng muốn vui sướng và tránh khổ đau như mình. Đó là lòng từ bi.

Bố thí gồm tài thí, cho tiền và vật; vô úy thí, cho sự không sợ hãi, chẳng hạn ngăn không cho một con chó rượt một em bé. Và pháp thí, cho chánh pháp, mà dễ thấy là sự thuyết pháp.

Theo luật nhân quả, bố thí thì tâm thường hoan hỷ, không có khổ do sợ hãi thiếu thốn, sanh ở đâu cũng được giàu có, địa vị lớn, bạn bè giúp đỡ, quyến thuộc danh giá…

Bố thí là ba-la-mật đầu tiên. Ở trong hàng thánh thì bậc Sơ địa chủ yếu tu Bố thí ba-la-mật, còn Trí huệ Ba-la-mật được tu chủ yếu ở địa thứ sáu Hiện tiền địa. Nhưng bố thí không phải chỉ ở giai đoạn đầu của con đường Bồ-tát, sau đó được bỏ đi. Chẳng hạn bố thí pháp thì phải ở địa thứ chín, Thiện huệ địa, mới hoàn hảo. Bố thí có mặt trong các ba-la-mật khác. Chẳng hạn thiền định (ba-la-mật thứ năm) xong thì người ta hồi hướng, nghĩa là bố thí công đức ấy cho những người khác.

Bố thí có mặt khắp đầu và cuối con đường. Bố thí không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của giác ngộ. Vì bố thí là một biểu lộ của đại bi, mà mục đích của Bồ-tát là tròn đủ hai cái, trí huệ và đại bi.

2. Giữ giới ba-la-mật:Giữ giới làm cho thân tâm trong sạch bằng cách không phạm vào điều xấu ác (nhiếp luật nghi giới). Giữ giới là làm những điều thiện (nhiếp thiện pháp giới). Giữ giới là làm lợi ích tốt đẹp cho những người khác (nhiêu ích hữu tình giới).

Do giới mà có thân thể tốt đẹp, tâm trí sáng suốt, được sanh vào nơi cao cấp.

Giữ giới như vậy là tạo ra một xã hội thiện lành an vui.

3. Nhẫn nhục ba-la-mật:Thực hành nhẫn thì được phước như có thân thể khỏe mạnh, không bệnh tật, không có người chống đối thù oán, được nhiều người giúp đỡ nghe theo, quyến thuộc lớn (vì nhẫn thì có nhiều người theo)…

Nhẫn là chịu đựng một cách bình an những điều không muốn nhận mà người khác bắt mình phải nhận. Nhưng nếu nhận như vậy mà cho lại lòng từ bi thì được phước của từ bi.

Phối hợp với trí, nhẫn sẽ dẫn đến giải thoát, tức là vô sanh pháp nhẫn.

Ba ba-la-mật đầu này có nhiều hàm lượng của phước, người xưa gọi là Tăng thượng sinh đạo, con đường của đời sống thịnh vượng trong ba cõi thế gian.

Ba ba-la-mật sau được gọi là Quyết định thắng đạo,con đường đi đến trí huệ, giải thoát.

4. Tinh tấn Ba-la-mật:Tinh tấn thông cả hai đầu phước đức và trí huệ. Người ta có thể tinh tấn trong việc làm lợi ích cho người như bố thí. Người ta cũng có thể tinh tấn trong việc quán chiếu của Trí huệ Bát-nhã, tức là thắp sáng ngọn đèn trí huệ.

Tinh tấn làm tăng thêm thích thú, hoan hỷ, an vui, vì tinh tấn trong điều thiện thì các điều xấu ác không còn nhiễu loạn phá hoại.

5. Thiền định Ba-la-mật:Thiền định làm tâm an ổn, tĩnh lặng. Trí huệ quán sát nương vào sự tĩnh lặng này mà hoạt động.

Thiền định làm cho thân thể khỏe mạnh, trong tâm thì những phiền não bị nép phục, do đó thân tâm được an vui (lợi mình), và tâm thanh tịnh an vui thì không muốn gây lo buồn, tổn hại cho người, trái lại, tâm đủ khỏe mạnh để làm lợi lạc cho người khác (lợi người).

