Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn

19/02/201115:55(Xem: 1759)
Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
HT_Huyen Ton (16)

Đức Trưởng Lão 
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn




Thân thế:

Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, đệ tử của Đệ Lục Tổ Sư Thiên Ấn Tự, Hòa Thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung, thế danh Nguyễn Thái Long, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, pháp hiệu Huyền Tôn. Ngài sinh năm Mậu Thìn (1928.Việt lịch: 4807) tại làng Châu Nhai, Huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Thân phụ, bán thế xuất gia là Đại Sư thượng Như hạ Quý (1874-1942), Thân mẫu là Cụ bà Thái Thị Túc, pháp danh Như Chỉnh, tự Giải Lý (1891-1945).

- Năm 1931, 3 tuổi, được Cha Mẹ cho đi học chữ Nho qua các bộ Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Minh Tâm Bảo Giám, Gia huấn...
- Năm 1933, 5 tuổi, được Thân phụ cho học thuộc lòng 2 thời Kinh công phu và bộ luật Tỳ Ni. Đêm trăng, còn được học võ qua các bài: Ngọc Trản, Song kiếm, Xung thiên đề đao, Nam trường quyền.

- Năm 1934 (Giáp Tuất), 6 tuổi, cùng với Thân phụ xuất gia tại Tổ Đình Thiên Ấn, được Sư Phụ là Hòa Thượng Tăng Cang đạo hiệu Chơn Trung ban cho pháp danh Như Kế. Đại Lão Hòa Thượng Chơn Trung là một bậc uyên thâm về Nho học, làu thông về khoa Du Già (62 bộ ấn chú Mật giáo) và Bộ Kinh Bảo Tích. Ngài có công hạnh sáng lập và tu bổ 6 ngôi Chùa: Viên Giác (Núi Thình Thình), Bảo Lâm, Quang Lộc, Kim Liên, Long Sơn và Khánh Vân. Đệ tử của Ngài gồm có 14 Tỳ Khưu, 81 Sa Di, 14 Sư Cô và truyền Tam quy Ngũ giới cho hơn 1000 đệ tử tại gia. Chùa Viên Giác trên Núi Thình Thình, lúc nào cũng có hơn 10 đệ tử Tịnh nhơn thường trú làm công quả, mỗi kỳ Lễ lớn như Rằm Tháng Giêng, Rằm Tháng Bảy và tết Nguyên Đán, có từ 5 đến 7 ngàn đồng bào Phật tử về tham dự.

- Năm 1941 (Tân Tị), 13 tuổi, Hòa Thượng được Sư Phụ cho thọ Sa Di tại Giới Đàn Viên Giác, pháp tự là Giải Tích.
-  Năm 1948 (Mậu Tý), 20 tuổi, Hòa Thượng được thọ Cụ Túc Giới tại Giới Đàn Viên Giác, pháp hiệu Huyền Tôn. 
- Từ năm 1941, Hòa Thượng theo học tại các Phật Học Đường: Tây Thiên (1941-1945, Giáo Thọ Sư là HT Quy Thiện), Viên Giác (năm Mậu Tuất-1958)- Tốt nghiệp Cử Nhân Hán Học thuộc Bộ Giáo Dục Quốc Gia VN (năm Canh Tý-1960).

Đạo Nghiệp:

- Năm 1945 (Ất Dậu), 17 tuổi, được Hòa Thượng Tăng Cang cung cử làm Thủ Tọa Chùa Viên Giác, thay thế cho vị Trụ Trì đã về quê. HT đã đem pháp Lục Hòa để giải tỏa và dung thông "tập đoàn quyền hành" Tri sự, Hương đăng, Thủ khố, Tri khách... đã có từ trước tại Viên Giác, mang lại sự bình đẳng và an lạc cho ngôi Già Lam này.

- Năm 1945 đến 1947, Hòa Thượng chịu nhiều lao khổ để bảo vệ Tăng chúng và Chùa Viên Giác dưới ách thống trị của chính quyền Việt Minh.

