Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Hai Cánh Bay Giải Thoát

16/03/201706:42(Xem: 1206)
Hai Cánh Bay Giải Thoát


hoa_sen (42)

HAI CÁNH BAY GIẢI THOÁT

Đức Hạnh

 

 Trong nghi thức Cầu Siêu của Phật Giáo Việt Nam, ở phần Quy Y Linh, có ba lời pháp ngữ: “Hương linh quy y PHẬT, đấng PHƯỚC TRÍ VẸN TOÀN – Hương linh quy y PHÁP, đạo THOÁT LY THAM DỤC – Hương linh quy y TĂNG, bậc TU HÀNH CAO TỘT” (chơn tâm – vô ngã).

      Ba lời pháp ngữ trên chính là ba điều kiện, ba phương tiện siêu xuất, có năng lực đưa hương linh (thân trung ấm) được siêu lên các cõi thiện tùy theo mức độ thiện nghiệp nhiều, ít của hương linh vốn được có khi làm người, chết mang theo. Do đã quy Phật, không bị đọa vào địa ngục. Hương linh quy Pháp không đọa ngạ quỷ. Hương linh quy Tăng không đọa bàng sanh (đường ác :địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) .

      Ba lời pháp ngữ trên cũng là lời kêu gọi hương linh đã quy y hay chưa quy y Tam Bảo lúc còn sống thì hãy phát nguyện quay về Tam Bảo ngay giờ phút hiện tại cầu siêu ấy, nghe Kinh và khởi tâm lễ bái. Nhờ thần lực và hào quang chư Phật, Bồ Tát soi sáng, che chở cho khỏi bị lạc vào sức níu kéo của ba đường ác.

      Ba lời pháp ngữ trên, cũng chính là lời nhắc nhở người còn sống, là thân bằng quyến thuộc, họ hàng nội ngọai, thân hữu của người chết đến dự lễ cầu siêu, nên hiểu ý nghĩa của chữ Siêu là cái tâm thật nhẹ nhàng, bay bổng lên cao như chiếc bong bóng có chứa chất khinh khí; tức là cái tâm trống rỗng, không còn tham, sân, si, chấp ngã, hết những tính tham lam danh lợi, phiền não ..., là chất SIÊU chứ không phải, hễ có cầu siêu là được siêu. Cho nên lễ cầu siêu được xây dựng trên ba lãnh vực: Hộ niệm lần cuối cho vong linh mở tâm tin Tam Bảo. Hai là, sự đền ân, đáp nghĩa của người sống đối với người chết. Ba là, nhắn nhủ người sống hãy nhớ lại lời Phật nói: SANH , GIÀ , BỊNH, CHẾT là khổ.

      Muốn thoát khỏi cái KHỔ Ở CÕI CHẾT, phải có chất SIÊU trong tâm lúc còn sống. Chính đó là tích lũy nghiệp thiện nhỏ hay lớn đang có trong bản thân ngũ uẩn tứ đại máu thịt, giống như hạt ngọc MANI, Kim cương bị gói trong miếng vải dơ. Bỏ miếng vải dơ đi, còn lại hạt ngọc MANI, Kim cương, tức là cái chơn tâm vô ngã, trong sáng... Tâm trong sáng vốn có ấy, cũng chính là cái CẬN TỬ NGHIỆP tốt nhất trong giờ phút lâm chung của người Phật tử biết tu tập Phật pháp về PHƯỚC và TRÍ. Hai phương tiện này có cùng độ SIÊU vẹn toàn cân bằng ngang nhau, dù nhỏ như hai cánh của những con phù du, chim sâu, chuồn chuồn... hay to lớn như hai cánh chim đại bàng, chim hạc, diều hâu, máy bay phản lực Boeing 787, hai chân con người, v.v... Tất cả phải được khỏe và mạnh ngang nhau, mới có thể bay cao, bay xa, chạy nhảy, đi đứng vững vàng. Nếu một trong hai cánh, chân trái, phải bị yếu, đau, tàn tật, thì nhất định không thể bay, không thể đi thẳng, bị đi xiêng, đi xẹo, đi cà lếch. Với con người, nếu có chân giả hay nạng. Nhưng sự đi đứng khập khễnh, không chính xác.