6. Trí huệ (Bát-nhã) Ba-la-mật:Sự sử dụng trí huệ liên tục quán sát đưa chúng ta đến giải thoát. Giải thoát là cởi bỏ những ràng buộc tự mình trói lấy mình do chấp ngã và chấp pháp. Vì trí huệ quán sát khiến dần dần chúng ta thấy được các sự vật và chính ta đều do duyên sanh, nên chúng không tự hữu, không có tự tánh, và do đó là tánh Không.

Chính trí huệ soi thấy trực tiếp và triệt để tánh Không đưa đến giải thoát. Hơn nữa, giải thoát ngay khi đang bố thí, giữ giới, nhẫn nhục… nghĩa là không bị trói buộc vào việc bố thí hay làm điều thiện, vào đối tượng được bố thí, và vào phước đức của bố thí. Giải thoát ngay khi đang hành động là một đặc điểm của Trí huệ ba-la-mật.

Trí huệ này là nền tảng, là căn bản của đạo Phật. Vì bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tập trung, thậm chí đến mức khổ hạnh, những tôn giáo khác đều có. Sự khác biệt duy nhất giữa Phật giáo và các tôn giáo khác là mọi hành vi tôn giáo, kể cả cử hành khóa lễ, sám hối…, tất cả những hành động này được làm với trí huệ soi thấy tánh Không, được làm trong tánh Không.

Chúng ta cần thấy sự quan trọng đặc biệt của Trí huệ ba-la-mật. Chính trí huệ này làm cho năm hạnh kia thành “ba-la-mật”. Ba-la-mật nghĩa là “rốt ráo, giải thoát, đến bờ bên kia, hoàn toàn”. Chính tánh Không làm cho năm hạnh trước thành rốt ráo, giải thoát, hoàn toàn, nghĩa là thành năm ba-la-mật. Thế nên hệ thống kinh Bát-nhã, tuy luôn luôn nói đầy đủ cả sáu ba-la-mật, nhưng vẫn nhấn mạnh và nói nhiều nhất đến Trí huệ ba-la-mật. Vì thế, những bộ kinh đó có tên chung là Bát-nhã ba-la-mật, tức là Trí huệ ba-la-mật.

Kinh Kim Cương,thuộc về hệ thống kinh Bát-nhã, có nói: “Bồ-tát không trụ sắc thanh hương vị xúc pháp mà bố thí… Nếu Bồ-tát không trụ tướng mà bố thí, thì phước đức ấy là không thể tính đếm đo lường”.

Nếu không trụ sắc thanh hương vị xúc pháp mà bố thí thì người ấy trong khi bố thí đã ở trong tánh Không, mà tánh Không là phước đức vô lượng vô biên, không thể đo lường.

Từ đoạn kinh này chúng ta có thể thấy ra ba con đường. Trụ nơi sắc thanh hương vị xúc pháp mà bố thí, đó là con đường của người đời, của đời sống thế gian, của phước đức hữu hạn vì thuộc thế gian.Không trụ nơi sắc thanh hương vị xúc pháp nhưng cũng không tạo phước đức, không bố thí, đó là con đường của Thanh Văn, chỉ nhắm đến giải thoát. Không trụ nơi sắc thanh hương vị xúc pháp nhưng vẫn bố thí, vẫn không bỏ phước đức bằng cách làm lợi lạc cho người khác, đó là con đường Bồ-tát. Đây là con đường hợp nhất phước và trí, con đường đưa phước đức hữu hạn thành phước đức vô hạn của tánh Không.

II. Từ gốc đến ngọn

Khi đã thực hành được quán chiếu Bát-nhã, nghĩa là quán chiếu tánh Không, thì Trí huệ ba-la-mật trở thành cội gốc, nền tảng của năm ba-la-mật trước, bởi vì tánh Không là Nền tảng, cũng là Con đường và Quả của thực hành Đại thừa.

Khi ấy bố thí, giữ giới, nhẫn nhục… đều nương dựa vào, y cứ vào, an trụ trong Trí huệ Bát-nhã:

“Này Xá Lợi Phất! Có đại Bồ-tát lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật an trụ trong Bố thí ba-la-mật để thanh tịnh Nhất thiết chủng trí, vì rốt ráo rỗng không chẳng sanh tâm tham tiếc vậy.