- Năm 1947-1951, tiếp mật chỉ của HT Huyền Quang “Thành lập PG Liên khu 5”, Hòa Thượng đi bộ vào Tổ Đình Thập Tháp để cùng chư Tôn Đức như quý Ngài: HT Huyền Quang, Giác Tánh, Tâm Hoàn, Bảo An, Kế Châu, Như Thắng, Như Phẩm, Như Kế, Đồng Từ, Thiện Duyên... thành lập đoàn Thanh Niên Tăng 12 vị do HT Huyền Quang làm Thư ký,  để thăm viếng tất cả các chùa và thuyết giảng từ miền duyên hải cho đến sơn cùng. Trên bước đường hoằng pháp, Hòa Thượng đã đi về giữa 2 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi gồm 3 lần đi bộ, ước chừng 340 km cho 1 năm và 4 tháng trên đường trường. Riêng tại Bình Định: Kỳ Sơn, Qui Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Háo Lễ, Bồng Sơn, Tam Quan, Chương Hòa …có vài lược đi xe “Gòn”.

- Năm 1948-1949, sau khóa huấn luyện Thập Tháp, Tăng đoàn làm việc ở Chương Hòa, Chùa Thắng Quang gần biên giới Quảng Ngãi. Nhân đó, Tăng đoàn qua biên giới làm việc trong tám ngày cho 2 quận Sa Huỳnh và Đức phổ. Hòa Thượng đã chia tay với Tăng Đoàn về luôn Quảng Ngãi để lo Phật sự với sơn môn.

- Năm 1950-1952, Hòa Thượng cùng quý Ngài Trí Hữu, Chí Thiện, Quang Thể, Đồng Chơn hoằng pháp tại Quảng Ngãi và Quảng Nam.

- Năm 1953, Hòa Thượng ra Chùa Từ Đàm, Huế để tường trình Phật sự địa phương với HT. Trí Quang và HT Mật Nguyện. Cũng trong năm này, Hòa Thượng đã gặp HT Tâm Châu từ Bắc mới vào Huế.

- Năm 1954-1959, Hòa Thượng được công cử làm Tổng Thư Ký cho Hội An Nam Phật Học dưới sự Lãnh đạo của HT Thích Trí Quang, Hội đặt trụ sở tại Chùa Hội Phước (Quảng Ngãi), nhân sự gồm có các Hòa Thượng: Giải An, Huyền Đạt, Huyền Tấn, Huyền Tế, Huyền Kính, Giải Hậu và toàn Sơn-Môn 171 Tăng. Về phía Cư Sĩ có Đh Dung, Bùi Toàn, ông Phùng, anh Nhập v.v… Thường trú trong chùa: Thầy Huyền Tôn, Thầy Giải Hậu. Trải qua 6 năm, Hòa Thượng một mình đi bộ, đi xe đạp, xích lô, suốt qua 7 quận huyện, hơn 50 làng xã của Quảng Ngãi, và 2 năm đi bộ giữa Quảng Ngãi và Bình Định cùng với Tăng đoàn tỉnh ấy làm việc không ngừng. Riêng tại Quảng Ngãi Hòa Thượng đã đem về cho tỉnh nhà 25 khuôn hội. Mỗi khuôn hội từ 70 đến 300 hội viên. Tính trung bình có khoảng 5 đến 7 ngàn  Phật Tử. Tỉnh Bình Định nhờ đạo lực của các Ngài Huyền Quang, Giác Tánh, PG rạng rỡ như thủy triều dâng của buổi ban mai.

- Từ năm 1954-1960, Hòa Thượng là Giáo Sư Phật học tại các Phật Học Đường Bảo Lâm (Mỹ Khê, Quảng Ngãi), Phật Học Đường Kim Liên (Tịnh Giang, Quảng Ngãi).