      Cũng như vậy, con đường giải thoát của người Phật tử được có, là phải hội đủ hai phương tiện PHƯỚC và TRÍ, dù cấp độ thấp để vãng sanh hạ phẩm hạ sanh, cũng phải vẹn toàn hai cánh bay ngang nhau. Ngược lại, không vẹn toàn, khó có thể được siêu! Giống như người bị mất một chân, có bao giờ leo được lên cây hay chạy nhảy!

      Qua đoạn luận trên, cho ta thấy hai cánh bay PHƯỚC TRÍ là điều kiện tiên quyết, rất quan trọng đối với những ai đi tìm cầu cho mình con đường giải thoát trong đạo Phật bằng phương tiện Phật pháp, cần phải tự kiến tạo qua quá trình học và tu tập Phật Pháp về PHƯỚC và TRÍ một cách song hành, không thể bị khuyết một trong hai. Nếu bị khuyết một trong hai, tức thì những tính nhân ngã, ngã sở, ngã kiến, v.v... trỗi dậy. Điều đó được thấy ở một số người giàu có thích làm việc phước thiện, Phật sự, bố thí, cúng dường, không thích tu tập Phật Pháp. Hay là những người khoa bảng, được gọi là trí thức thế gian, chỉ thích làm những công việc văn hóa Phật giáo, chứ không thích tu tập Phật Pháp. Cả hai công việc ấy được gọi là phước thiện. Dĩ nhiên, sẽ được có quả phước báo, do hành thiện bằng cái tâm khởi lên nhiều ý niệm về ngã, do đó không gọi là phước đức, công đức. Khi nào được gọi là công đức, là do có tâm vô ngã trong lúc hành động từ thiện, bố thí, cúng dường, phụng sự Đạo pháp trong mọi lãnh vực. Thì phước đó, là phước vô lậu, tức là vượt thoát mọi ý niệm về ngã, gọi là bố thí Ba la mật (qua bờ giác). Đúng như lời Phật đã dạy cho bốn chúng đệ tử của Phật: “Làm công việc từ thiện dù nhỏ hay lớn, đều phải được xây dựng trên tinh thần vô ngã.” Điều này được chứng minh qua câu truyện vua Lương Võ Đế đến thăm  Bồ Đề Đạt Ma. Sau lời thăm viếng và đãnh lễ, Vua Lương Võ Đế trình bày về quá trình phụng sự đạo pháp, nào là;  xây chùa, đúc tượng, in kinh sách, cúng dường vật chất để độ cho Tăng chúng tại các chùa cho Ngài Bồ Đề Đạt Ma được biết.

     Nghe xong lời nhà vua, Bồ Đề  Đạt Ma im lặng trong giây lát. Đoạn, nhìn  vua Lương Võ Đế bằng đôi mắt tròn xoe, rồi ra lời một cách dõng dạc : “KHÔNG CÓ CÔNG ĐỨC GÌ HẾT”. Sở dĩ  Đức Bồ Đề Đạt Ma nói lời phủ nhận công việc phụng sự đạo pháp của vua Lương Võ Đế,  không có công đức như vậy, là vì Ngài đã nhìn thấy rõ tâm vua Lương Võ Đế cầu danh, cầu phước báo hữu lậu, chứ không cầu con đường giải thoát bằng công đức vô lậu.

      Với người Phật tử Việt Nam, ắt hẳn ai cũng biết trong Đạo Phật có con đường giải thoát là cái tâm vô ngã đúng như lời Phật đã nói lời khẳng định rõ ràng như trên.

      Giáo pháp để cho người Phật tử khắp nơi trên thế giới tu tập kiến tạo hai cánh bay PHƯỚC và  TRÍ vượt thoát sinh tử, được Đức Phật thuyết giáo qua 5 thời suốt 45 năm, cách nay 26 thế kỷ. Tất cả đều chứa đựng nguyên lý giải thoát trong nhiều thứ Kinh của Phật. Kinh nào cũng khế lý, cũng phù hợp với căn cơ chúng sanh (bốn chúng đệ tử Phật) trên bước đường tu tập để phá trừ bản ngã thành VÔ NGÃ, là nền tảng kiến tạo hai cánh tay PHƯỚC và TRÍ.

