Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thủ phạm cướp nước giết dân diệt đạo 30 năm qua tại Việt Nam

22/03/201107:36(Xem: 1313)
Thủ phạm cướp nước giết dân diệt đạo 30 năm qua tại Việt Nam

Cuối 1973, tuy xuất gia đã 10 năm, tương chao đã thấm tận vào máu tủy, lại chuẩn bị làm sinh viên Cao Đẳng Phật Học Hải Đức, chúng tôi đúng tuổi phải bị VNCH gọi động viên phải đi lính [ai xúi Thiệu ra lệnh TT Đạm hăm ngưng cấp hoãn dịch tu sỹ?]

Chính thời điểm 1973-4 lúc ĐĐ Liễu Minh nói bài nầy, ngài 40 tuổi, trong tinh thần lên án chống lại chế độ VNCH khi họ rục rịch ban hành Luật Tổng Động Viên, không cho ai được hoãn dịch kể cả Tu sỹ PG.

Làm như Thiệu hợp tác với phía bonsevich và phe Vatican/White House & phe Moscow/Bắc kinh để thực hiện tham vọng ĐỐT HẾT DÃY TRƯỜNG SƠN và ĐÁNH MỸ CHO ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG cùa Hồ Chí Minh; và giết cho hết tu sỹ trẻ [= tương lai PGVN] vì Lệnh Động Viên nầy mà thi hành triệt để họ chỉ được chừng 12 trung đoàn [tối đa là 3000 tăng trẻ lớp 18-25] nhưng PGVN sẽ tan rã ngay trong vòng 10-20 năm, đó là chuyện vẫn chưa làm được sau 400 năm khởi đi từ Dòng Tên Tây Ban Nha đưa đến Đắc Lộ VN với sự hỗ trợ của Vatican tậm tâm ủng hộ, thậm chí 1953-54 Vatican qua Spellman đã phải nài nĩ CP Mỹ đưa Diệm, bất tài vô tướng, ép Bảo Đại về VN làm Thủ Tướng; và Vatican thì 71-72 sau khi Hoa kỳ trở quẻ thân thiện Mao-Chu đuổi Tưởng ra khỏi LHQ< cũng đã nhanh chóng van lạy được Hà Nội cho phép phong Hồng Y đầu tiên ở miền Bắc; là ước mơ mà nhà Ngô đã vơ vét xương máu của VNCH suốt 9 năm đem cống nộp vô quỹ Vatican mấy chục triệu Mỹ kim rồi, mà anh em Diệm vẫn chưa xin được mũ đỏ cho king maker Thục [sau còn bị rút thông công là khác, vì họ đều quá ngu xuẩn và quá hoang tưởng - cả anh em đều nghĩ đất nước VN là đồ chơi trong túi của 5 anh em mình] là loại sẵn sàng vì chức Thủ Tướng [=Hoàng Đế; vì kế hoạch của Đại tá Lansdale 1954 tính trước là sau 12 tháng sẽ cho Diệm lên làm TT kg cần ai bầu] mà cam kết với Vatican [Thục đưa Diệm đi 2 lần 1949 sau klhi được HCM tha chết và 1953-53 gì đó] sẽ thi hành chương trình tận diệt PGVN trong 10 năm 1955-65 là chậm nhất [vì họ thấy bọn PGVN đó lù khù, ngu dốt và rời rạc, lẻ loi quá mà ...?!?!?!]

Bài viết [hay nói??] của T Liễu Minh chứng tỏ cũng như 99.99% dân VN khác, Thầy LM kg hề biết HCM đã bán linh hồn cuo bonsecvich từ 1919-25 khi lãnh lương làm gián điệp cho Lenin, sẵn sàng làm tay sai trung thành tuyệt đối cho khối CS tam vô, kg gia đình, kg tổ quốc, kg tôn giáo, ...nên ai ai cũng bị CS [kể cả Duẫn -Chinh- Đồng - Giáp ,,,giai đoạn đầu ...] lừa qua chiêu bài đánh Pháp dành độc lập, thực ra là chỉ nhắm mục tiêu xích hóa toàn cầu , chết bao nhiêu dân mình kg quan trọng ...

PG vì quá thương dân thương nước nên luôn tự đặt mình giữa 3-4 lằn đạn ... tới nay vẫn vậy ..

chỉ mới 12/1975, Thầy Liễu Minh đã tỉnh ngộ sớm và nhiều hơn ai hết nên cũng là người đã chỉ trích CSVN mạnh mẽ, thâm thúy hơn ai hết, và do đó bị CS nhốt tù dã man suốt 15 năm và quản thúc ở Mỹ Tho đến chết lkg tha về Saigon và Bình Định

 Thích Quảng Ba Úc Châu (5/6/2016)

 


HT Thich Lieu Minh

Thủ phạm cướp nước

giết dân diệt đạo 30 năm qua tại Việt Nam

Sau đây, toàn văn lời thuyết trình của Đại Đức Thích Liễu Minh – Lê Văn Hiến, Ủy viên Công cán Viện Hóa Đạo tại Chùa Ấn Quang Sài gòn trước hàng ngàn Tu sĩ đang tuyệt thực chống lệnh Tổng Động Viên. Dưới sự chứng minh của Hội Đồng Viện Hóa Đạo, với sự tham gia rất đông đảo đồng bào, báo chí trong và ngoài nước đều nhiệt liệt hoan nghênh.  *PTNDVNCLTĐV (Phong Trào Nhân Dân Việt Nam Chống Lệnh Tổng Động Viên – tqd) giới thiệu.   Sau các thủ tục, Đại Đức đã thuyết trình:

Một Dân tộc bị mất chủ quyền là mất nước, nhưng nếu mất văn hóa và Tôn giáo còn nguy hiểm hơn mất nước. Hơn nữa, một dân tộc mất nước, không có nghĩa là dân tộc đó đã chết hết rồi, mà là dân tộc đó không còn giữ được truyền thống văn minh và Tôn giáo.