- Năm 1960 (Canh Tý), Hòa Thượng trao lại công việc chùa cho Sư huynh Giải Hậu và theo lời mời của HT Thích Thiện Hòa, Giám Đốc Phật Học Đường Nam Việt (Ấn Quang) vào Sài Gòn nhận dạy lớp Trung Đẳng Phật Học cho 60 Tăng sinh tại chùa Minh Quang ở gần đường Trương Minh Giảng. HT Thiện Hòa là bậc tu hành chơn chánh, Ngài theo kệ truyền thừa của môn phái Lâm Tế Chúc Thánh mà đối xử, xem Hòa Thượng chữ “Như” vào hàng Sư huynh, vì HT Huyền Tôn, gọi HT Khánh-Anh, Pháp chủ PGMN là Sư thúc.

- Năm 1960-1970, Hòa Thượng cùng HT Thanh Kiểm làm việc trong Ban Phiên Dịch của Ban Tu Thư Bộ Văn Hóa Giáo Dục Quốc Gia do Cụ Nguyễn Thọ Dực làm Trưởng Ban và Cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục. HT Tài Quan đã giới thiệu HT Huyền Tôn cho Ban Phiên Dịch Hán Cổ khi Hòa Thượng từ miền Trung mới vào Nam.

- Năm 1963, Hòa Thượng gặp nhiều lao khổ trong cuộc tranh đấu PG chống lại chính quyền nhà Ngô, Hòa Thượng cùng với Thầy Chơn Ngữ mang huyết thư của Ủy Ban Liên Phái đến Tổ Đình Ấn Quang nhưng bị lộ và bị bắt bỏ tù, bị đánh đập, vết thẹo hằn sâu trên lưng vẫn còn gây đau nhức. Thầy Chơn Ngữ là người đã vâng lệnh HT Quảng Đức tưới xăng lên người trước khi Ngài tự châm lửa tự thiêu.

- Từ năm 1964 đến 1974, Hòa Thượng là Giảng Sư của Viện Hóa Đạo. 
- Năm 1965, Hòa Thượng được cử làm Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ Phật Đản Ất Tỵ tại Tỉnh Gia Định. 
- Từ năm 1960-1962,  Hòa Thượng là Giáo Sư Phật học tại Phật Học Đường Quang Minh (Sài Gòn).
- Từ năm 1969-1972, Hòa Thượng là Giáo sư Trung học dạy học tại Trường Bồ Đề ở Sài Gòn. Hiệu trưởng là HT Quảng Liên, đồng nghiệp với Hòa Thượng lúc này có Thầy Đức Niệm, Thầy Thanh Trúc.

- Năm 1969 (Kỷ Dậu), 42 tuổi, được Viện Hóa Đạo tấn phong Giáo Phẩm Thượng Tọa.
- Từ năm 1969-1972, Hòa Thượng được HT Trí Thủ mời làm Chánh Đại Diện Phật Giáo Tỉnh Gia Định.
- Từ năm 1960 đến 1975, Hòa Thượng là ký giả và dịch giả cho các tờ báo: Báo Hoằng Pháp của Viện Hóa Đạo, Tuần Báo An Lạc (Chùa Quan Âm, Phú Nhuận), Tin Sớm (chủ bút: Nguyễn An Ca), Tiền Tuyến của Quân đội VNCH, Xuân của Thông Tin v.v… với bút hiệu Lĩnh Nam và Hạo Gia. Soạn lịch Âm Dương. Dịch truyện chưởng cho tờ Trắng Đen. Các chuyện khác: Kỳ nữ Tố Nga, Chuyện cấm đọc đêm 30, Hùm thiêng ba móng (Truyện dài nhiều kỳ), Con Khỉ khôn và Cá Sấu, Tiếng mõ đêm 30 (truyện ngắn)…Dịch sách cho nhóm Tàu Chợ Lớn. Đó là những tác phẩm bán bản quyền.