      Nói khác hơn, toàn bộ Kinh điển mà Phật đã  thuyết cho những hành giả đi tìm con đường giải thoát ở năm Thừa: Nhân – Thiên – Thanh Văn – Duyên Giác – Bồ Tát và Nhứt Thừa (Phật Thừa) trong 5 thời, suốt 45 năm. Thừa nào (cỗ xe) Phật cũng đề cập đến lý giải thoát trong đó và hướng dẫn phương pháp tu tập để phá trừ mọi ý niệm về Ngã thành Vô ngã, là chất liệu kiến tạo hai cánh bay PHƯỚC và TRÍ không gì khác hơn, vì đó là phạm trù tư tưởng Phật giáo. Cho nên tất cả hành giả đi tìm con đường giải thoát trong đạo Phật, từ Nhân thừa trở lên đến Phật Thừa, ai cũng phải có hai cánh bay PHƯỚC TRÍ từ thấp đến cao, chứ đừng nghĩ rằng chỉ có các hành giả Bồ Tát thừa mới có thể tiến tới Phật thừa thành Phật. Muốn có Phước Trí Phật Thừa, hành giả phải kiến tạo Phước Trí của Nhân Thừa, Thiên Thừa... làm nền tảng, như đến cái đích của con đường dài trăm cây số, phải có bước khởi hành đầu tiên.

      Bước đầu tiên được xuất phát từ cái tâm mong muốn, có tính cách quyết liệt không chùng bước, dù là cái bước bằng đôi chân trên đường đất đá, nhựa (road – vật thể) để tiến tới mục tiêu nhắm đến ở cuối đường thiên lý, hay là bằng cái tâm sở nguyện trên đường (path – tinh thần) cứu khổ chúng sanh ngay thực tại hoặc nghe thấy ở đâu đó. Cả hai, đều được xuất phát từ cái tâm không do dự, quyết chí tiến đến, là sức mạnh làm nhân, để sau đó được kết quả đến đích, cứu khổ hiện thực.

      Hai cái quả đến đích và cứu khổ đều được thấy. Cái quả đến đích ở cuối đường thiên lý dễ thấy hơn, vì một khi đã đi là có đến.

      Còn cái quả cứu khổ chúng sanh được cả hai. Chúng sanh được an vui, hạnh phúc do được thoát khỏi cảnh khổ và người hành động cứu khổ thì được phước theo quy luật nhân quả.

      Phước, dù là vô tướng, nhưng vẫn được thấy rõ sau khi hành động thiện pháp. Điều đó được chứng minh rõ nét qua câu chuyện cứu khổ chúng sanh đầu tiên của tiền thân Đức Thích Ca Mâu Ni khi làm người trong vô lượng kiếp bị đọa vào địa ngục.

      Câu chuyện kể rằng: Tại địa ngục, Ngài và những người cùng khổ bị con quỷ cai ngục bắt vác những thùng phân hôi thối quá nặng đi đổ ở một nơi xa. Ngài vác xong, khi quay lui, Ngài nhìn thấy một người bạn mình đang hì hục đưa thùng phân lên vai hai, ba lần mà không được, vì quá gầy ốm, nên bị con quỷ cai ngục dùng cây gậy chĩa ba đánh đập thật tàn nhẫn.

      Trước cảnh tượng thân hình tiều tụy, gầy ốm của bạn mình bị con quỷ đánh ngã gục trên  đất. Ngài không cầm lòng được, tâm từ bi thương xót liền trỗi dậy, là năng lực bất chấp bạo lực của con quỷ, Ngài liền xông tới, dù cho bị con quỷ lớn tiếng nộ nạt, đưa gậy ngăn cản, nhưng ngài vẫn quyết liệt kê vai xuống vác giùm thùng phân nặng cho bạn mình, đem đến vị trí đổ phân.