Gần ba ngàn năm dân Do Thái đi lang thang, nhưng vẫn thề với lòng là giữ đạo Do Thái, nên dù có ai tru tréo đến đâu, Do Thái cũng đã phục quốc và hưng thịnh lâu rồi.

Người Chàm trong những thế kỷ đầu hùng vĩ, văn minh rất cao, nhiều Thiền sư chứng đạo, đặt tên cho kinh đô Chiêm quốc là Phật Thệ Thành. Nhưng rồi họ phản Phật theo Hồi, lại ham chiến chinh, lâu ngày kiệt quệ, nước mất dân tàn. Khi vua Lê Thánh Tôn vào đó thì chỉ còn trông thấy mấy chữ Phật Thệ Thành.

Dân tộc Việt Nam trong những thế kỷ xưa, hễ lúc nào Phật giáo được hưng sùng thì dân tộc được vẻ vang, huy hoàng mọi mặt. Nhưng gần đây 100 năm, không phải tử tôn bạc nhược, nhưng trước bạo quyền và hấp lực Âu Mỹ lâu ngày, với chính sách bứng chuối lấy con, phá hải đăng cướp thuyền rẽ lối. Biết bao người đã chết để giữ đạo cứu đời, cũng đã biết bao đồng bào đã cùng hơi kiệt sức đành chịu đoạn trường bán đứng linh hồn có khi cả thể xác trong nhiều sinh hoạt nhục nhằn.

Nhưng gần đây Hoa Kỳ quá thèm Đông Nam Á, giữa lúc cung trăng và địa cầu qua lại như xóm giềng. 3.320 triệu con người trên mặt đất sống tương đối an bình thì tại nơi này, qua nhiều sử liệu nhất là từ ngày 4.8.1953 tới nay chứng minh rằng: Hoa Kỳ cứ muốn dùng bạo quyền quỷ quyệt buộc một dân tộc vô tội, có một nền văn minh vững chắc, lớn hơn họ đến gần 5.000 năm tuổi phải đầu hàng.

Kính thưa liệt quý vị, trên phương diện lương tâm đạo đức thì thà chết chứ không ham sống bởi cái chết của kẻ khác cho mình được sống, nhưng trên thể diện của một dân tộc thì thà chịu chết chứ không mấy ai chịu nhục, nhất là cái nhục mất nước, đừng nói đi lính cho kẻ xâm lăng.

Nếu trong tâm mỗi chúng sanh có hai khối Ma và Phật thì trong cõi đời này cũng có hai đạo quân thế gian và hiền thánh. Đạo quân Thế gian thì phần lớn gieo rắc vô minh, hận thù, sầu thương vời vợi, nhân loại giết nhau tủi nhục quá chừng. Đạo quân Hiền thánh lo trang trải tình thương, chở che cho sự sống, đưa chúng sanh đạt đến tuyệt đích văn minh là đắc đạo.

Và trên cuộc đời quán trọ này, ai đọa đày đến đây cũng được hai quyền là đi tu và

nếu quốc gia còn chủ quyền thì có thể đi lính.

Cũng có những cuộc chiến mà kẻ tu hành xếp áo cà sa khoác chiến bào, ông già bà lão, thiếu niên tự nguyện cầm súng dù phải hy sinh. Cũng có những cuộc chiến mà thà giữ đạo đến chết chứ quyết không cầm súng, thà tù đày chứ quyết không vâng lời.

Đạo Phật là đạo từ bi trí tuệ, đã được lương tâm nhân loại và công pháp quốc tế nhìn nhận là một tôn giáo hòa bình, không sát sanh và không chấp nhận sát sanh dưới bất cứ hình thức nào trong bất cứ chủng loại nào.

Nhưng thưa liệt quý vị tại đây và đồng bào các giới trong và ngoài nước,

Việt Nam mến yêu suốt thời Pháp thuộc, giặc Pháp đã cố gây chiến tranh để mà nhân danh chiến tranh xâm lăng văn hóa, nô dịch giáo dục, tiêu diệt tôn giáo. Họ cũng viện lẽ chiến tranh san bằng nhiều ngôi ngôi quốc Tự có địa mạch trọng yếu nhằm cắt đứt khí thiêng sông núi, để thiết lập bệnh viện, trại lính, nhà thờ, chợ búa. Họ thường tiết lộ: phải tiêu diệt Phật giáo trong 20 năm, không tiêu diệt được Phật giáo thì không xâm lăng được văn hóa, tất nhiên không thể cai trị được dân tộc đó muôn đời. Nhưng quả tình người Pháp vẫn chưa hề bắt thanh niên Tăng đi lính để tự bắn giết những đồng bào dấn thân cứu nước.

82 năm nhục nhã, Phật giáo và dân tộc cùng chung số phận, nhưng lúc nào cũng giàu có các hoạt động cứu nước an dân, còn góp phần quan yếu trong việc cứu lấy Trung Hoa Lục địa được độc lập, khỏi cái họa “da trắng chúng ta phải cai trị các dân tộc da vàng cho đến muôn thuở”, và cũng từ đó các nước da vàng lần hồi độc lập.

Khi các lực lượng ái quốc tại Việt Nam đã thực sự trưởng thành, ngày 11.8.1945 mở đại hội toàn quốc tại Tuyên quang, Tân triều để quyết định hành động và chọn hình sắc lá quốc kỳ là nền đỏ, giữa sao vàng. Ba ngày sau lá quốc kỳ thực sự tung bay cứu nước. Sau khi đã làm lễ nguyện hương và nhiều hồi chuông trống Bát Nhã vang rền tại chùa Tổ đình Quán Sứ Hà Nội, trước sự tham dự hầu hết đại diện Tôn giáo, đảng phái và vô số đồng bào các giới.