- Năm 1979 (Kỷ Mùi), Hòa Thượng bị Cục R của CS dọa dẫm, bắt buộc phải làm việc theo lịnh của họ, cho nên Hòa Thượng quyết định lên đường vượt biên vào ngày 9-3-1979, sau 9 ngày lênh đênh trên biển cả, Hòa Thượng đã đến được Trại Tỵ Nạn trên đảo Pulau Bidong, Malaysia và lưu trú tại đây một năm 2 tháng. Tại Chùa Từ Bi trên Đảo, HT thành lập Ban Đại diện PG, Hòa Thượng làm Chủ Tịch, Thầy Nguyên Hạnh làm Thư-ký, các Thầy Thiện-Đạt, Minh Mẫn, Minh Cường, Thiện Huệ và 9 Sư Cô…thành lập GĐPT Long-Hoa. TS Nhất Hạnh 2 lần gởi tiền $500 & $2000 Mỹ Kim, HT Huyền Tôn đại diện nhận và đổi ra tiền Mã Lai để phát ra cho đồng bào tỵ nạn trên đảo.

- Năm 1980, Hòa Thượng đến định cư tại Melbourne, Australia.

- Năm 1981 (Tân Dậu), Hòa Thượng là đồng sáng lập và làm Hội Trưởng Hội PGVN tại Victoria. 
- Năm 1981, Hòa Thượng khai sơn Chùa Đại Bi Quan Âm tại Victoria.

- Năm 1982, Hòa Thượng và Hội bảo lãnh 41 Gia đình sang Úc định cư tỵ nạn qua diện Phật Giáo bảo trợ.
- Năm 1982, Hòa Thượng và Hội can thiệp thành công đưa 700 em cô nhi đến Mỹ định cư. HT HuyềnTôn đã nhân danh Hội Trưởng Hội PGVN tại Victoria, đến gặp Ngài Cao Ủy Tị Nạn Sắc Tộc của Úc để can thiệp và Cao Ủy Tỵ Nạn đã đồng ý tiếp nhận.

 - Năm 1983 (Giáp Tý), Hòa Thượng là thành viên đồng sáng lập GHPGVNTN Úc Châu-Tân Tây Lan.

- Năm 1983 đến 1987, Hòa Thượng là đệ nhất Phó Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm 3 Tổng Vụ: Giáo Luật, Tăng Sự và Hoằng Pháp.

- Năm 1983-1987, Hòa Thượng làm Chủ Bút Báo PGVN Úc Châu.

- Năm 1986-1914: Hòa Thượng là Đàn chủ Gia Trì Sư tại 15 pháp hội Chẩn tế Bạt độ Âm linh Cô hồn tại các chùa thành viên tự viện của GH trên toàn liên bang Úc Đại Lợi.

- Năm 1989: Hòa Thượng là Yết Ma A Xà Lê Sư tại Giới Đàn Phước Huệ.

- Năm 1992: Hòa Thượng kiến tạo Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự, vùng Essendon, Victoria.

- Năm 1992-1999, Hòa Thượng là Chủ tịch Hội Tài Trợ Tăng Ni, Tự Viện VN (Tổng Kết số tiền tài trợ: $46,875.00. (Hội có 21 thành viên; ChủTịch: HT Huyền Tôn, Thư ký: Đh.Tâm Mãn, Trưởng Ban Vận Động: Đh. Bảo Minh Đạo, Thủ quỹ: Đh.Bảo Diệu Ngọc)

- Năm 1993 (Quý Dậu), 66 tuổi, Ngài được tấn phong lên Giáo phẩm Hòa Thượng.
- Năm 1995, Hòa Thượng là Giáo Thọ Sư tại Giới Đàn Phước Huệ.

- Năm 1999 (Kỷ Mão), Hòa Thượng là thành viên đồng sáng lập Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL (tại Chùa Pháp Bảo, Sydney).
- Từ năm 1999 (Kỷ Mão), Hòa Thượng là Thành viên Hội Đồng Chứng Minh của Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL

- Năm 2005, Hòa Thượng được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa Thượng tại Giới Đàn tổ chức tại Tu Viện Vạn Hạnh, Canberra, do HT Quảng Ba làm Đàn Chủ.