Này Xá Lợi Phất! Có đại Bồ-tát lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật an trụ trong Giữ giới ba-la-mật để thanh tịnh Nhất thiết chủng trí, vì rốt ráo rỗng không chẳng dính mắc nơi có tội cùng không tội vậy.

Này Xá Lợi Phất! Có đại Bồ-tát lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật an trụ trong Nhẫn nhục ba-la-mật để thanh tịnh Nhất thiết chủng trí, vì rốt ráo rỗng không chẳng sân hận vậy.

Này Xá Lợi Phất! Có đại Bồ-tát lúc thực hành Bát nhã ba-la-mật an trụ trong Tinh tấn ba-la-mật để thanh tịnh Nhất thiết chủng trí, vì rốt ráo rỗng không, thân tâm luôn tinh tấn chẳng trễ nãi thôi nghỉ vậy.

Này Xá Lợi Phất! Có đại Bồ-tát lúc thực hành Bát nhã ba-la-mật an trụ trong Thiền định ba-la-mật để thanh tịnh Nhất thiết chủng trí, vì rốt ráo rỗng không chẳng loạn động chẳng say mê thiền vị vậy”. (Kinh Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, phẩm Vãng sanh).

Nhờ y cứ trên thực hành Bát-nhã, an trụ trong tánh Không mà năm ba-la-mật trở thành vô lượng vô biên:

“Bạch Đức Thế Tôn! Đại Bồ-tát thực hành Bát nhã ba-la-mật này làm vô đẳng đẳng bố thí, đầy đủ vô đẳng đẳng bố thí ba-la-mật, được vô đẳng đẳng thân và vô đẳng đẳng pháp. Đây chính là Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Như Bố thí ba-la-mật, năm Ba-la-mật kia cũng như vậy.

Đức Thế Tôn cũng vốn đã thực hành Bát nhã ba-la-mật này mà đầy đủ sáu ba-la-mật, được vô đẳng đẳng pháp, được vô đẳng đẳng sắc thọ tưởng hành thức, thành Phật, chuyển vô đẳng đẳng pháp luân” (Phẩm Tán thán ba-la-mật).

Bát nhã ba-la-mật được ca ngợi vì Bát nhã ba-la-mật chính là tánh Không, tức là Nền tảng, Con đường và Quả. Ở đây chỉ xin trích ra một số câu trong phẩm Ca ngợi khắp trăm ba-la-mật:

“Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn! Vô biên ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì như hư không vô biên vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bình đẳng ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì các pháp bình đẳng vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Ly ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì rốt ráo rỗng không vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bất hoại ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì tất cả pháp bất khả đắc vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bất khả thuyết ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì giác quán bất khả đắc vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bất diệt ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì tất cả pháp bất sanh vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bất động ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì pháp tánh thường trụ vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Tịch diệt ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì tướng của tất cả pháp bất khả đắc vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Vô phiền não ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì phân biệt nhớ tưởng là hư vọng vậy.

Ngài Tu-bồ-đề thưa: Vô chúng sanh ba-la-mật là Bát nhã ba-la-mật?

Đức Phật nói: Vì chúng sanh vô sở hữu vậy”.

Từ cội gốc hay nền tảng Bát-nhã này, người tu Bồ-tát hạnh hoàn thiện năm ba-la-mật kia:

“Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát từ lúc mới phát tâm hành Bố thí ba-la-mật, đúng với tâm Nhất thiết trí mà bố thí cho Phật hoặc Độc giác Phật hoặc Thanh văn, hoặc cho người hay loài chẳng phải người. Đại Bồ-tát này lúc ấy chẳng sanh tưởng niệm bố thí, chẳng sanh tưởng niệm lãnh thọ. Tại sao thế? Vì quán tất cả pháp tự tướng Không, không sanh, không có tướng cố định, không có chỗ chuyển động, mà nhập vào thật tướng của các pháp. Đó là tướng vô tác vô khởi của tất cả các pháp.

Đại Bồ-tát ấy dùng sức phương tiện này làm cho thiện căn thêm lớn. Vì thiện căn thêm lớn mà hành Bố thí ba-la-mật, tịnh Phật quốc độ thành tựu chúng sanh, bố thí mà chẳng hưởng thọ quả báo thế gian. Đại Bồ-tát chỉ vì muốn cứu độ tất cả chúng sanh mà hành Bố thí ba-la-mật” (Phẩm Trồng thiện căn).