      Sau những giờ phút hành thiện cứu khổ bạn mình bằng những hành động xông pha vác thùng phân, Ngài liền được thoát ra khỏi địa ngục, tái sanh lên cõi Người. Từ đó trong vô lượng kiếp làm người, dù ở giai cấp dân giả, thương gia, quý tộc, hoặc ở ngôi vị thái tử, Ngài luôn luôn có tâm từ bi biết thương yêu mọi người, từ trong quyến thuộc, ra ngoài xã hội thật bình đẳng, sẵn sàng hành động cứu khổ, giúp đỡ một cách tích cực, dù cho bị khổ lụy bản thân hay hy sinh tánh mạng, không từ nan vì xét thấy điều đó có lợi ích cho người và không quên tránh những điều ác không làm, vì xét thấy sẽ gây tác hại khổ đau cho chúng sinh, là con đường đọa lạc vào ba đường ác. Đây thuộc về trí tuệ do có nhận thức.

 

NHỮNG CÂU CHUYỆN TIỀN THÂN KHI LÀM NGƯỜI

1. Câu chuyện Thiện Hữu – Ác Hữu

       Ngài là Thiện Hữu, Ác Hữu là người anh cùng cha khác mẹ. Hai anh em cùng đi buôn các thứ ngọc trên biển. Thiện Hữu được nhiều đá quý hơn Ác Hữu. Do vậy trên đường về, qua đêm nghỉ lại ở một nơi, Ác Hữu đã gây thương tích trên đôi mắt Thiện Hữu đến nỗi bị mù, rồi tóm thâu hết ngọc báu của Thiện Hữu làm của riêng cho mình, bôn ba về nhà, bỏ Thiện Hữu ở lại, ra sao đó thì ra. Về đến nhà, Ác Hữu nói với mẹ rằng: em Thiện Hữu đã bị quân cướp giết chết và lấy hết của báu ...

2. Câu chuyện Cặp Mắt Thái Tử Câu Na La

      Câu chuyện kể rằng, thái tử Câu Na La bị bà mẹ kế (dì ghẻ) âm mưu sát hại để cho người con chính thức của bà được lên ngôi vua. Do vậy bà mới giả vờ bịnh nặng không có thuốc gì chữa được. Chỉ có một thứ thuốc chữa được,đó là đôi mắt của thái tử Câu Na La. Khi vua cha được nghe các ngự y trình bày như vậy, bèn truyền lệnh móc mắt thái tử để làm thuốc chữa bệnh cho hoàng hậu …

3. Câu chuyện Thái Tử Tu Đại Noa

      Câu chuyện kể rằng, một hôm Thái tử dẫn vợ và hai đứa con một trai, một gái đi dạo chơi tại một ngọn đồi đầy cây xanh, hoa cỏ thật đẹp gần một xóm dân nghèo. Đang ngoạn cảnh, thì có một ông lão nghèo khổ xuất hiện. Ông lão chắp tay vái chào thái tử, than rằng; thân già, nghèo khổ, không ai chăm sóc, thật neo đơn, buồn lắm. Vậy kính xin thái tử bố thí cho bà vợ để được an vui tuổi già. Thế là thái tử nói lời pháp bố thí thân mạng, là một phước báu lớn cho bà vợ nghe. Sau khi nghe rồi, bà vợ từ giã thái tử và hai con của mình, theo ông già xuống đồi và vào nhà ổng ở xóm nghèo, dù cho hai con khóc kể, bà mẹ vẫn đi...

      Sau khi bà vợ đi theo ông già, thì lại có  một bà lão từ trong xóm đi lên. Rồi cũng chắp tay trước thái tử, nói lời than rằng, tuổi già thật cô đơn, buồn lắm, không có con cháu làm vui. Vậy kính xin thái tử bố thí cho hai đứa con để nuôi làm con trong nhà cho vui cuộc đời ở tuổi già.