Khi toàn dân đã vùng dậy được, ngày 2.9.1945 người Việt Nam đọc tuyên ngôn độc lập tại Công trường Ba Đình Hà Nội. Trước đó ngày 23.8.1945 chánh phủ Dân chủ Cộng Hòa dưới quốc kỳ nền đỏ sao vàng và trao quốc ấn gươm vàng cho chánh phủ này. Dưới chánh phủ này, dốc hết sinh mạng chống Pháp cứu nước. Nhưng chánh phủ này cũng chưa hề bắt các nhà tu hành cầm súng, dù là cầm súng có chính nghĩa.

Đến khi Hoa Kỳ nhắm không thể đầu tư chánh phủ này được để dùng Việt Nam làm bàn đạp xâm lăng Á châu như họ ước mơ mà kế sách đã bại lộ.

Nên thay vì ủng hộ chánh phủ này chống Pháp như trước, thì Ngoại trưởng Mỹ ông Foster Dulles lại quay sang vận động ủng hộ Pháp tái chiếm Việt Nam mà vật lót đường là Cụ Bảo Đại với lá cờ nền vàng ba sọc đỏ do Cụ Trần Trọng Kim, mà chính Cụ Bảo Đại đã tự xé bỏ khi Cụ đọc tuyên ngôn thoái vị, để nhiệt liệt ủng hộ chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà, rồi về Hà Nội ở với Cụ Hồ “Thề làm dân một nước độc lập, chứ không làm vua một nước nô lệ”. Nhưng năm 1950 khi Pháp cần quân thì Bảo Đại cũng cần đừng ai chống đối sự bội thề của Cụ, nên năm đó Bảo Đại đã bất chấp hậu quả, ký đạo dụ quân dịch, đan tâm bán đứng toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam cho giặc Pháp, để Pháp quân sự hóa làm “GIÀY DÉP” cho cuồng vọng tái xâm lăng. Họ tha hồ thiết lập hàng ngàn đồn bót, bắt vô số thanh niên học sinh nhốt vào đó. Trên cổng các doanh trại họ gắn tên những vị minh quân liệt nữ, để cố ý đồng hóa những vị này với họ! Từ đó những người Việt đi lính cho Pháp không phải do tự nguyện nữa, mà là do đã bị bán đứng có văn tự, nên dù lon to lương lớn đến đâu, hôm nay vẫn được coi như vô tội. Lịch sử đạo dụ quân dịch bán con cho giặc bắt đầu từ đó. Tuy giặc Pháp lần này quyết liệt hơn bao giờ hết trong chiến lược tiêu diệt Phật giáo. Họ bắt bớ đọa đày hàng trăm sư tăng ái quốc có những thầy đã chết từ những hải đảo xa xôi, nhưng họ vẫn chưa bắt nhà tu phải quay thuyền Bát Nhã trở lại bến trầm luân, cầm súng hủy hoại những đóa sen trong biển lửa.

Đến năm 1954 Pháp bại trận trước ý chí quyết thắng của toàn dân Việt Nam. Hai mươi mốt quốc gia trong thuộc địa Pháp khỏi phải đánh cũng được độc lập. Nhưng Việt Nam thì chỉ độc lập nửa nước về phía Bắc vĩ tuyến 17, phía Nam Pháp vẫn tiếp tục đô hộ và theo hiệp định Genève thì hai năm sẽ tổng tuyển cử. Nhưng bấy giờ Tổng Thống Mỹ là ông Eisenhower lại cho rằng: “Nếu chấp nhận có tổng tuyển cử ở đó thì 80% dân Việt Nam sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chủ tịch và như vậy, thì số tiền lâu nay chúng ta đã đổ ra để đầu tư xương máu của Pháp coi như bỏ xuống biển rồi”. Hơn nữa theo tinh thần bài diễn văn ngày 4.8.1953 mà ông đã đọc tại quốc hội Hoa Kỳ để yêu cầu quốc hội khẩn cấp viện trợ cho Pháp 400 triệu đô la cho Pháp tái chiếm Việt Nam, để sau Hoa Kỳ lấy đó làm đầu cầu tiến chiếm Trung quốc và cũng sẽ lấy đó làm trung tâm khống chế tất cả các nước toàn vùng Đông Nam Á, chúng ta sẽ được tha hồ cao su, quặng sắt, đồng, chì, tungsten. Vì vậy nên thay vì tổng tuyển cử, Mỹ lại gây áp lực về nợ nần, buộc Pháp dựng Ngô Đình Diệm đến năm 1955 gạt Pháp ra khỏi Đông Dương bằng một cuộc “trưng cầu dân ý” Diệm - Bảo Đại cực kỳ quái gỡ trong lịch sử nhân quyền.

Diệm thề với Tổng Thống Mỹ sẽ làm tôi tớ rẻ giá và dễ sai hơn, ông nắm lấy ngai vàng giả mà cứ quên tưởng là vàng thật, lại hay tự ái dân tộc tính. Trong khi gia đình ông thầu khoán chương trình tiêu diệt Phật giáo với tiền rừng bạc biển gần 10 năm không kết quả, lấy hoàng thành Huế làm tòa Hồng Y giáo chủ cho ông Thục cũng không xong, dù đã tận lực dã man thiết lập vô số thiên đường song hành với hỏa ngục, chôn sống, đọa đày gần 300.000 Phật tử. Giải pháp này của Hoa Kỳ thật đã làm cho nhân loại kinh tởm, nhưng vẫn chưa buộc các thầy phải cầm súng bán đứng linh hồn lẫn thể xác cho họ.

Đến năm 1963, sau khi Hòa Thượng Quảng Đức đem thân làm đuốc để giác ngộ Hoa Kỳ, thế giới vô cùng xúc động. Ngài đã mở một kỷ nguyên tình người vĩ đại nhất mà Mỹ thấy đại dương từ bi quả là bất khả diệt, bất khả chế. Nên thay vì hủy diệt Phật Pháp bằng đối nghịch, họ định hủy diệt bằng đồng hóa, để nhân danh Phật giáo chỉ huy Phật giáo vào quỹ đạo phản động cho dân tộc Việt Nam căm

thù Phật giáo, tất đạo Phật tự nó bị tiêu diệt.