- Từ năm 2011 (Tân Mão), Hòa Thượng là Tăng Giáo Trưởng của GHPGVNTNHN UĐL-TTL.
- Từ năm 2012 (Nhâm Thìn), Hòa Thượng cùng TT Tâm Phương chủ trương Bố Tát định kỳ mỗi tháng cho Tăng Đoàn tại Victoria và Hòa Thượng luôn có mặt tham dự.

- Hiện nay Hòa Thượng là Phương Trượng Bảo Vương Tự tọa lạc tại vùng Ardeer, Victoria, Australia.


Tác phẩm của Hòa Thượng đã in:

 

- Chư Kinh Mật Giáo 
- Kinh Vu Lan Bồn; 
- Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân;
- Kinh Hiền Kiếp Thiên Phật Danh; 
- Kinh Bát Đại Nhơn Giác;
- 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật

- Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi; 
- Cực Tịnh Sanh Động
- 5000 Việt Lịch (đang biên soạn, TT Nguyên Tạng sẽ hoàn chỉnh và in ấn trong tương lai).

 

 

Suốt 36 năm định cư tại Úc Châu, với vai trò của một nhà truyền giáo, Đức Trưởng Lão HT Thích Huyền Tôn đã giảng nói hàng ngàn bài pháp trợ đạo, dắt dẫn con người trở nên hiền lương, tốt đẹp, tự tại an lành, bình đẳng nhân ái cho xã hội. HT đã làm theo lời Phật dạy trong bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Q7), phát tâm tạo ấn bản Thần Chú "Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra” để biếu tặng cho đồng hương Phật tử, ngõ hầu giải trừ ma bịnh, linh nghiệm an tường, đã có hơn 2700 ấn bản được phát tặng. HT luôn chí tâm lục hòa với tất cả Chư Tôn Pháp lữ trong Giáo Hội suốt từ 1980 đến nay (2016). Riêng tại Chùa Bảo Vương, nơi trụ xứ hằng tuần mỗi Chủ Nhật đều có thời giảng dạy Phật Pháp, tụng kinh, khóa lễ kỳ an, kỳ siêu cùng với 50 hay 70 Phật tử. Các lễ lớn đều tổ chức trang nghiêm và đông đúc. Tuy lặng lẽ âm thầm nhưng hoan hỷ, vui vẻ, yên hòa cho mọi người, bình an cho mọi sinh hoạt. Ai có tu trì sẽ tận hưởng niềm an lạc ấy./.

 Thien Bach Nien Lai

 

 

 Thu But cua Hoa Thuong Thich Huyen Ton


Liên lạc:

HT. Thích Huyền Tôn
Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự
2A Mc Laughlin St
Ardeer, Vic 3022
Australia
Tel: 613. 9266 1282
Mob: 61. 0435 242 775