      Thái Tử liền đồng ý cho hai con cho bà lão. Nghe vậy hai đứa trẻ liền la khóc. Nhưng sau khi nghe lời người cha giảng giải về pháp bố thí, giúp người già cả sẽ được nhiều phước báu lớn ở kiếp sau, cho nên hai đứa trẻ liền vui vẻ, bằng lòng đi theo bà già về nhà bà ở dưới xóm nghèo…

   Trong sách truyện tiền thân của PHẬT, ngoài làm người, còn có những câu chuyện làm thân các loài vật: voi, nai, thỏ, sư tử v.v..., như chuyện con sư tử trọng pháp. Tức là nhìn thấy tên thợ săn khoác áo cà sa, nên sư tử quỳ lạy, liền bị tên thợ săn dương cung bắn chết, đem bộ lông dâng lên cho nhà vua để lấy nghìn lượng vàng. Hoặc câu con thỏ rừng dâng thịt cho vị thiền sư. Truyện kể rằng, vào mùa đông giá lạnh, vị thiền sư không đi khất thực cả tuần lễ. Một chiều nọ, vị thiền sư đốt lửa ngồi sưởi ấm, thì con thỏ liền nhảy vào ngọn lửa, bị chết thui. Việc này khiến cho vị  thiền sư cảm thương, nhưng đã hiểu được ý của con thỏ hy sinh thân mạng để dâng thịt làm thức ăn cho mình. Vị thiền sư chắp tay tụng lời Kinh hồi hướng công đức cho thỏ, sau đó mới ăn.

   Nhiều câu chuyện tiền thân của PHẬT làm thân chúng sinh ở cõi người hay loài vật, cõi nào Đức Phật cũng hành động các thiện pháp để bố thí, cứu khổ đem an vui, hạnh phúc, ấm no đến cho chúng sinh; vì chúng sinh trước đã, còn bản thân mình ra sao đó thì ra, khổ sở, tàn tật, mất mạng ... vẫn nhận chịu, không than thở. Điều đó, Đức Phật đã thấy rõ như ban ngày qua từng kiếp một ở vô lượng quá khứ sau giờ phút đại giác ngộ dưới cội Bồ Đề thành Phật.

      Trong tâm đại toàn giác đó, Đức Phật có  ba đại trí sáng suốt thật cao vời hơn tất cả các vị TRỜI, đó là: Thiên Nhãn Minh – Túc Mạng Minh – Lậu Tận Minh.

    Túc Mạng Minh: Trí sáng thấy biết thấu suốt tướng trạng của mình và tất cả chúng sanh từ một đời cho đến hàng trăm, nghìn, vạn đời ở thời quá khứ.

    Thiên Nhãn Minh: Trí sáng thấy biết thấu suốt các tướng trạng sinh tử của tất cả chúng sanh chết nơi này chuyển sinh nơi kia, chết nơi kia chuyển sinh nơi này; hoặc do nhân duyên xấu ác mà tạo nghiệp xấu ác, sau khi chết phải sinh vào các cảnh giới đau khổ; hoặc do nhân duyên thiện lành mà tạo nghiệp thiện lành, sau khi chết được sinh vào các cõi an vui, v.v...

    Lậu Tận Minh: Trí sáng suốt thấy biết rõ ràng mình đã chân thật chứng ngộ chân lí, đã giải thoát hoàn toàn cái tâm lậu hoặc, đã diệt trừ tận gốc rễ tất cả phiền não vô minh.

    Do qua quá trình kinh nghiệm thực chứng trên vận hành cứu khổ chúng sinh trong vô lượng kiếp như đã nói ở Ba Minh rất là gian nan khổ ải, nếu không có tâm tinh tấn, nhẫn nhục, khó mà thành Phật. Cho nên Đức Phật đã dư biết chúng sinh trong bốn chúng đệ tử Phật ở thời đại hậu lai gần ba nghìn năm sau, khó mà tạo ra PHƯỚC TRÍ để giải thoát, vì do có quá nhiều vô minh, phiền não, lậu hoặc, là tấm chắn ngăn che Phật tánh (tánh sáng vốn có). Vì thế Đức Phật đã mở rộng tình thương lớn ở từng bước hướng dẫn sẵn những phương cách thực tập Pháp và giới pháp để tạo PHƯỚC TRÍ cho những ai, thật sự có tâm mong muốn đi tìm cầu cho mình con đường giải thoát trong Đạo Phật, được đi cùng với lòng phát nguyện Quy Y Tam Bảo và lãnh thọ năm giới được xác định muốn giải thoát ở bước đầu tiên, sau đó bước giữa và bước cuối cùng PHƯỚC TRÍ vẹn toàn.