Nên ngày 1.11.1963, CIA cố ý gây một cuộc đảo chánh giả, nhưng rất quy mô để buộc Diệm chia sớt tội ác sau này cho Phật giáo, bằng một ghế Thủ Tướng để họ la lên rằng họ đã dụ dỗ được Phật giáo và Phật giáo đã gián tiếp bằng lòng cuộc xâm lăng của họ là hợp lý, và họ sẽ đưa những Phật tử lên cầm quyền để mai sau chương trình đổ bộ Nam Việt và oanh tạc khốc liệt Bắc Việt mà họ đã dự liệu nhằm tiêu diệt đình miếu chùa chiền để tận diệt mọi tiềm lực ái quốc dân tộc, mà Phật giáo sẽ phải gánh lấy tất cả tội ác thay họ. Họ cũng sẽ dùng Diệm để thanh toán những tướng tá thân Pháp và những ai còn mơ mộng với Pháp. Quả là nhất cử lưỡng tiện. Nhưng nào ngờ người dân Việt lắm chí cao và dù ở môi trường nào cũng rất thương nước. Biết được mưu đồ liền tương kế tựu kế quyết làm cách mạng nên đã đảo chánh thật. Qua mặt Cabot Lodge, giết Diệm Nhu, đạp nhào hai sách lược. Từ đó Hoa Kỳ mỗi ngày một sạt nghiệp, nhân dân miền Nam mỗi lúc một hào hùng.

Nhưng thói tham tàn của Hoa Kỳ gần 200 năm vẫn chưa cải đổi, nên năm 1964 họ nhờ một nhân vật trong Hội đồng Viện Hóa Đạo vốn quen thân nhưng chưa hiểu được họ viết trên tờ nhật báo TIẾN yêu cầu Mỹ Bắc tiến để giải phóng Hà Nội. Đó là một phương tiện mà lâu nay dù phải luồn trôn như Hàn Tín để thành công họ vẫn làm.

Một lần nữa bồ câu trắng lộ chó sói dao găm, giáo hội mời ngài đó nghỉ việc và khẩn cấp báo động cho quốc dân biết, đã đủ thêm dữ kiện rằng: Hoa Kỳ là con chồn tinh chứ không phải mỹ nhân công chúa, vì đêm rồi nó đã để lộ cái đuôi chồn. Kế sách vu oan giáng họa cho Phật giáo để cho quần chúng căm thù bị lui dần nhường chỗ cho kế hoạch tái chụp mũ. Kế hoạch này bị đụng đầu vào núi đá, trước sức mạnh vùng dậy vũ bão của thế hệ Quảng Đức khôn lớn mau lẹ lạ thường. Nên cũng năm 1964 vùng một cái là đã xé bỏ được hiến chương phản bội Vũng Tàu, đuổi “Chủ Tịch” Nguyễn Khánh mà Mỹ cố mưu đồ đẻ nó ra để mỵ dân cho kế sách sau này.

Năm 1965 Mỹ hết sức cúi luồn gần như Hàn Tín nhưng cũng không làm được gì, chúng mới đẻ ra cái Tổng Giáo Hội do Cụ Trần Văn Hương mưu gian phản phúc. Quần chúng lại một lần nữa phải BẨN TAY dọn dẹp xú hương để ăn tết (29.12 âm lịch).

Năm 1966, đứng trước sức cuồng bạo và sách lược nham hiểm của Hoa Kỳ tại đây, và nhiều nơi Á Phi và châu Mỹ La tinh đã đưa họ sa dần vào hố thẳm không lối thoát. Người Phật tử không thể an nhiên ngồi ngó. Phải soi đường giác ngộ cho Hoa Kỳ hầu cứu lấy dân tộc Mỹ và Việt Nam khỏi bị bốc cháy. Tạo cho họ một chiếc thuyền cứu nguy cuối cùng, mong sao họ khôn hồn vượt khỏi biển lầy máu lệ Việt Nam mà chính họ sẽ gây ra, lặn hụp. Nên trong năm đó Phật giáo khởi xướng công cuộc tranh đấu cho công bằng, chống xâm lăng, buộc Mỹ phải chấp nhận một cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến trong sạch, cuộc tranh đấu cực kỳ TRÍ DŨNG và GIAN KHỔ, mấy mươi nước bị Mỹ đô hộ rất lấy làm hả dạ. Trước cao trào khí thế chánh đáng đó, Mỹ phải chấp nhận bầu cử, nhưng Mỹ dự định là phải tận diệt Phật giáo trong chuyến này, tù đày các tinh hoa còn sót lại để đưa vào quốc hội ấy đại đa số là Việt gian, sẽ dễ dàng biểu quyết một hiến pháp đầu Ngô mình Mỹ cho cuộc cai trị của họ có “pháp lý vững vàng hơn”, nên họ đã đâm thủng thuyền cứu mạng, đập tan thành quả của dân tộc trong máu lệ kinh hoàng, những tưởng rằng thái độ đó sẽ thành công như họ đã thành công ở Phi Luật Tân… Nào ngờ đâu quả đã làm cho họ nhào lộn kêu rên tám năm trời bi thiết, và chiến lợi phẩm mang về cho quê hương cứ tiếp tục toàn là những cỗ quan tài, khăn tang và tủi nhục. Thật đất nước nầy là một trường đại học, đế quốc nào đã đến đây rồi cũng chỉ mang về có thế! Cho đến khi thân tàn ma dại, họ phải chịu ký hiệp định Paris, tự nhận mình đi xâm lăng và đã bại trận. Họ phải tự cuốn cờ và khóc hù hụ ở Bộ Tư Lệnh Ngũ Giác Đài Đông Phương 15.3.1973 tại Tân Sơn Nhất. Họ mới hối hận là họ đã ngu. Tự đập tan bình tịnh thủy trên đỉnh núi TÌNH NGƯỜI, hủy hoại thuyền nan giữa biển ba đào song gió. Đến năm 1967, hiến pháp ấy ra đời, giáo hội đã có tuyên cáo chính thức không nhìn nhận nó, nên từ đó đến nay, tất cả những gì được thiết lập bởi đó,  nào là Tối cao Pháp nhục, nào là quân đội, Tổng Cai Thầu v.v… tuyệt nhiên giáo hội không nhìn nhận.