 
Xem tác phẩm của HT Thích Huyền Tôn
kinhdugia-diemkhau_biatruoc1
 Bia_2_Kỷ Yếu Tri Ân Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn-1
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/05/202003:48(Xem: 7325)
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của Ngài cao hơn núi cao Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu hơn biển sâu Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô diễn
06/05/202004:19(Xem: 2707)
Tiểu sử Đức Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN – Đại Lão Hòa Thượng THÍCH TỊNH KHIẾT , Đệ nhất Tăng Thống - HT Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng thế danh là NGUYỄN VĂN KỈNH. Ngài sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (nhằm ngày 17.12.1891)(1) tại làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Nay là thôn Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của ngài là cụ Nguyễn Văn Toán, thân mẫu là cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con thứ hai(2). Bào huynh là Hòa Thượng Trừng Hương – Tịnh Hạnh (chúng tôi chưa tìm thấy thế danh của ngài). Hòa Thượng Tịnh Hạnh sinh năm Kỷ Sửu, 1889; xuất gia năm Ất Tỵ, 1905; thọ Cụ-túc giới năm Canh Tuất, 1910; trụ trì chùa Tường Vân, Huế; viên tịch năm Quý Dậu, 1933.
04/05/202006:21(Xem: 3045)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
02/05/202005:16(Xem: 15443)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được tin buồn: Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 21 giờ 20 phút ngày Thứ Bảy 22/02/2020 nhằm ngày 29/01 Âm lịch năm Canh Tý, Phật lịch 2563 tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, Sài Gòn. Trụ thế: 93 năm. Chương trình tang lễ sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất có thể. Chúng con thành kính nguyện cầu Đức Đại Lão Hòa Thượng Cao Đăng Phật Quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta Ba để tiếp tục công cuộc hoằng Pháp lợi sanh. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
05/05/202006:23(Xem: 11275)
Như Áng Mây Bay là một phần thành quả của sự huân tập ý đạo, là một phần của cuộc hành trình đầy mạo hiểm mà ta gọi là kiếp người.
04/10/202016:36(Xem: 1052)
Hoà Thượng Trú Trì chùa Đức Lâm, Pháp Danh thượng Như hạ Thích, Pháp Tự thượng Giải hạ Thiện, thuộc dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 41. Hoà Thượng thế danh là Lê Xiết, sanh năm 1941 tại xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ Ngài là cụ ông Lê Sáu. Thân mẫu Ngài là cụ bà Nguyễn Thị Mực. Hoà Thượng xuất thân trong một gia đình trung nông, thâm tín Tam Bảo. Hoà Thượng là người con thứ sáu trong gia đình có bảy chị em. Năm lên 8 tuổi, Ngài được thân phụ và thân mẫu cho phép về nương Hoà Thượng thượng Pháp hạ Bửu trú trì chùa Từ Quang, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi để xuất gia học đạo. Ở tuổi ấu thơ nhưng với bản tánh hiền hoà, giản dị, tinh cần chăm chỉ, tinh tấn, sớm kệ chiều kinh, công phu, chấp tác, nên Ngài được Hoà Thượng bổn sư và huynh đệ thương mến, nâng đỡ, dắt dìu.
04/09/202011:19(Xem: 1796)
Thư Khánh Tuế (Viện Tăng Thống, TK Thích Tuệ Sỹ)
14/07/202008:48(Xem: 4214)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được ai tin: Hòa Thượng Thích Phước Sơn (1937-2020) vừa thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 3h15 phút sáng nay 16/4/Canh Tý , Chủ Nhật ngày 07 tháng 6 năm 2020 tại Sài Gòn, Việt Nam. Chương trình tang lễ sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất có thể. Hòa Thượng Thích Phước Sơn là một bậc cao tăng thạc đức, một nhà Phật học lỗi lạc, một dịch giả, tác giả nổi tiếng, một giáo thọ sư của nhiều thế hệ tăng ni Việt Nam. Chúng con thành kính nguyện cầu Hòa Thượng tân viên tịch Cao Đăng Phật Quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta Ba để tiếp tục công cuộc hoằng Pháp lợi sanh. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật Chủ Biên Trang Nhà Quảng Đức Cựu học tăng tại Vạn Hạnh (khóa 3) TK. Thích Nguyên Tạng
28/06/202018:15(Xem: 1616)
Bức tượng được sơn son thếp vàng, tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen nằm đè lên.
11/01/201913:22(Xem: 3533)
Co lẽ mùa trăng Thành Đạo 2562 – 2018 sẽ khó quên đối với nhạc sĩ Hằng Vang và gia đình, khi giữa bao cơn lốc thực dụng xâm chiếm nhiều ngõ ngách cuộc sống và lấn sang cả khu vực luôn được bảo trọng của tâm hồn trong từng con người: Trái tim ! Nếu nói về một sự tưởng thưởng hay tri ân thì nhạc sĩ Hằng Vang có thể còn đi bên trên những khuôn sáo, danh vọng đó. Hơn thế nữa sẽ không ai có thể nhân danh để ghi nhận sự tận tâm , cống hiến gần cả cuộc đời cho âm nhạc Phật giáo mà không hề đòi hỏi một đồng lương, một phần thưởng nào trong suốt 86 năm dài tận tụy của người nhạc sĩ lão thành hiện đang còn sống duy nhất bên chúng ta.