Ba ba-la-mật đầu chủ về phước, ba ba-la-mật sau chủ về trí.

Nhờ sáu ba-la-mật nhiếp nhập lẫn nhau (phẩm Lục độ tương nhiếp) mà người ta đi trên con đường Bồ-tát đạo. Vì phước là cứu giúp chúng sanh nên Bồ-tát không trụ Niết-bàn; vì trí là soi thấy tánh Không của tất cả các pháp cho nên Bồ-tát không trụ trong sanh tử.

Con đường Bồ-tát không phải chỉ là sự giải thoát cho mình, mà còn lợi lạc cho người. Con đường Bồ-tát không phải là giải thoát khỏi tất cả pháp, mà là tự tại ở trong tất cả pháp:

“Đại Bồ-tát hành sáu ba-la-mật thì đầy đủ tất cả các thiện căn, sẽ được Vô thượng Bồ-đề. Đại Bồ-tát phải quán sắc chẳng hợp chẳng tan, thọ tưởng hành thức chẳng hợp chẳng tan, cho đến Nhất thiết chủng trí chẳng hợp chẳng tan. Đại Bồ-tát phải suy nghĩ như vầy: Tôi chẳng nên trụ trong sắc thọ tưởng hành thức cho đến trụ trong Nhất thiết chủng trí. Vì sao thế? Vì sắc không chỗ trụ, vì thọ tưởng hành thức không chỗ trụ, cho đến Nhất thiết chủng trí cũng không chỗ trụ.

Đại Bồ-tát dùng pháp vô trụ tập hành sáu ba-la-mật thì sẽ được Vô thượng Bồ-đề.

Đại Bồ-tát muốn tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh thì phải học Bát nhã ba-la-mật. Học Bát nhã ba-la-mật thì được tự tại ở trong tất cả các pháp” (Phẩm Đại phương tiện).

Kinh điển Phật giáo thường nói, đạo Phật là con đường tốt đẹp hoàn hảo ở chặng đầu, tốt đẹp hoàn hảo ở chặng giữa, và tốt đẹp hoàn hảo ở chặng cuối cùng. Tốt đẹp hoàn hảo ở chặng cuối cùng cũng như tốt đẹp hoàn hảo ở chặng đầu nghĩa là cái gì có ở chặng cuối cùng cũng phải có ở chặng đầu. Cái tốt đẹp hoàn hảo ở chặng cuối cùng cũng phải có ở chặng đầu, cái ấy là tánh Không. Tánh Không và sự quán chiếu tánh Không, tức là Bát nhã ba-la-mật, đã có ngay từ bước đầu tiên cho đến bước cuối cùng. Thế nên, con đường Bát nhã ba-la-mật là sự khai triển cho đến viên mãn cái đã có ngay từ bước đầu tiên vậy.