Nhưng dù sao đi nữa, giáo hội cũng đã góp phần xứng đáng trong việc trưởng thành ý chí dân tộc và nhân loại. Cũng từ đó giặc Mỹ hết khinh thường dân tộc Việt Nam mà họ nói láo với dân tộc họ rằng Việt Nam chỉ là giống mọi mắt hí, và từ đó các nước nô lệ trong quỹ đạo Hoa Kỳ, không mặt này thì mặt khác, mà Mỹ đã sai lập Sứ quán đầy dẫy Sài gòn để chứng minh cuộc xâm lăng của họ là phải đạo và cùng họ nhúng tay vào xương máu vô tội của dân tộc từ hòa này để chia phần tội lỗi và quyền lợi. Các nước đó cũng đã được Mỹ  nơi tay thống trị từ đó.

Gần 500.000 lính Mỹ và lính các nước bị nợ nần và đầu độc cũng đã nhờ những hào quang Quảng Đức… mà được sống sót, đã tìm về tổ ấm quê hương. Rất tiếc thay cho 56.000 lính khác trong cuộc viễn chinh đã vì phong thổ bất hòa, sơn lam chướng khí hay rủi ro lỡ tay trước lòng yêu nước thương nòi nồng nàn của dân tộc Việt mà bỏ mạng. Những đêm thâu trăng khuyết canh tàn, mưa phùng gió bấc, người Việt hương thôn đã nghe rõ tiếng uất nghẹn oan hồn ấy vất vưởng kêu rên, máu me đói lạnh phải nương nhờ chén cháo nén hương hồi chuông tiếng mõ trong những ngôi chùa đổ nát nghèo nàn vì họ khắp đất nước này.

Nhưng biết tới bao giờ Hoa Kỳ mới chịu phục thiện. Không lẽ họ ngồi chờ mấy triệu oan hồn Việt Mỹ đã từng lôi đầu Tổng thống Kenedy, Eisenhower về hỏa ngục mà hỏi tội. Đã từng lôi đầu Tổng thống Johnson, Nixon quăng vào vũng bùn, nay lại phải lôi đầu Tổng thống Ford, những con chim cú ở Bạch Cung, Ngũ giác đài, trong Quốc hội Mỹ quăng vào những hố bom mảnh vụn, những hố lửa Napalm, quăng những ái nữ của họ vào những quán thịt sống, lôi cha già mẹ yếu của họ quăng vào những trại ăn mày tại Việt Nam… Rồi đầu họ cũng hứng bom rên xiết, thân họ cũng bốc cháy khóc la, họ mới hiểu nổi sự kêu thương của một dân tộc bị họ xâm lăng tàn khốc.

Rồi cha già mẹ yếu của họ cũng ngày ngày lê gậy đi xin ăn, ái nữ của họ cũng phải bán thân nuôi mình và em dại. Họ mới thấu nổi cái tủi nhục của một dân tộc bị họ nô dịch kinh tế.

Rồi con trai họ cũng phải chỉa súng vào bụng họ, vợ họ cũng dẫn tình nhân về chém họ. Họ mới hiểu được nỗi căm hờn uất nghẹn của một dân tộc mà họ đã chủ trương xâm lăng văn hóa, giáo dục, đầu độc thanh thiếu niên.

Gia đình họ kẻ thì kêu giặc bằng cha, người kêu Mỹ gian bằng mẹ. Con cái thì đứa theo đạo này về chửi bới đứa theo tôn giáo khác… không lẽ cho tới khi đó, Hoa Kỳ mới hiểu nổi sự cay đắng của một quốc gia mà họ đã tận lực xâm lăng mọi mặt.

Biết làm sao bây giờ, tuy bại binh, nhưng tham vọng của Hoa Kỳ còn đó. 25.000 lính Mỹ họ đã cho hóa thân thành thái thú, đang lẩn trốn khắp đó đây để cai trị khốc liệt và cùng với những tên Mỹ mũi tẹt da vàng diễn lắm trò tang thương phản phúc. Không biết cho tới giờ nào họ mới giác ngộ, để cho các dân tộc đã bốn năm ngàn tuổi như Việt Nam, với một nền văn minh đạo đức có truyền thống như Việt Nam và Á châu khỏi phải cầu kinh cúng cháo cho họ nữa.

Phật giáo đã ban cho họ vô vàn ân đức như vậy, khi họ sống cũng như lúc họ chết.

Dân tộc Việt Nam có thù ghét ai đâu? có mang quân đi xâm lược Hoa Kỳ đâu? Nhưng nếu như có bị xâm lược thì Hoa Kỳ cũng phải chống như vậy. Bằng không dân tộc Việt sẽ coi họ là giống gì?

Dân tộc Việt Nam khi bị giặc đến chỉ đuổi chứ không đánh, khi phải đánh rủi chết lại lập bàn thờ, các tướng giặc bại binh được ân cần tiễn đưa về nước. Từ xưa Vua Quang Trung, Lê Lợi đã làm như vậy. Hỏi trên hoàn vũ này không biết có dân tộc nào có được cái văn minh bi trí khoan dung ôn hòa cao thượng kỳ diệu như vậy không!