      Ba bước nói trên, chính là ba thời kỳ đầu tiên, giữa và cuối. Ba thời kỳ ở đây là ba giai đoạn học và thực tập Pháp và giới pháp từ sơ đẳng, trung đẳng và cao đẳng. Riêng sơ đẳng, bước đầu tiên mới nhập Đạo Phật, vấn đề học Phật và giới pháp đối với các hành giả sơ đẳng được hạn định rõ ràng. Còn ở hai giai đoạn trung và cao đẳng, học Phật và giới pháp không hạn định khi nào, do mức độ kiến Đạo và lòng phát nguyện của hành giả muốn tiến bước lên Phước Trí cao hơn mà có Phật pháp và giới pháp trung đẳng và cao đẳng. Với Chư Tăng Ni Sinh, được các bậc bổn sư của họ xem xét tuổi tác, đạo hạnh, khả năng học vấn Phật pháp của các đệ tử mình mà đưa đến các Giới Đàn để thọ các giới pháp như: 10 giới pháp Luật Nghi, 10 giới pháp Thiện hay Bồ Tát giới và cho học những giáo pháp cao hơn.

      Còn những nam, nữ Phật tử tại gia, tự mình xem xét tâm ý muốn tiến tu lên Phước Trí cao hơn, thì tự nguyện đến các Giới Đàn để xin đăng ký thọ giới pháp cao hơn là 10 giới pháp Thiện và Bồ Tát giới tại gia và học Phật pháp cao hơn ở đâu đó.

      Ba thời kỳ tiến tu của các hàng Phật tử nói chung; từ thời một, hai và ba, thời kỳ nào, cũng có học và thực hành pháp và giới pháp một cách song hành để được Phước và Trí, gọi là Phước Huệ song tu.

      Thời kỳ đầu tiên hay bước đầu tiên của các hành giả quay về đạo Phật, để tìm cầu con đường giải thoát, được Đức Phật cho hành lễ Quy Y Tam Bảo. Sau đó được Đức Phật truyền dạy cho Năm Giới Pháp và giáo pháp, BỐN CÁCH THU PHỤC (Tứ Nhiếp Pháp), đó là Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành và Đồng Sự.