Văn hóa Phật giáo số 165
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2025(Xem: 4171)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
14/10/2025(Xem: 854)
Các nhà nghiên cứu khi viết báo cáo khoa học, họ trình bày, phân tích và đưa ra kết quả hoàn toàn khách quan. Trong báo cáo khoa học luôn vắng mặt ‘tự ngã’ (không có đại từ I hoặc We) mà tự bản thân của sự phân tích dựa trên những số liệu, con số, sự phát hiện vv cùng với sự tham chiếu những bài báo cáo khoa học uy tín để đi đến kết luận là một quy trình khoa học chặc chẽ, khách quan hoàn toàn.
20/05/2025(Xem: 6270)
Hôm nay con vào nghe Thầy giảng về từ thiện Con vào chậm nửa tiếng anh Huệ Sơn hỏi Thầy Về từ thiện xã hội ban đầu phát tâm lành Nhưng sau sanh bất thiện xin Thầy giảng cho nghệ
17/05/2025(Xem: 2520)
Là một thuật ngữ âm Hán – Việt, có lẽ khó hiểu với một số Phật tử cũng như những người trẻ. Sở tri chướng nói một cách dễ hiểu là chướng ngại từ chính cái biết của mình. Tại sao cái biết, cái tri kiến của mình lại là chướng ngại? lẽ ra phải là điều phát triển đáng quý chứ, nghe thì tưởng chừng vô lý nhưng thật ra thì rất chính xác, nhất là trong giới học Phật.
19/10/2024(Xem: 6228)
Thân-Khẩu-Ý (身-口-意; P: Kāya-Vacī-Mano; S: Kāya-Vak-Mana; E: Body-Speech-Thought) là 3 thứ tách biệt nơi con người, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, Ý là yếu tố có sự tác động đến cả Thân và Khẩu. Nếu một hành động của Thân hay lời nói của Khẩu mà không có Ý tác động vào thì khó mà có kết quả.
19/10/2024(Xem: 2082)
Ba-la-mật = Ba-la-mật-đa 波羅蜜多 (P: pāramī; S: pāramitā; E: perfection) được dịch nghĩa là Đáo bỉ ngạn (到彼岸: đạt đến bờ bên kia), Độ (度), Cứu cánh (究竟: thực tại tối hậu). Ba-la-mật đặc trưng cho hành động của bậc giác ngộ vượt lên nhị nguyên đối đãi, vượt thoát các dính mắc, các phiền não gây ra bởi Tham-Sân-Si, nghĩa là mọi hành động của bậc giác ngộ đều hợp với chân lý Duyên khởi, đồng nghĩa là mọi hành động này đều xuất phát từ một nội tâm Vô ngã, được gọi là Duy tác (惟作; P: Kiriyā; S: Kriyā; E: Only-action).
19/06/2024(Xem: 3444)
Đọc tụng Chú Đại Bi chẳng phải để cầu phước mà nương theo oai lực của ngài Quán Thế Âm Bồ Tát để tạo an vui lợi lạc cho đời. Do đó, theo học hỏi riêng tư: -Khi đến chùa, với tâm Đại Bi bạn sẽ không thấy ai là Phật tử thông minh, ai là Phật tử ngu độn. Bạn sẽ không thấy ai là Phật tử giàu sang, ai là Phật tử nghèo hèn. Bạn sẽ không thấy ai đẹp mà cũng chẳng thấy ai xấu. Bạn nhớ lời Phật dạy trong Kinh Viên Giác, “Không kính người trì giới, không ghét người phá giới, không trọng người học lâu, không khinh người mới học. Vì sao vậy? Tất cả là tính giác. Ví như con mắt sáng, thấy rõ cảnh trước mắt. Cái sáng ấy tròn khắp, không có yêu, không có ghét.”
01/10/2023(Xem: 2888)
Nhiều Phật tử thường nói với nhau như một lời nhắn nhủ: "Tiền tài danh vọng dù giàu nứt đố đổ vách, hằng tỉ đô la, siêu xe, dinh thự, quyền cao chức trọng...khi nhắm mắt xuôi tay chẳng mang được gì ngoài nghiệp“. Vậy nghiệp là gì, là quá trình trong cuộc sống dù vô tình hay cố ý, không chỉ kiếp này mà kể luôn những kiếp trước, những hành động dù thiện hay ác đều tạo nên nghiệp. Nghiệp tốt đến từ ý tưởng và hành vi tốt sẽ có kết quả tốt. Trái lại nghiệp xấu sẽ mang lại khổ đau. Đơn giản vậy thôi.
09/09/2023(Xem: 4656)
Lộ Trình Tu Tập: Giới, Định và Tuệ
04/11/2022(Xem: 5463)
Sau hai ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2022, nhằm ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch, đúng vào ngày Đản Sanh năm 2646 của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, trước khi trở về Hamburg, Hòa Thượng Phương Trượng Tổ Đình Viên Giác tặng cho tôi cuốn “Tôi Đọc Đại Tạng Kinh.” Đây là tác phẩm 69 của ngài vào độ tuổi 73. Trên xe lửa, tôi vội đọc ngay lời Dẫn nhập của Thầy ở đầu sách. Thầy viết: “Tất cả chúng ta đều bình đẳng về thời gian, dầu nam hay nữ, Tăng hay Ni, người lớn hay trẻ thơ..., mỗi ngày đều có đúng 24 tiếng đồng hồ như nhau, không hơn không kém. Tuy nhiên có nhiều người làm được rất nhiều việc trong khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ đó, mà cũng có nhiều người đã bỏ phí thời gian một cách vô ích...”