Thế nhưng chính sách của Hoa Kỳ vẫn giữ chất du mục, bất chấp tội phước, cứ tìm cái sống bằng cái chết của các dân tộc khác, nên đối với Phật giáo Việt Nam, với dân tộc Việt Nam họ vẫn biết là đã cố tình cứu họ, nhưng họ rất oán ghét, vì nó chói chang quá, nó đã làm cho họ bị lõa lồ thân thể, nên thay vì đền ơn họ lại liên tiếp thù hằn. Trong năm 1967 họ sai Thiệu xé hiến chương gây biết bao thảm nhục, họ lập một giáo hội ma, dùng lồng vàng nhốt chim cú, ngày đêm giả giọng hoàng oanh. Chuông vàng bỏ xó, nồi đất gõ vang làm cho thiên hạ cười phì lộn ruột.

Xé hiến chương mà giải tán Giáo Hội không được, như xé khế ước mà không cướp được ngôi nhà, lại chạy trời không khỏi nắng. Đến năm 1968 họ mở lại chiến dịch tổng công kích Phật giáo và dân tộc lấy cớ tết mậu thân. Họ vu khống tàn ngược, bắt bớ đọa đày giết người như cỏ cây, biết bao trẻ già bị thảm sát, vườn không nhà trống, súc vật áo cơm đốt sạch, giết sạch.

Cũng trong chiến dịch đó, 95% chùa chiền khắp nước từ Nam chí Bắc đều bị Mỹ dội bom, đặc biệt là B52. Lũy tre xơ xát, đình từ ngã gục,  nhìn mây nước rưng rưng, khóc cho cảnh hoang tàn do văn minh dã thú, không biết từ đâu mà xương thầy máu bạn khó phân tung toé vấy đầy trên kim thân Phật tổ, có còn ai sống? Đỗ quyên kêu trót tàn canh, máu hồng vô tội trên cành hoa sen.

Tại chùa Ấn Quang Sài gòn, hàng vạn người tỵ nạn, lại hàng ngàn đạn lớn từ xe tăng Mỹ viện trợ lẫn trong tiếng khóc la vượt chín từng trời, làm cho nhiều thường dân chết trong chùa, nhưng đài Mỹ nói đó là những tướng hai sao của giải phóng.

Kính thưa đồng bào còn sống và đã chết, hỏi dân tộc này có tội tình chi với Quốc hội Mỹ mà 4.8.1953 biểu quyết đổ tiền cho Pháp giết, rồi giết, trực tiếp giết, giết cho đến nay, và tới chừng nào?!

Và trong năm đó Tổng thống Johnson muốn làm ăn lâu dài “có lệnh ông mời các nhà lãnh tụ Phật giáo nhốt, gọi là bảo vệ an ninh nửa năm, để ông rảnh tay sắp xếp cuộc bầu cử sơ bộ, con và Thiệu chỉ lo cơm nước và chỗ ở”. Đó là lời nói thẳng của Tướng Loan Tổng Giám đốc Cảnh sát, với Thượng Tọa Trí Quang, Hộ Giác, Nhật Thường và tôi tại nơi giam giữ. Cho nên chúng tôi chỉ gọi họ là Tổng Cai thầu mật vụ giặc Mỹ không phải là quá đáng lắm. Nhưng lúc nào Tào Tháo cũng vẫn khoái Quan Công. Tháo nghe Quan Công chết là kêu khóc thảm thê. Tháo xâm lăng ở nơi nào gặp nịnh thần là giết chết. Thái độ đó Tháo muốn nói rằng: chỉ một mình ta đã làm nhục nước, nếu ai cũng muốn làm Tháo cả thì dân nầy là giống trâu bò, văn hóa mấy ngàn năm không cho phép như vậy. Chỉ trách cho đời sao bắt ta làm Tào Tháo. Nhưng Tào Tháo ở miền Nam này lại muốn bắt thanh thiếu niên … làm Tào Tháo hết để họ lọc máu lấy vàng.

Giặc Mỹ vẫn khủng bố liên tục cho tới năm 1972, nhưng họ vẫn chưa cần phải sai Thiệu hốt hết thanh niên Tăng Ni đi nhập ngũ, hầu hủy diệt luôn mầm non Phật giáo như hiện tại.

Đến năm 1973, các hoài bão của dân tộc, của nhân loại và giáo hội, được đúc kết bằng bốn triệu xương máu ở đây và khắp thế giới cho Việt Nam, đã được Hiệp định Paris về Việt Nam ghi nhận và ký kết. Trong đó chương I điều I ghi: Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng chủ quyền độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ nước Việt Nam. Hai chánh phủ lâm thời tại miền Nam Việt Nam sớm lo tổng tuyển cử chứ không có khoản nào cho phép tổng động viên để tấn công chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, học đường để tất cả thanh thiếu niên miền Nam Việt Nam đi đỡ đạn cho “nền văn minh Hoa Kỳ”.

Kính thưa liệt quý vị, một trăm năm mất nước, các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam họ đã được hưởng gì? Họ đã có tội tình gì? Trong khi đó những người tự nguyện theo giặc từ thuở thiếu thời lại không biết thẹn mà cứ nhân danh này nọ - danh dự gì đó nữa mà nhân danh - để lừa gạt vô số con em vào chỗ chết.

Có nghề gì phát đạt hơn, nuôi một con gà còn tốn kém, chứ thanh thiếu niên miền Nam này họ có có trách nhiệm gì đâu, sẽ hết Thiệu này đến Thiệu khác. Họ coi Tu sĩ, học sinh… chỉ là những cây thịt tươi ngon, họ thèm lắm. Kiếm được mười ngàn cây là tổ chức được một sư đoàn, tiền súng tiền hòm vải trăm triệu thì họ lại xin được ba trăm triệu, lời chán, con ai chết mặc kệ, họ nuôi được con họ nước ngoài sung sướng chờ ngày về nối nghiệp ông cha. Phải chăng họ đã trở thành những con cá sấu, những con cọp già ngồi ngồi ho lụ khụ trên quê hương gục chết, trên nghĩa địa hết đất chôn, bên những rừng quan tài bia mộ, đã được phủ lên một lá cờ xỏ lá của giặc Tây, một anh dũng bội tinh của giặc Mỹ để cho tương lai phán xét những nấm mồ uất từ này, mà ai là kẻ biện minh. Thật là bi thảm.