      Hai thứ pháp: Bốn Cách Thu Phục và 5 giới pháp là nền tảng cơ bản. Cơ bản, được cắt nghĩa là bước đầu ở mọi việc của nhân loại ngoài xã hội và kể cả trong Đạo Phật, việc gì cũng phải được chắc chắn ở khởi điểm. Bằng không sẽ bị hỏng.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/03/201919:55(Xem: 246)
Triết Học Phật Giáo Ấn Độ, Hayes Richard, Thích Nguyên Tạng (dịch), Phật giáo (PG) là một thành tố quan trọng, hỗn hợp các triết lý khác của tiểu lục địa Ấn Độ trong hơn một ngàn năm qua. Từ phần đầu khá lặng lẽ, vài thế kỷ trước Tây lịch, nền học thuật PG gia tăng sức mạnh cho tới khi đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng và tính chất độc đáo trong nửa sau thiên niên kỷ thứ nhất. Từ thế kỷ thứ mười một trở đi, PG dần dần suy thoái và cuối cùng biến mất ở miền Bắc Ấn Độ. Mỗi nhà tư tưởng chú trọng vào những đề tài khác nhau, nhưng khuynh hướng chung của đa số họ là trình bày một hệ thống triết lý nhất quán, bao gồm đạo đức học, tri thức học và siêu hình học. Phần lớn những đề tài mà các triết gia PG Ấn này viết, là phát xuất trực tiếp từ những giáo lý được xem là của Sĩ-đạt-ta Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), thường được tôn xưng bằng danh hiệu là Đức Phật.
16/02/201908:54(Xem: 318)
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn chương và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
01/02/201907:43(Xem: 582)
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn (chương) và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
08/01/201918:12(Xem: 488)
Kinh Duy Ma Cật, tôi đã có duyên được học với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tại Phật Học Viện Báo Quốc - Huế, sau năm 1975 Tôi rất thích tư tưởng “Tịnh Phật Quốc Độ” của kinh này, khi nghe đức Phật gọi Bồ tát Bảo-tích mà dạy: “Trực tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật chúng sinh không dua nịnh sẽ sinh về cõi ấy. Thâm tâm là Tịnh Độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh nào có đầy đủ công đức sẽ tái sinh về cõi ấy. Bồ đề tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, hết thảy chúng sinh tầm cầu Đại thừa sẽ sinh vào cõi ấy.
04/01/201916:24(Xem: 14631)
“Hiểu về trái tim” là một cuốn sách khá đặc biệt, sách do một thiền sư tên là Minh Niệm viết. Với phong thái và lối hành văn gần gũi với những sinh hoạt của người Việt, Minh Niệm đã thật sự thổi hồn Việt vào cuốn sách nhỏ này. Xuyên suốt cuốn sách, tác giả đã đưa ra 50 khái niệm trong cuộc sống vốn dĩ rất đời thường nhưng nếu suy ngẫm một chút chúng ta sẽ thấy thật sâu sắc như khổ đau là gì? Hạnh phúc là gì? Thành công, thất bại là gì?…. Đúng như tựa đề sách, sách sẽ giúp ta hiểu về trái tim, hiểu về những tâm trạng, tính cách sâu thẳm trong trái tim ta.
10/12/201805:28(Xem: 621)
Lời tác giả: Việc biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, chúng tôi ước mong được sự lượng thứ của các bậc cao minh. Những sự sửa sai và bổ khuyết của quý vị độc giả sẽ giúp bài viết này được đầy đủ và hoàn hảo hơn trong lần viết lại; đó quả là niềm vinh hạnh cho chúng tôi. NVT
06/12/201809:24(Xem: 421)
Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi ? Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi ? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác ? Nói một cách khác, có thể nào xem từ bi như là một đặc điểm của đạo Phật ? Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn là đạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, l
02/12/201807:48(Xem: 902)
Thời gian gần đây nhiều Phật tử đã yêu cầu tôi giải thích những lời dạy vô giá của Phật theo phương cách hiện đại, xử dụng thuật ngữ và diễn giải thực tế, có hiệu quả, thực tiễn và không quá cao siêu. Theo phương cách dễ hiểu và thực tế để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Đây là tập sách đầu của một chuỗi những tập sách nhằm mục đích đáp ứng những thỉnh cầu này. Đây là tập sách sưu tập gồm 50 lời dạy ngắn kèm theo chú giải chi tiết dài ngắn khác nhau, mục đích để khuyến khích tất cả những vị đã dành thời gian để đọc và thực hành những lời dạy này để phát triển sự hiếu biết chân thật và lòng từ bi.
26/11/201806:41(Xem: 920)
Chúng tôi đến thăm Việt Nam một vài lần, tôi nhớ có lần chúng tôi đang ở Hà Nội. Lúc đó là Đại hội Phật Giáo, tôi cũng có buổi thuyết trình cùng với những vị khác nữa. Hôm đó đang ngồi đợi, thì có một vị Thầy trẻ người Việt đến chào, sau khi hỏi từ đâu đến, tôi nói tôi đến từ Australia. Thầy ấy nói, oh… woh… vậy Thầy có biết vị Tăng tên Ajahn Brahm không? … (cả Thiền đường cười). Tôi trả lời: Tôi là Ajahn Brahm đây. Thế là Thầy ấy tỏ ra rất hào hứng, tôi cũng hào hứng... Tôi thích Việt Nam. Tôi thích người Việt.
04/09/201818:42(Xem: 1098)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.