Bản chất của thực dân là tên lái buôn không hơn không kém, nếu họ thấy không lời nữa là cuốn gói đi ngay, tôi tớ làm giày họ đứt luôn cho rảnh, như họ đã từng làm như vậy trên phần đất bi thảm này, để tạ ơn cho những cò mồi bất lực, những con chó săn rũ gối gầy gò.

Giờ này trước mắt nhân loại và dưới gót giày dân tộc Việt Nam, giặc Mỹ đã gục gần hết rồi, hỏi những đứa con theo giặc đã chịu trở về bên gối mẹ hay chưa, để đắp lại những mồ mả do mình giẫm nát hay chưa?

Phật dạy: Có hai hạng người mạnh nhất. Một là vô tội, hai là có tội mà biết ăn năn.

Người Mỹ lột hết nhãn hiệu ra thì họ chẳng còn gì. Người Việt với nhau, lột hết nhãn hiệu, vẫn còn y nguyên tình tự dân tộc. Sanh đây thì ở lại đây.

Một trăm năm mất nước cũng là một trăm năm đòi độc lập.

Cuộc chiến một trăm năm qua và cho tới giờ này vẫn thuần túy là một cuộc chiến tranh giành độc lập. Cứu nước là nhân danh dân tộc cứu nước, chứ không phải nhân danh phe nào, phái nào. Đảng nào đạo nào có cứu nước, đó là trách nhiệm tự nhiên, là phương tiện nhất thời.

Còn nhân danh phe này phái nọ mà vô tình bán nước tốt lắm sao?

Một gia đình 10 đứa con, kẻ cướp vào nhà đe dọa. 8 đứa kém tài năng trí đức, lần hồi theo giặc giết cha hại mẹ, chia phần lợi dưỡng với giặc, nhưng vẫn còn vài đứa kiên tâm cả chí, trầy da phỏng trán đuổi giặc khỏi nhà, nó xấu lắm sao? Run sợ thành công của nó sao, mà cứ vu khống nó, chưởi mắng nó, đánh đập nó, chưa thôi?!

Có người còn cả vú lấp miệng em, sợ nghe tiếng nó khóc, như sợ những dòng sông nhỏ chảy vào biển lớn. Nhưng có sao đâu? Từ xưa đến nay không đủ chứng minh rằng văn minh Việt Nam là một đại dương, các trào lưu tư tưởng chỉ là những dòng sông nhỏ mọn mới mẻ, hay chỉ là những vật liệu cho bác thợ hồ. Có bao giờ biển cả e ngại những dòng sông, có bao giờ dòng sông từ chối biển cả, cũng như bác thợ hồ nào không nhận được vật liệu mà xây cất được ngôi nhà.

Ở đây có người còn run sợ cả hương linh Hồ Chủ tịch, như quỷ La Sát bên Tàu khi nghe khấn đến tên Hưng Đạo Đại vương. Cụ Hồ cũng là người Việt, đâu phải oan hồn giặc Mỹ. Tên thật của Cụ là Nguyễn Sinh Cung, con cụ Phó bảng Nguyên Sinh Huy, nhà đại ái quốc. Khi Pháp đày cha già, thì Cụ theo cha vào Nam. Xuất gia học đạo với Hòa Thượng Trí Thiền (sau này Ngài bị Pháp đày chết ngoài Côn đảo) và cùng Hòa Thượng Hoằng Đạo, Cư sĩ Nguyễn Quang Diêu, Cử Hoành … làm cách mạng. Và có lẽ cũng vì từ Lê Hoàng, Lý Công Uẩn, Lê Lợi, Quang Trung, trực tiếp hay gián tiếp xuất thân từ thiền môn cứu nước, giặc Mỹ biết vậy nên rất căm thù Phật giáo là phải. Ngày 27.10.1929 Cụ Huy qua đời. Năm 1945 nhân dân ba tỉnh miền Tây lập mộ Cụ trong vườn chùa Hòa Long, Cao Lãnh. Ngu tăng này có đến đó.

Có người ở đây lại nghe Tây rồi Mỹ tuyên truyền – ai đời lại nghe giặc nói nên họ rất ngán chính phủ cách mạng, nhưng mười năm gần đây, vâng lệnh giáo hội công tác nhiều lần khắp nước, nhất là miền Nam, lắm lúc vô tình lại thuyết pháp ở các vùng giải phóng kiểm soát. Ở đó chùa chiền vẫn được sửa chữa lại, thờ Phật, Ông Bà, thờ Cụ Hồ, có nơi còn thờ cả Ngô Đình Diệm nữa. Lại được biết có nhiều oan hồn về kêu quyến thuộc rước linh vô chùa. Vả là sống ai cũng nương chùa tu, qua đời ai cũng nương chùa mà siêu thoát. “Mái chùa che chở hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông”. Không nghe oan hồn nào lại kêu quyến thuộc đưa họ vô dinh toàn quyền giặc Mỹ để được siêu độ. Các nơi, có những buổi thuyết pháp cũng hàng vạn Phật tử về nghe thích thú, có sao đâu. Có khác chăng là những vùng ấy không bị ốp chùa bắt lính, không ai đói rách, không có tham nhũng nhưng thường bị Mỹ oanh tạc pháo kích bừa bãi cũng chẳng sao, vì ruộng vườn mênh mông bát ngát, và hơn nữa tôi cũng đã từng sống với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chín năm kháng Pháp tại Bình Định, Phú Yên … có chi đâu.

Giờ này người Việt ở bất cứ nơi nào trên mảnh đất bi hùng này cũng phải trung kiên với tổ quốc, hiếu hạnh với mọi người, khó khăn nào rồi cũng sẽ vượt qua, nhiệm vụ nào rồi cũng sẽ hoàn thành và kẻ thù nào rồi đây cũng sẽ được tha thứ. Đó là truyền thống văn minh dân tộc Việt trên bình diện lương tâm và danh dự.

Giặc Mỹ đã cướp nước giết dân, diệt đạo tàn ác dã man vô tiền khoáng hậu.

Kính thưa quý liệt vị ở đây, và toàn thể đồng bào, báo chí trong và ngoài nước.

Kính thưa nhân dân các nước có sứ quán tại đây. Kính thưa tất cả rằng sự thật ở đây là như vậy đó, nhưng trải qua nhiều thế hệ, Việt Nam bị chính sách ngu dân của Pháp và Hoa Kỳ, do đó dân tình nào có biết chi cho lắm.

Tôi đã trình bày đại lược trên căn bản hiệp định Paris về Việt Nam với trách nhiệm của một nhà tu, một nhà lãnh đạo Phật giáo, một nhà báo, một hậu duệ hoàng tộc Lê triều. Một lần nữa nghiêm chỉnh xác nhận rằng: Việt Nam đã được độc lập thống nhất từ ngày 2.9.1945 rồi. Tất cả những đổ vỡ tang thương từ ngày 4.8.1953 đến nay trên toàn cõi Việt Nam này, Quốc hội và chánh phủ Hoa Kỳ phải lãnh lấy tất cả tội lỗi và trách nhiệm.

4.000.000 oan hồn Việt Mỹ đang ngày đêm réo gọi Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, lương tâm quốc tế, tòa án quốc tế, ICCS, khẩn cấp can thiệp, để cứu lấy những người Việt còn sống sót tại xứ này sau hiệp định Paris. Nhất là thanh thiếu niên miền Nam Việt Nam trong các học đường và Tôn giáo đang bị Mỹ dùng bạo quyền vơ vét tất cả đưa đi hành quyết, như Hitler tận diệt dân Do Thái!

Trân trọng cám ơn và kính chào tất cả.

(Được kết thúc lời thuyết trình bằng nhiều tràng pháo tay vang dậy hội trường).

*Do Phong trào Nhân dân miền Nam Việt Nam chống lệnh Tổng Động Viên phổ biến.

Kính gởi: -Tổng Thống, Quốc hội và nhân dân Hoa Kỳ.

-Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ VI Vatican, và tín đồ Thiên Chúa giáo thế giới.

-Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, các Tổ chức Nhân Quyền Quốc Tế, Lương tâm Quốc tế, Tòa án Quốc tế.

-Các sứ quán tại Sài gòn, chánh phủ và nhân dân các nước có Sứ quán tại Sài gòn,

 ICCS, Ủy Ban Quân Sự 4 bên, đồng bào khắp nước, qua các phương tiện truyền thông quốc nội và quốc tế.

ĐỌC MAU - CHUYỂN NHANH – IN NHIỀU - PHỔ BIẾN HỎA TỐC.”

(Đánh máy lại nguyên văn)

Tiền Giang: Cáo phó Hòa thượng Thích Liễu Minh

(PGVN)

Lễ nhập quan chính thức cử hành lúc 9 giờ, ngày 21/10/2015 (9/9/Ất Mùi). Kim quan nhục thân cố Hòa thượng được tôn trí tại chùa Nhơn Phước (xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, Tiền Giang).

 
HT.Thích Liễu Minh là một bậc cao tăng thạc đức của Phật giáo Việt Nam, sau thời gian trọng bệnh, mặc dù được môn đồ pháp quyến cùng các y, bác sĩ bệnh viện Trung tâm Đa khoa Tiền Giang tận tình chăm sóc, điều trị nhưng do tuổi cao sức yếu, Hòa thượng đã thuận thế vô thường, thâu thần thị tịch vào lúc 17 giờ 45 phút, ngày 20/10/2015 (8/9/Ất Mùi). 

Trụ thế: 82 xuân. Pháp lạp: 62 thu.
Lễ nhập quan chính thức cử hành lúc 9 giờ, ngày 21/10/2015 (99Ất Mùi).
Kim quan nhục thân cố Hòa thượng được tôn trí tại chùa Nhơn Phước (xã Tam Hiệp, huyện Châu Thành, Tiền Giang).
Lễ viếng bắt đầu lúc 13 giờ ngày 21/10/2015 (9/9/Ất Mùi).
Lễ tưởng niệm vào lúc 8 giờ ngày 24/10/2015 (12/9/Ất Mùi), sau đó cung tiễn kim quan nhục thân cố Hòa thượng nhập Bảo tháp tại khuôn viên chùa Nhơn Phước.

BTC
Ý kiến bạn đọc
03/12/201721:32
Khách
3000 tăng không đủ số tổ chức 12 Trung đoàn, chỉ 12 Tiểu đoàn là tối đa ,chuyện tổng động viên Tu sĩ thời ông Thiệu chưa thi hành thì mất miền Nam ,ông Quãng Ba chưa ăn cơm lính ngày nào Quốc gia Hưng vong thất phu hửu trách. Không lẽ tụi tôi cầm súng chống cs để các ông Tu hành ,là Thanh niên các ông Tu sĩ phải có trách nhiệm với Quê hương chứ ./
03/12/201721:31
Khách
3000 tăng không đủ số tổ chức 12 Trung đoàn, chỉ 12 Tiểu đoàn là tối đa ,chuyện tổng động viên Tu sĩ thời ông Thiệu chưa thi hành thì mất miền Nam ,ông Quãng Ba chưa ăn cơm lính ngày nào Quốc gia Hưng vong thất phu hửu trách. Không lẽ tụi tôi cầm súng chống cs để các ông Tu hành ,là Thanh niên các ông Tu sĩ phải có trách nhiệm với Quê hương chứ ./
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn