Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Góp vài cánh hoa

01/09/201019:47(Xem: 969)
Góp vài cánh hoa

Buddha_1
Góp Vài Cánh Hoa
Tuệ Chiếu

Xuất Bản năm 2010

 


Vườn hoa Phật Giáo mênh mông, với nhiều sắc thái thành muôn màu rực rỡ. Mỗi đóa hoa đều có sắc có hương, để thành vẻ đẹp đặc thù của Phật Giáo. Chúng ta thấy đại dương rào rạt bao la không bờ bến, nhưng giọt nước nào cũng mang vị mặn của muối. Chánh Pháp của Đức Như Lai vô lượng vô biên, nhưng pháp nào cũng đều mang hương vị của giải thoát.Mỗi Vị Tôn Đức hoằng pháp đều có một phong cách riêng, có những tư tưởng nhận định riêng. Vị nào còn trẻ khoẻ thì thích đi hoằng pháp các nơi. Còn khi lớn tuổi thì ít đi hơn, chuyên dành thì giờ tịnh tâm tu dưỡng và viết sách. Mỗi hạnh nguyện đều hữu ích cho ngôi nhà chánh pháp, hữu ích cho Phật tử trưởng dưỡng phước tuệ. Cho nên thời gian gần đây tôi ít đi hoằng pháp, nhưng cũng phục vụ được cho những yêu cầu của Phật tử cần. Có nhiều Phật tử, mong muốn tôi viết thành sách những thời đã đi giảng trong các cuộc lễ, và đã dạy trong những lớp tu học. Tôi thấy điều này rất hữu ích, đáp ứng được nhu cầu chung cho nhiều Phật tử, do bận công việc không có thời gian đi nghe giảng. Đồng thời lưu truyền rộng rãi hơn, có thể để lại cho thế hệ mai sau bằng giấy trắng mực đen, qua những trang trên sách. Có thể đọc đi đọc lại và nghiền ngẫm, để cho những dòng tâm tư đi sâu vào tâm thức nhiều hơn.

Do đó quyển sách này được ra đời, để hiến tặng quý Vị xa gần. Kính chúc Quý Vị luôn an lạc và Bồ Đề tâm luôn tăng trưởng.


Vùng Washington DC, ngày 05/05/2010
Trân trọng
Hòa Thượng Thích-Tuệ-Chiếu

 

 


Danh Dự & Đạo Đức


Thế giới của chúng ta có muôn hoa, muôn sắc để làm đẹp cuộc đời. Quê hương chúng ta có non xanh nước biếc, để tạo thành gấm vóc giang sơn. Cuộc sống chúng ta còn có những tiếng hát hay, tiếng đàn rung cảm làm vui tươi cuộc đời. Chung quanh ta còn có những người tốt, thường làm những việc đẹp giúp ích thế nhân.  Nhờ vậy, khi người ta lâm vào cảnh hoạn nạn, hay có hy vọng ước mong được người giúp đở. Nhờ vậy, con người mới thoát được những khó khăn, những gian nguy, những khổ đau bầm giập để vui sống.


Những người tốt giúp về lời nói, giúp đở công việc thì nhiều, nhưng giúp về phương diện tiền bạc thì ít. Còn dám hy sinh danh dự tốt đẹp của mình giúp người, để người được an vui thì lại rất hiếm hoi. Nhưng việc gì, thì cũng có thể xảy ra trong cõi đời khổ vui lẫn lộn, và nhiều oan khiên, nghiệt ngã này. Những người chạy theo danh vọng hư ảo, thì rất thích danh dự để hảnh diện, để khoe khoang phô bày cái ngã to tướng. Còn người lo giữ gìn đạo đức chân thật, lại cố tình diệt trừ cái ngã để tự tại, để giải thoát. Vậy Đạo Đức với Danh Dự, chúng có chỏi nghịch với nhau không ? Hay là một cặp sinh đôi tương trợ lẫn nhau, như đôi đủa nương nhau không thể thiếu!


Thông thường chúng ta thấy những điều quen thuộc hằng ngày, chúng ta hiểu qua lớp hình thức bên ngoài của chiếc áo của nó. Nên chúng ta dễ lầm tưởng chúng là anh em ruột với nhau, thân thiết với nhau như hình với bóng, tương trợ với nhau như môi với răng. Nhưng khi chúng ta đi sâu vào nội thể, suy tư qua những quá trình diễn tiến của cuộc đời, chứng kiến bao nhiêu cảnh tượng xảy ra. Chúng ta thấy Danh dự và Đạo Đức đối lập nhau một cách gay go và quyết liệt. Vì bấy lâu nay, chúng ta lầm tưởng “ Người có Danh Dự là người có Đạo Đức đáng kính. Hay là người có Đạo Đức là người có Danh Dự được quý trọng”. Nhưng kinh nghiệm cho biết, chúng rất đối lập nhau, luôn tranh giành ảnh hưởng của nhau. Vì khác lập trường cho nên ngăn cách một chiến tuyến..


Chúng ta thử phân tích chữ Đạo Đức và Danh Dự xem thế nào

- Đạo Đức là gì ?

Theo Khổng Tử giải thích : “Tôn mạc tôn hồ Đạo, Mỹ mạc mỹ hồ Đức. Đạo Đức chi sở tôn, tuy thất phu nhi phi cùng. Đạo Đức chi sở bất
tôn, tuy vương thiên hạ nhi phi thông”.


Nghĩa là: Cao quý nhất trên đời này không gì bằng Đạo và đẹp quý nhất không gì bằng Đức. Vì thế người biết sống Đạo Đức và tôn trọng Đạo Đức, dù là người dân dã bình thường, cũng chưa hẳn là thấp hèn mà còn được quý trọng. Tuy làm vua thiên hạ mà không có Đạo Đức, không tôn trọng người Đạo Đức thì sẽ bị ghét bỏ, bế tắt, hư hại nhiều việc.  Vì đời là ô trược, phiền não, khổ đau, ràng buộc, khóc hận, vô thường, sanh ly tử biệt. Còn Đạo là cao khiết, an lạc, thanh thoát, tự tại vượt thoát khỏi các thường tình. Còn cái đẹp của vạn vật, của nhan sắc là cái đẹp giả hợp nhất thời, dễ tàn phai héo úa không có giá trị vĩnh viễn. Còn cái đẹp của Đức là cái đẹp cao quý, khiến mọi người quý mến kính phục và tồn tại mãi với thời gian. Như một người đẹp có nhan sắc quyến rủ, nhưng lại hung dữ đanh đá. Tự nhiên mọi người mất ngay thiện cảm, và thấy cô ta không còn đẹp nữa, mà chỉ là nữ dọa xoa la sát thôi !   Còn một người có nhan sắc trung bình, nhưng tánh tình hiền dịu, đức hạnh khả kính. Mọi người tuy chưa thấy cô ta, chỉ mới nghe đã có thiện cảm làm cho cái đẹp của cô tăng phần trọng thể, chính đó là cái Đức. Nếu lãnh đạo quốc gia mà thiếu tư cách đạo đức, thì dân chúng ghét, nguyền rủa. Có ngày sẽ bị lôi xuống để xét xử. Vậy đạo đức là chỉ cho người có tư cách nhân từ và đức hạnh khả kính. Như thế chúng ta thấy, người có đạo đức là người có nhiều danh dự, người được tán thán khen tặng. Bây giờ chúng ta đề cập đến danh dự.


Danh Dự là gì ?


Khổng Tử nói :“Danh chánh ngôn thuận”, là tiếng gọi đúng, phải, chân chánh, thì lời nói mới thuận. Tiếng gọi không đúng sai với sự thật,
thì lời nói sai không nghe được, không thể chấp nhận được. Vậy chữ Danh là tiếng gọi đúng sự thật.


Còn chữ Dự là tiếng tốt, tiếng khen của cái danh đã gọi. Như vậy Danh Dự phải phát xuất từ sự chân thật, sự đúng đắn hợp với lẽ phải, có
tính Đạo Đức và tình người.


Như vậy chúng ta thấy rõ ràng, Đạo Đức và Danh Dự chúng gắn liền với nhau, tương trợ cho nhau, làm sáng tỏ cho nhau ! Nhưng thực tế, sự việc thường trái ngược hẳn ý nghĩa cao đẹp đó. Vì chúng trái nghịch nhau, đôi khi chúng tránh nhau, chúng không đi chung đường lại khác hướng. Như ban ngày có mặt trời là không có mặt trăng. Nếu có mặt trời mà có mặt trăng thì thành nguyệt thực mất đi ánh sáng.


Người có đạo đức là người sống gương mẫu, đứng đắn, lòng nhân ái luôn rộng mở và hay hướng dẫn người khác sống đạo đức. Đa số ai cũng cho đó là cách sống tốt đẹp và đáng quý trọng. Nhưng sự quý trọng đó thường mang tính chất thụ động. Còn những người ganh tỵ, những người ghen ghét do sợ bị mờ nhạt, bị xem thường trước người đạo đức. Chẳng qua là vô tình, làm chạm đến những vết thương sai trái của họ, làm họ bị tổn thương. Cho nên họ thù oán, luôn luôn tích cực trong vấn đề phá hoại, bóp méo, xuyên tạc, vu khống. Thậm chí còn tìm cách ám hại cho bỏ ghét nữa ! Do đó, chúng ta không lấy làm lạ những vị Thánh triết, những vị làm lợi lạc cho quốc dân hay bị phá hoại, bị xuyên tạc rêu rao nói xấu, và bị ám sát.

Ngược dòng lịch sử, Đức Phật Thích Ca dù được các hàng Vua chúa quan lại các vương quốc ở Ấn Độ thời xưa quý trọng. Nhưng Ngài đã từng bị các ngoại đạo tà giáo nguyền rủa, ám hại nhiều lần. Thậm chí còn mướn người cầm gươm, ban đêm lén lên hương thất Ngài trên núi Linh sơn, để ám sát Ngài. Chính Đề Bà Đạt Đa anh em chú bác với Ngài, thiện nghệ về bắn cung bách phát bách trúng, cũng đã từng lén bắn Ngài nhưng vô hiệu. Còn rình chờ Ngài khi đi lên Linh Thứu, rồi lăn dá đè Ngài.


Ngoài ra còn cho con voi hung hăng uống rượu, khi Ngài vào thành khất thực thì thả voi ra hại Ngài, nhưng tất cả mọi việc ám hại Ngài đều thất
bại. Còn các giáo phái ngoại đạo thì hay phỉ báng nói xấu Ngài, cho em gái giả bụng chửa, đến giảng đường lúc Ngài đang thuyết pháp, vu khống, mắng nhiếc Ngài thậm tệ trước hàng ngàn người. Nhưng chưa đủ, họ còn hy sinh giết một người em gái, lén đem bỏ xuống hầm chứa hoa héo sau hương thất của Ngài. Rồi phủ hoa héo lên che đậy để vu khống Ngài.  Lúc đó họ giả bộ tung người đi tìm các nơi trong thành phố, để tuyên truyền là em của họ hay đến nghe pháp chỗ Đức Phật rồi mất tích, nhằm gây hoang mang nghi ngờ cho mọi người. Sau cùng, họ lên trên hương thất Ngài ở trên Linh Thứu sơn, giả bộ bươi móc tìm kiếm. Khi đến hầm chứa hoa héo, họ tốc hoa lên rồi đem xác cô em lên, giả bộ khóc lóc, chữi bới Đức Phật và Chư Tăng. Họ còn để xác cô em lên xe, kéo đi khắp thành phố rêu rao, kể lễ là bị Đức Phật sát hại phi tang. Đến nỗi khiến Tăng chúng đi ra ngoài khất thực, bị người ta mắng chữi ném đá, suốt một tuần lễ không đi đâu được. Vua Ba Tư Nặc biết điều này do ngoại đạo ganh ghét gây ra. Nên phải cho thám tử đi khắp nơi tìm ra sát thủ. Thám tử thấy ba người khả nghi liền đi theo dõi, họ chia tiền nhau không đều, cự cãi lớn tiếng, thám tử bắt đem cho vua. Khi điều tra ra sự thật, là do nhóm ngoại đạo muốn làm nhục Đức Phật, để mọi người chán ghét Ngài. Cho nên họ mướn nhóm du đảng giết cô gái đó, để vu khống cho Đức Phật, thấy gái đẹp ham thích rồi giết phi tang. Lúc bấy giờ sự việc oan khiên được sáng tỏ, dân chúng trong thành Ba La Nại, mới biết rõ đó là âm mưu của ngoại đạo gây ra. Khiến dân chúng càng thêm chán ghét nhóm ngoại đạo tà giáo.


Qua mẩu chuyện này, chúng ta thấy Đức Phật và chư Tăng tu hành nghiêm mật, còn bị người ghét vu khống gây hoang mang, để triệt hạ uy tín của Ngài. Ngài và chư Tăng, yên lặng mặc cho người mắng nhiếc chữi rủa thế nào, cũng không cần biện bạch thanh minh. Đức Phật còn bị một hoàng hậu thù ghét, vì song thân của bà trước kia gợi ý với Đức Phật, muốn gả bà cho Ngài. Vì Ngài có tướng của một Vị Chuyển Luân Thánh Vương, tương lai sẽ gồm thâu thiên hạ. Hai ông bà đã giới thiệu bà rất đẹp, lại có tướng mẫu nghi thiên hạ. Nhưng bị Ngài từ chối nói:“Cô gái con ông bà đẹp, là chỉ đẹp với mọi người nhìn nông cạn như ông bà.  Nhưng đối với Như Lai, thì cô ta chỉ là cái túi da đựng những thứ bất tịnh như đàm dãi, máu huyết tanh hôi và phân dơ dáy. Vậy ông bà hãy đem gả cho những ai thích hợp, họ khen cô ta đẹp”. Hai ông bà nghe xong thất vọng, vì mộng ước tan tành. Nhưng người hầu nữ nghe xong, về thuật lại với cô là:“Ông Gotama chê tiểu thư chỉ là cái túi da đựng những đồ hôi hám thối tha như . . . ”. Cô bị chạm tự ái, vì luôn luôn ai cũng khen cô đẹp. Thế mà hôm nay cô bị ông Cù Đàm, dám vạch trần sự bất tịnh hôi dơ trong người cô. Nếu mọi người nghe được, thì người ta thấy cô luôn mang hai cái bô dơ bẩn bên trong, giống như mọi người khác thì đâu còn đẹp nữa, Thật là đáng ghét ông Cù Đàm này quá ! Cho nên cô giận tức, ôm lòng thù oán Ngài đã nói lên sự thật phũ phàng đó ! Đến khi cô được tiến cung vua làm phi tần, vua sủng ái rồi tấn phong làm Hoàng Hậu, cô tìm cách trả thù về lời nói của Ngài. Chỉ là lời nói về sự thật của bản thân, để mọi người nhận thức rõ, để xa lìa được sự ái nhiễm, giúp con người không bị phiền não ràng buộc. Nhưng cô ta lại ôm thù hận, đến khi cô làm hoàng hậu, muốn trả thù Ngài về lời chân thật nói rõ chân tướng bất tịnh của bản thân. Hoàng hậu cho kêu những tên du đảng trong thành, mướn họ khi Đức Phật vào thành khất thực, cứ đi theo chữi bới mắng nhiếc Đức Phật.

 

Họ đợi khi Đức Phật vào thành khất thực, họ buông những lời mắng chữi thậm tệ. Đến nỗi ngài A Nan chịu không nổi, bạch với Đức Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn. Ở đây họ mắng chữi quá ! Họ ngăn cản sự khất thực và không chịu nghe thuyết pháp. Trình bạch Đức Thế Tôn, xin Thế
Tôn hãy đi qua xứ khác hoá độ.


Đức Phật không trả lời, Ngài hỏi lại:
- Này A Nan ! Nếu đi qua xứ khác, họ lại mắng chữi thô bạo nữa, thì ông tính đi đâu ?


Ông A Nan thưa:
- Bạch Thế Tôn ! Nếu họ mắng chữi nữa, thì mình lại quan xứ khác nữa.

Đức Phật lại hỏi :
- Đi qua xứ khác, họ lại mắng chữi nữa, ông tính sẽ đi đâu ?
- Bạch Thế Tôn ! Nếu qua xứ khác họ mắng chữi nữa, thì mình đi qua xứ Vương Xá, Ba La Nại, hay hay xứ Ca Ty La v . v . . có nhiều người
kính mộ.


Đức Phật mỉm cười hỏi :
- Này A Nan, ông thầy thuốc hay, có thể từ chối không trị những chứng bệnh nặng khó trị không ?
- Bạch Đức Thế Tôn không ! Vì ông thầy thuốc hay cần trị những chứng bệnh nặng khó trị mới hay.
- Cũng thế, những nơi có những người không biết lẽ phải, không hiểu quả báo luân hồi, không có ai hướng dẫn chánh đạo, thì Thế Tôn phải ở lại giáo hoá giúp họ.


Những chàng du đảng nghe Phật nói như vậy, cảm thấy hổ thẹn ăn năn. Liền nói :
- Xin Thế Tôn hãy ở lại đây để giáo hóa cho chúng tôi. Chúng tôi xin quy y với Phật Pháp Tăng.


Qua những chuyện trên, chúng ta thấy người đạo-đức thường bị thiệt thòi, nhiều lúc bị mất danh dự. Còn người chỉ lo chưng diện bộ mặt danh dự của mình, thì luôn kém phẩm chất đạo đức. Chẳng những thế, đôi khi họ còn trở thành kẻ ác đức hại người, để bảo vệ cái danh dự giả tạo, cái quyền lợi nhất thời của họ. Đó là cái bản ngã của họ quá lớn, chỉ nhằm phô trương cái ngã không ra gì, bất chấp mọi thủ đoạn gian xảo, tội lỗi.  Cho nên chỉ gần phô trương cái danh dự của mình, mà không ngại chà đạp danh dự của người khác, kể cả sinh mạng quý giá của người khác cũng bị hủy diệt. Những bậc vĩ nhân đạo đức, có lòng nhân ái rộng lớn, không nệ hà lao nhọc, chỉ muốn đem lợi lạc cho mọi người, là những người chịu thiệt thòi khổ sở nhất. Vì hay bị thế nhân ganh tỵ, tìm cách chà đạp, vu khống, nguyền rủa, hãm hại.


Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều này, những người hy sinh dấn than, làm những điều lợi lạc cho mọi người, thì hay bị bôi lem và hãm hại như: Thánh Mahatma-Gandhi bị ám sát, chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên Thánh giá, Hiền Triết Socrate bbị đầu độc chết trong tù. Còn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, suốt 49 năm dài chu du khắp Ấn Độ đem lợi lạc cho mọi người, tát vơi biết bao nhiêu phiền não khổ đau cho chúng sanh.
Ngài chịu đựng biết bao nhiêu sự ganh tỵ, mạ lỵ và ám hại.


Ngay trên xứ sở Hoa Kỳ này, có hai vị Tổng Thống được tôn sùng là vĩ nhân, được làm tượng đài kỷ niệm ở Washington D.C. Khi hai vị này
ra ứng cử Tổng Thống, bị người ta vu khống bôi lọ, còn vẽ hình đăng trên báo. Một vị người ta vẽ hình đang treo cổ, còn một vị đang đưa đầu vào máy chem.. Họ kết tội hai vị là tên lưu manh, gian xảo lừa bịp, đáng tội chết như vậy, thì không nên bỏ phiếu. Kể như danh dự cuộc đời, đang bị quăng vào sọt rác. Nhưng hai vị đều không chán nản, nhờ vào tài năng và đức độ khả ái. Hai vị đó đều đắc cử và đem nhiều lợi ích lớn lao cho quốc dân. Một vị được xem là cha đẻ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, là ông Washington. Thủ Đô Hoa Kỳ lấy tên ông làm tên của Thủ Đô được gọi là Washington D.C. Còn Vị Tổng Thống thứ hai, là cha đẻ bản Tuyên Ngôn Độc Lập Nhân Quyền, đó là ông Thomas Jefferson. Vì cả hai ông đều có nhân cách đáng quý, sẵn sàng tha thứ những hành động của kẻ thù, mà còn trân trọng mời họ cộng tác. Dù họ đã đánh phá hai ông quyết liệt, dù họ triệt hạ danh dự của hai ông xuống bùn đen. Có phải chăng những kẻ đã ganh tỵ, vì muốn được cái danh dự, cái thể diện của mình được tôn vinh, được mọi người thán phục.


Chuyện xưa, như Tào Tháo là một tay gian hùng thời Tam Quốc. Ông ta có tài lãnh đạo nhưng nhiều thủ đoạn mất đạo đức. Ông sợ người ta biết được cái tẩy của mình, sợ cái danh dự của mình bị ung nhọt đục khoét làm hư hại cuộc đời. Cho nên Tào Tháo rất ghét Dương Tu, vì Dương Tu biết rõ gan ruột của Tào Tháo. Tào Tháo biết có nhiều người thù ghét, sợ người ta lén giết mình trong lúc ngủ mê. Vì thế Tào Tháo nói với các Tướng và quân hầu rằng: “ Ta bình thường nằm ngủ, hay chiêm bao giết người đến gần ta. Vậy các tướng và các quân hầu, khi ta ngủ phải đứng cách xa, đừng đến gần ta. Vì trong lúc ngủ ta hay giết người đến gần ta.”


Một hôm Tào Tháo ngủ trưa, làm bộ rớt mền xuống đất. Quân hầu thấy vậy chạy lại lượm mền giũ bụi rồi đắp cho Tào Tháo. Tào Tháo bổng vùng ngồi dậy, cầm gươm chém tên quân hầu cận đó. Rồi lên giường ngáy ngủ như không có chuyện gì xảy ra. Bấy giờ, những tên quân hầu khác thấy vậy sợ hãi, không dám đến gần Tào Tháo nữa. Khi Tào Tháo thức dậy, thấy quân hầu nằm chết, giả bộ hốt hoảng hỏi những quân hầu khác: “ Ai dám giết quân hầu của ta vậy ?” Những quân hầu thưa rằng: “Anh ta thấy mền Thừa Tướng rớt, cho nên chạy lại lượm mền đắp cho Thừa Tường.  Rồi bị Thừa Tướng vùng dậy cầm gươm chém”. Tào Tháo giả bộ khóc thương hại nói: “ Ta sợ chém lầm, cho nên đã dặn trước, là khi ta ngủ hay giết người đến gần ta. Sao nhà ngươi dại vậy ? ”. Tào Tháo ra lệnh chu cấp đầy đủ cho vợ con người chết và đối đãi thật ưu ái. Ngày đưa tang người chết thật long trọng, và đích thân Tào Tháo theo đưa đi khóc lóc kể lể, khiến mọi người ai cũng cảm động. Nhưng Dương Tu là mưu sĩ của Tào Tháo, biết được hành động mỵ người của Tào Tháo, thấy rõ tim gan của Tào Tháo. Cho nên đến bên gỏ vào quan rồi nói: “Nhà ngươi chết là phải, vì chính ngươi chiêm bao nên không biết mà chết”. Tào Tháo nghe được câu này tức lắm, cho nên để ý tìm cơ hội để giết Dương Tu.

Chuyện thứ hai, một hôm có người biết Tào Tháo thích ăn cơm rượu.  Cho nên muốn lấy lòng, nhờ người làm một thố cơm rượu thật ngon đem đến tặng Tào Tháo. Tào Tháo biết loại cơm rượu ngon, cho nên cầm viết phê trên thố cơm rượu ba chữ: “Nhất hiệp tô” ra vẻ thích thú. Vì bận việc nên phải ra ngoài thám sát quân sĩ nên chưa ăn. Dương Tu thấy vậy, liền kêu quân hầu lấy chén chia cho mỗi mưu sĩ mỗi người một phần. Khi Tào Tháo trở lại thì thấy thố cơm rượu đã hết, liền hỏi ai ăn. Quân hầu nói: “Mưu sĩ Dương Tu lấy chia cho mọi người ăn.” Tào Tháo cho gọi Dương Tu đến hỏi tại sao lấy chia? Dương Tu đáp: “ Thừa Tướng ghi ngoài thố cơm rượu: Nhất Hiệp Tô. Nếu phân tích chữ Hiệp ra thì chữ hiệp có chữ nhơn ở trên, chữ Nhất nằm dưới chữ nhơn, còn chữ Khẩu ở phía duới.  Thành nghĩa mỗi người một khẩu phần. Cho nên Dương Tu này mạo muội tuân lệnh Thừa Tướng chia cho mỗi người một khẩu phần, để được hưởng ân đức của Thừa Tướng”. Tào Tháo nghe xong, trong lòng rất ghét Dương Tu muốn trừ khử ngay, nhưng cũng buột miệng khen để được tiếng tốt: “Nhà ngươi rất hiểu ý ta”. Nhưng trong lòng Tào Tháo khó chịu và chờ cơ hội khử Dương Tu.


Chuyện thứ ba, một hôm Dương Tu theo Tào Tháo đi dự trận đánh lấy Cối Kê. Quân Tào Tháo đánh mãi mà không xong, tiến thì không được, lui thì sợ chúng cười. Trong lòng rối loạn bất an, suy nghĩ mãi không ra kế sách. Bữa cơm chiều đang nhai khúc giò gà, nhằm gân gà vừa dai vừa ngon, bổng một tiểu tướng vào trình báo: “ Mật hiệu đêm nay, Thừa Tướng lấy khẩu hiệu gì để cho quân sĩ biết ?”. Vì đương nhai gân gà, nên Tào Tháo buột miệng nói: “ Kê cân, kê cân”. Khi Dương Tu nghe khẩu hiệu như vậy, là biết ý Tào Tháo muốn rút quân, tuy còn ngần ngại đôi chút nhưng rồi sẽ thu quân. Dương Tu liền cho quân lính của mình lo thu xếp trại lều, để chờ khi có lệnh thì nhanh gọn chu đáo, không bị quýnh quáng sơ xuất. Các mưu sĩ khác thấy vậy, rồi nghe Dương Tu giải thích, cũng bắt chước làm theo. Các tướng lãnh thấy vậy, cho là hay cũng bắt chước theo. Rồi lan dần qua các trại khác ai cũng lo thu lều trại của quân mình. Khi đêm Tào Tháo giả dạng đi quan sát quân tình, thấy các tướng sĩ và quân lính đã thu gọn hết các trang trại. Lòng hốt hoảng hỏi ra tại sao chưa có lệnh mà các tướng sĩ đã cho thu trang trại. Các tướng sĩ trình bày mọi cớ sự từ Dương Tu. Sự việc được rõ ràng là do Dương Tu luận giải:  Khẩu hiệu Kê Cân, là gân gà. Có nghĩa là gân gà dai nhai lâu, bỏ thì uổng, nhưng cắn không đứt, bứt không rời. Vậy thì trước sau gì cũng rút quân.  Tào Tháo thấy Dương Tu hiểu rõ hết ruột gan mình, để bất lợi. Cho nên truyền lệnh bắt Dương Tu đem chém. Với lý do là tội làm náo loạn lòng quân, chưa có lệnh đã tự động nhổ trại.


Qua mẩu chuyện này, chúng ta thấy, một người thì thích danh muốn được mọi người khen là giỏi về luận giải, rộng hiểu biết. Để rồi tự hại mình vì cái danh dự hảo huyền đó. Một người vì danh dự cá nhân, sợ người ta hiểu ruột gan của mình, lật cái tẩy của mình. Cho nên không ngần ngại dùng nhiều thủ đoạn thiếu đạo đức, giết tên quân hầu một cách bất nhân và một mưu sĩ có tài luận giải kế mưu.


Trong chuyện cành vàng lá ngọc, có cô con gái của quan huyện, quý như cành vàng lá ngọc. Ông chỉ gả cho những ai giàu có sang trọng, chứ
không gả những thư sinh nghèo. Nhưng cô gái trong thời gian đi học, đã lỡ thương anh thư sinh nghèo học giỏi và đẹp trai. Hy vọng tương lai của anh sẽ tiến cao nhiều. Cuối cùng cô có thai và không thể dấu được. Vì cái bụng cứ to lên và hay nôn ụa. Mẹ cô hỏi, cô phải nói thật tất cả, nhưng không thể dấu được người cha nóng tính, bảo thủ, cố chấp không thể chấp nhận được. Cho nên ông quan Huyện liền ra lệnh cho đòi anh thư sinh đến. Bắt đánh 30 trượng về tội dám yêu tiểu thơ lá ngọc cành vàng. Ngòai ra còn bắt phải giữ kín việc tiểu thơ có thai, không được bén mảng đến con gái quý của ông.nữa. Bắt anh phải giữ phận mình, “gối rơm theo phận gối rơm, không được dưới thấp mà chồm lên cao”. Còn cái bụng cô con gái của ông, thì ông cho thầy thuốc hốt thuốc phá thai. Nhưng cô gái sức yếu, thuốc lại mạnh, cho nên bị thuốc hành vật vã, băng huyết rồi chết.  Qua mẩu chuyện này, chúng ta hiểu rõ hơn về chữ Danh Dư. Viên quan huyện chỉ vì danh dự giả tạo mà mất phẩm chất Đạo Đức quý giá. Trở thành kẻ bất nhân, rồi sát thủ giết hai mạng người mẹ và con. Ngoài ra, còn làm cho hạnh phúc của đôi trẻ tiêu tan theo mây khói.


Còn người tôn trọng đạo đức và có đạo đức, thì như thế nào ? Người đạo đức lại hay bị người ta chê cười là “Ngu”, và hay bị mất danh dự.Nhiều khi còn bị quần chúng mắng nhiếc, nguyền rủa, chữi bới, bị quăng ném đất đá vào người cho bỏ ghét.


Một vị Thiền sư ngồi dưới gốc cây tu hành nghiêm mật, được nhiều Phật tử quý trọng thương mến như một vị Phật sống. Buổi chiều rảnh

việc, các Phật tử thường đến ngồi quanh Thiền sư để nghe ngài thuyết pháp. Những lời thuyết luôn chân chánh, được các Phật tử ngưỡng mộ, ghi nhớ, nhắc nhở nhau để cùng tu học. Bấy giờ ai cũng xem vị Thiền sư, là một bậc chân sư tu hành chân chánh, nói sao làm vậy, đáng tiêu biểu cho hàng Tăng Già nhà Phật. Nhưng đùng một cái, như trái bom nguyên tử nổ vang dội khắp các làng chung quanh. Là vị Thiền sư đã dính liếu với một cô gái ở tiệm bán cá ngoài chợ, cô đã có thai. Vì theo lời cô gái khai rằng, là bào thai đó do ngài là tác giả. Cha mẹ cô muốn minh bạch, để làng không chiếu theo luật chữa hoang thì cô gái sẽ bị thả bè trôi sông.  Vì cô gái là máu mủ của ông bà, không thể để con gái mình chết trôi nổi lang thang. Miển là có người nhận tác giả cái bụng là được. Ông bà chủ tiệm liền dắt con gái mình, đến vị Thiền sư đang ngồi thuyết pháp dưới gốc cây. Thính giả đông đảo, ai cũng thành tâm nghe pháp một cách say mê hoan hỷ. Bổng thấy hai ông bà mặt mày giận dữ, kéo cô con gái chen vào đám đông nói:

- Chào Thiền sư ! Thưa quý bà con ! Con tôi đi nghe Thiền sư thuyết pháp, vì dại khờ bị dụ dỗ, mà cái bụng nó lớn như thế này này !

Rồi ông quay qua cô con gái của mình hỏi:
- Con hãy nói rõ, cái bụng này do ai là tác giả tạo ra nó ?

Cô gái e thẹn ngập ngừng cúi đấu xuống. Người cha phải thúc giục hai ba lần cô gái mới chỉ vị Thiền sư rồi nói và chỉ vào cái bụng căng tròn
của mình.:
- Thiền sư đây là tác giả cái bụng này !

Vị Thiền sư nghe qua liền biết, đây là sự nguy hiểm đến mạng người.  Cho nên phải cứu cô, ngài mỉm cười nói:
- Thế à !


Một cách thản nhiên tự tại, không phân giải biện bạch gì hết. Bấy giờ ông cha của cô gái, mới mắng nhiếc vị Thiền sư giả dạng tu hành dụ dỗ gái tơ có mang. Khiến những thính giả nghe pháp, khó chịu bất mãn ra về, cho là mình lầm lẫn ủng hộ người tu hành giả mạo. Chỉ còn lại vài người Phật tử thuần thành cảm thông thương hại, và nói giả lả với những người khác để che chở chống đở cho vị Thiền sư. Từ đó về sau, dưới gốc cây ấy chỉ còn vài người lui tới giúp đở Thiền sư. Còn những người khác thì đi ngang qua, nếu không nói cạnh nói móc, cũng bĩu môi khinh bỉ.  Thiền sư sống một cách âm thầm lủi thủi một mình, hằng siêng ngồi thiền hơn, để thời gian lắng đọng, mọi người sẽ quân nó đi. Còn cô gái đã thoát qua được một tai nạn lớn lao, nhưng trong lòng vẫn chưa yên. Vì cô vẫn còn thương người tình của cô, đích thực là tác giả của bào thai. Đó là anh chành giai cấp kém hơn cô, đang làm công cho tiệm của cô. Cô muốn che chở cho người tình, vì sợ cha mẹ mình sẽ giết anh ta dám đèo bồng, bằng không ít nhất cũng cáo quan để anh ta vào tù. Thế rồi, cô lại nghe người tình, làm một việc trái với lương tâm để đổi lấy sự sống, mà vu khống cho vị Thiền sư. Lòng cô nhiều lúc ray rức khó chịu. Nhưng khi đến ngày khai hoa nở nhụy, không chồng mà có con thì khó coi quá. Miệng thế gièm pha như búa bổ vào người, làm sao thân gái như cô có thể chịu nổi.


Cha mẹ cô, không thể chấp nhận cảnh nuôi đứa bé không cha. Nó sẽ làm cho mọi người cười chê, nói xấu cả gia đình, làm sao họ chịu được cái lưỡi búa riều của thiên hạ. Hơn nữa sợ đứa bé giống anh tình nhân, mọi người nhìn thấy được thì luồng dư luận khác lại nổi lên, làm sao tránh được sự thật phũ phàng. Cả nhà ai cũng xúi giục cô, hãy đem đứa bé ấy cho cha của nó là Thiền sư kia nuôi. Cũng vì danh dự của gia đình, cô cắn răng nắm ruột của mình cho Thiền sư nuôi. Vì Thiền sư là người có lòng từ bi, đã dang rộng cánh tay cứu mẹ. Nay thêm một bước nữa là cứu con, cứu đứa bé vô tội thì có sao đâu !


Cũng vào buổi chiều trời mát, dân làng đã rảnh rang. Thiền sư đang tĩnh tọa dưới gốc cây với vào Phật tử trung kiên. Cô đem đứa bé mới sanh
giao cho Thiền sư, rồi nói:
- Con của Thầy đây, Thầy hãy nuôi nó !


Thiền sư vốn đã nhẫn được một lần rồi, vì lòng từ bi muốn cứu cô và người tình của cô. Thì bây giờ nhẫn thêm một lần nữa, để cứu đứa bé vô
tội thì tốt thêm có sao đâu ! Cha mẹ nó vì chạy tội, mà thí bỏ mạng sống của nó. Lòng từ bi, đâu có thể làm ngơ trước cảnh bi thương này. Vì “Dù xây chin đợt phù đồ, đâu bằng làm phước cứu cho một người”. Cho nên Thiền sư vẫn nở nụ cười nói hai tiếng:
- Thế à !


Rồi bồng lấy đứa bé săn sóc như người cha ruột của nó. Nhưng Thiền sư làm gì có sữa để nuôi, làm gì có tả để lót cho đứa bé. Cảnh gà trống nuôi con, chưa có chút kinh nghiệm gì. Cho nên tránh không khỏi lôi thôi lếch thếch. Khi bồng đứa bé đi xin sữa, thân mình bị người đời khinh chê, không ai cúng dường. Thay vì bố thí cơm họ chỉ bố thí bằng cách ném bùn dơ, ném đất đá vào mình ông Thầy tu. Bản thân đã đói khát, lại còn chịu không biết bao nhiêu lời mỉa mai, lời mắng nhiếc xoi xỉa của thế nhân, cười chê khinh bỉ ! Có nhiều người chỉ cho những lời thô bỉ làm nhục, nhưng Thiền sư vẫn yên lặng nhẫn, không biện bạch một lời. Nhưng vẫn còn những người có lòng nhân ái, thương hại Thiền sư và thương đứa bé mà cho sữa, cho tả, cho chăn đắp cho đứa bé. Bấy giờ dưới gốc cây, mỗi chiều về lại đông người, vì tò mò xem Thiền sư làm gì. Cũng có người cảm thông sự thiếu thốn của thấy tu, đem biếu những vật dụng cần thiết. Đứa bé đã sống với Thiền sư trong hoàn cảnh bị hất hủi, khó khăn và khắc nghiệt trong đọa đày như vậy. Thiền sư vì Đạo đức, mở lòng từ bi cứu giúp cô gái đang khổ đau trong hoàn cảnh cùng đường, cho nên phải ra tay đùm bọc đứa bé vô tội. Cho nên ngài đã hy sinh tất cả danh dự, hy sinh cuộc sống bình an, xông pha vào thị phi náo nhiệt, hy sinh chịu đói khát để nuôi đứa bé cho trọn vẹn. Nào mấy ai hiểu được tấm lòng cao cả hy sinh của ngài, trước nghĩa cử khó khăn đầy oan nghiệt đó !

 

Ngày qua ngày, đứa bé sống nhờ vào tình thương ấp ủ của Thiền sư, rồi mỗi ngày mỗi lớn và mũm mĩm dể thương. Nghe đồn đãi chuyện Thiền sư có con, cho nên những người chưa bao giờ đến, bây giờ họ cũng đến xem cho biết. Cho nên vào những chiều về, bên gốc cây vị Thiền sư ngồi, rất đông người xúm xít bu quanh nhìn Thiền sư và đứa bé. Đứa bé đã chầm chậm tập đi, gương mặt hiền lành mũm mĩm dễ thương, đôi mắt ngơ ngác nhìn mọi người. Bất chợt một bà nói:
- Gương mặt nó vui vui hay cười giống hệt Thiền sư à !


Một bà khác nói :
- Nhìn kìa, đôi tay nó giống Thiền sư, trông dễ thương quá.


Một cô khác nói:
- Nhất là cái miệng của nó cười có duyên, giống miệng Thiền sư ghê!


Rồi mạnh ai nấy đều cho nhận xét của mình là hay là đúng hơn hết.  Cho nên đứa bé từ mỗi bộ phận cho đến cử chỉ, tất cả đều giống Thiền sư
cả ! Nhất là khi nó ngồi chắp hai tay thì càng giống Thiền sư hơn nữa !  Cuối cùng họ cho đúng là con ruột của Thiền sư, vì cha nào con nấy mà!  Thời gian gian thấm thoát đã ba năm trôi qua, đứa bé được ba tuổi, đi đứng vững vàng, nói năng dễ thương, nhất là hiền lành lễ phép nên ai cũng thích. Trãi qua bao năm tháng cô gái con chủ tiệm bán cá, luôn bị lương tâm dày vò, cô vô cùng đau khổ. Bây giờ lại nghe thiên hạ nói, đứa bé ấy rất dễ thương, hiền lành, lễ phép. Sự ăn năn và tình mẫu tử đã sống lại quyết liệt trong cô. Trằn trọc qua bao đêm dài mất ngủ, cô suy nghĩ thấy thương hại vị Thiền sư, vô cớ mà bị tai bay họa gởi, mất hết thanh danh cũng do cô. Vị Thiền sư vì lòng từ bao la, nhận đứa bé nuôi dưỡng không một lời phân biện , không một lời oán trách. Đứa bé oan khiên đó, đã làm cho ngài chịu biết bao nhiêu cay đắng, biết bao nhiêu đau thương, biết bao nhiêu nhục nhã. Hằng ngày thiên hạ không ngần ngại tuôn ra, những lời xỉ vả mắng nhiếc chua cay và đau đớn lên người ngài. Thường thường thế nhân, thấy ai có thể lấn hiếp được thì họ cứ ăn hiếp để tỏ vẻ ta đây, đó là thói đời ! Bấy giờ tình hình luật pháp cũng đã thay đổi cởi mở, không quyết liệt như trước. Hơn nữa, anh chàng làm công đã nghỉ việc, vì sợ sự việc đổ bể, thì anh ta chỉ có chết. Cho nên cô gái suốt mấy ngày phân vân suy nghĩ, không biết phải mở đầu nói với mẹ làm sao, để đi nhận lại đứa con trai của mình. Nhằm thanh minh cho vị Thiền sư, vì lòng từ bi mà gánh chịu cho cô sự nhục nhã, sự oan khiên đau khổ suốt ba năm qua. Cuối cùng cô lấy hết can đảm, thú thật với mẹ mọi chuyện, về mối tình vụng trộm với anh làm công, và sự hàm oan chịu nhục của Thiền sư.


Nghe xong bà mẹ như chết đứng, há hóc mồm hoảng hốt nói :
- Hết người rồi sao ? Con lại đi vu oan cho một vị tu hành đáng kính như vậy ?


Cô gái khóc nấc rồi nói :
- Vì chỉ có những vị tu hành mới nhẫn nhục được và có lòng từ bi hay cứu giúp ai khổ, cho nên con mới chọn.


Bà mẹ vội vàng liền báo cho chồng hay mọi việc của con gái mình đã làm. Người cha nghe qua cũng hốt hoảng, hối vợ đi sắm lễ vật đem đến tạ lỗi vị Thiền sư, để đem đứa cháu ngoại về nuôi.



Cũng vào buổi chiều, mọi người từ lâu đã mến tay mế chân đứa bé hiền lành. Họ xúm xít đùa giỡn với đứa bé kháu khỉnh dễ thương. Bổng thấy hai ông bà chủ tiệm bán cá mang lễ vật đến, còn cô gái thì cúi mặt khóc thút thít đến bên Thiền sư dưới gốc cây. Họ quỳ lạy với hai tiếng “xin lỗi” thật đơn giản, vì đã trót mắng nhiếc và vu khống sự oan khiên nhục nhã đến cho ngài suốt ba năm qua. Bây giờ họ xin đem đứa bé về nuôi, để giải oan cho ngài. Vì Thiền sư vẫn nở nụ cười hiền lành như thuở nào, biểu hiện sự hoan hỷ của lòng từ bi vô biên, ngài không nói gì hơn hai tiếng cũng thật đơn giản:
- Thế à !


Thế là họ bồng cậu bé về. Bấy giờ mọi người chứng kiến mới vở lẽ ra, là ngài bị hàm oan suốt ba năm qua không một lời than trách, không một lời biện bạch. Lúc ấy, nhất là mấy bà chỉ nhau mà trách: Tại bà nói nó giống Thiền sư. Bà khác lại nói: Còn bà thì cho là cái miệng của nó giống miệng Thiền sư. Đúng là Nghi Tâm Biến cảnh. Khi lòng ta nghi điều gì, thì ngoại cảnh hiển hiện y như vậy. Trong thế giới cực vi không có màu sắc, các nhà khoa học đã chứng minh rằng: “Nếu ta nghĩ đến màu xanh.  Thì lập tức màu xanh sẽ xuất hiện. Nếu chúng ta nghĩ đến màu đỏ, thì màu đỏ xuất hiện. Vì tất cả màu sắc của thế giới cực vi, đều do tâm nghĩ ra mà xuất hiện theo ý của mình.”


Qua mẩu chuyện trên, người quý chuộng đạo đức, luôn thiệt thòi mất hết danh dự, còn chịu không biết bao nhiêu sự nhục nhã do thế nhân tấp tới như chuyện vị Thiền sư trên. Nhưng chưa bằng chuyện thương tâm, đi sâu vào lòng người, khiến bao nhiêu người khi xem phim Quan Âm Thị Kính do nghệ sĩ Minh Châu đóng vai Hòa Thượng, đã rơi lệ cảm thương cho chú Tiểu Kỉnh Tâm. Một người con gái giả trai, lại mang những thứ oan khiên đầy thống khổ đắng cay, đau đớn triền miên và cùng cực. Đến khi nhắm mắt lìa đời, thì nỗi oan khiên đeo đẳng đó, mới được giải bày minh bạch, thì người đâu còn nữa người ơi !

Nguyên chú tiểu Kỉnh Tâm, vốn là con gái của phú ông họ Mãn, tên Thị Kính. Náng hiền lành đoan trang, công dung ngôn hạnh vẹn toàn. Có người mai mối cho con Phú ông họ Sùng tên Thiện Sĩ, hai bên thật môn đăng hộ đối, trai tài gái sắc xứng đôi. Ai cũng tưởng họ hạnh phúc trăm năm, con đàn cháu đống, làm vinh hạnh sung sướng cho hai họ. Nào ngờ oan khiên tự kiếp nào, nay vì thương chồng mà nó đến. Nguyên chồng đang nằm đọc sách ban đêm, Thị Kính chông đèn ngồi bên chồng đang đọc sách rồi may áo. Thiện Sĩ thấy vậy, gối đầu trên đùi vợ đọc sách rồi ngủ thiếp. Thị Kính nhìn mặt chồng, thấy một sợi râu mọc chỉa ngược xem kỳ dị, nên thuận tay đang cầm kéo, định cắt sợi râu đó bỏ. Bổng Thiện Sĩ trở mình, đụng phải vật lạnh cứng ở cổ, liền đưa tay đở và mở mắt ra xem. Mắt nhắm mắt mở thấy vợ đang cầm kéo kê vào cổ mình, tưởng vợ lợi dụng thời cơ đâm mình. Liền hốt hoảng la lên là Thị Kính đang đâm vào cổ định giết mình. Hai ông bà nghe vậy là cả tin, cứ theo lời con mà kết án Thị Kính có tư tình với ai, định giết chồng cho rảnh. Dù thị Kính có biện bạch phân trần, nhưng cha mẹ chồng đâu có nghe. Còn cho người qua gọi Phú ông họ Mãn qua nhận Thị Kính đem về nhà. Thật quá uất ức đau thương, quá cay xót tận tim gan, thật là nỗi buồn tũi nhục lớn lao làm sao rửa được. Bây giờ chỉ còn có cái chết mới rửa hết nỗi hàm oan này!


Nàng chỉ hận sao người chồng quá nhát gan và hồ đồ. Còn cha mẹ chồng lại cũng vội tin, mà không suy nghĩ kỹ, lại cũng không chịu nghe phân
giải rõ vấn đề oan ức này. Suốt đêm suy nghĩ trằn trọc, với hai hàng nước mắt đầm đìa về thân phận hồng nhan của mình. Nàng tính kết liễu cuộc đời bằng sợi dây treo cổ, mới giải được oan khiên nhục nhã này ! Sợi dây mới cột xong chưa thắt, thì tiếng chuông khuya của ngôi chùa đầu làng vọng lại. Tiếng ngân trầm lắng nhưng đi sâu vào lòng nàng, khiến nàng chợt tỉnh, nghĩ suy không cần phải chết. Vì chưa hẳn chết là hết, mà nên vào chốn Thiền môn xa lạ khác, để nhờ câu kinh tiếng kệ gội rửa sạch oan khiên. Nhưng thân gái đi xa, mà lại đêm khuya thật là bất tiện. Hơn nữa không có chùa ni, mà xin ở chùa Tăng thì thật khó khăn. Chi bằng giả trai đi đường và xin ở tu thì tiện nhất.


Trời đêm vắng lạnh, những vì sao lấp lánh dưới nhung trời xanh thẳm, ánh trăng mờ đang khuất rặng tre làng. Nàng Thị Kính liền giả trai, rồi trốn cha mẹ ra đi trong đêm sương lạnh lẽo. Mãi đến chiều tà, nàng mới đến chùa Pháp Vân, thấy cảnh chùa u tịch, mát mẻ. Nàng vào chùa lễ Phật, với hình thể nam nhi, thấy sư cụ đạo mạo rất từ bi. Lòng cảm thấy an vui, liền xin sư cụ thu nhận làm đệ tử, rồi xuất gia với pháp hiệu Kỉnh Tâm. Chú tiểu Kỉnh Tâm đã thay đổi cuộc sống mới, đã bỏ hết phiền não thế gian. Cuộc đời của chú đã được nhẹ nhàng, những đau thương lắng dịu dần theo ngày tháng. Lời kinh tha thiết, tiếng kệ ngân nga, làm cho chú thấy thanh thoát, không còn tơ vương trần lụy. Sự an lạc trong tâm chú, bắt đầu nhuần thấm qua tháng ngày nâu sòng đạm bạc ấy.

Nhưng oái oăm thay, cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng! Cuộc đời của chú Kỉnh Tâm đang bình an, lại đất bằng nổi sóng đau thương. Nguyên có Thị Mầu, con gái phú ông trong làng, người đẹp mà nết na chẳng đẹp, hay lẳng lơ khêu gợi thanh niên. Một hôm Thị Mầu đi chùa cầu duyên, bất chợt gặp tiểu Kỉnh Tâm đang quét lá bồ đề trước chùa. Thị Mầu thấy chú da trắng mịn mà, môi hồng mắt phượng, gương mặt thanh tú lạ lùng.  Thị Mầu khởi lòng nguyệt hoa trêu ghẹo chú tiểu. Chú Thị Kính nghiêm trang, yên lặng ẩn mặt, không muốn tiếp chuyện. Thái độ thờ ơ của chú, càng làm cho Thị Mầu mơ tưởng ngày đêm, và hay giả bộ lên chùa lễ Phật. Có khi gặp chú tiểu Kỉnh tâm đang hầu chuông, có khi đang bưng trà cho khách, có lúc đang hoá vàng cho thí chủ trước sân chùa. Thị Mầu trêu chọc mãi mà chẳng được, khiến Thị Mầu càng mơ tưởng đến chú nhiều hơn. Rồi vào một đêm trăng, Thị Mầu thấy gà hoá phụng. Một gia nhân phục dịch trong nhà, Thị Mầu cứ nhìn ra là chú tiểu Kỉnh Tâm, rồi kêu hắn vào phòng. Chuyện tuy kín đáo ban đêm, nhưng lại đổ bể lớn lao cả làng. Vì cái bụng của Thị Mầu mỗi ngày mỗi to ra, cho nên làng bắt khai ra gã nhân tình, bằng không phạt vạ nặng nề. Thị Mầu không lẻ khai là lén lút với tên gia nhân nghèo khổ! Sẵn việc, thôi cứ khai khống ra, là trót hẹn hò với chú Tiểu Kỉnh Tâm cho nên mang thai. Để yêu cầu làng cho chú hồi tục sống chung với nàng là tốt nhất. Vì thế, khi ra làng, Thị Mầu liền khai bào thai này, là do tiểu Kỉnh Tâm chùa Pháp Vân tạo ra.   Làng liền cho lính đến chùa, bắt Tiểu Kỉnh Tâm ra tra hỏi. Sư cụ Trụ trì, biết chú tiểu Kỉnh Tâm tu hành nghiêm mật, đức hạnh khả ái không thể có chuyện đó! Cho nên ngài vội chống gậy theo Tiểu ra làng xem sao.

Khi làng tra hỏi chú, không lẻ khai mình là gái giả trai đi tu! E rằng rườm rà và sinh ra chuyện khác không hay gì, hơn nữa sư cụ sẽ duổi đi không chứa ở chùa. Cho nên Kỉnh Tâm cứ một mực nói, là không có hẹn hò hay thương yêu gì với Thị Mầu bao giờ. Thị Mầu vì yêu Kỉnh Tâm, cứ một mục khai báo là chú sợ tội tránh né, chứ thực thai trong bụng Thị Mầu là của chú. Viên Hương Quản bbực mình, bắt căng chú ra đánh thật đau, để chú nhận tội. Đánh đến thịt da nát ra, máu chảy ruột mềm, chết đi sống lại, chú vẫn kêu oan, nhưng làng vẫn cứ đánh. Chú kiệt sức rán thều thào : “Con bị oan ức lắm Thầy ơi !” Sư cụ thấy vậy động lòng từ, xin làng cho sư cụ đóng tiền phạt thay đòn, rồi lãnh chú đem về. Vốn thân nữ nhi chân yếu tay mềm, mình hạt xương mai, mà bị một trận đòn nát da nát thịt, thì chỉ có cách nằm một chỗ mà thoa thuốc, làm sao ngồi dậy nổi. Tất cả nhờ vào tình thương của sư cụ chở che, săn sóc sớm hôm, chú mới ngồi dậy nổi. Sư cụ biết chú quyết tâm tu, nhưng sợ miệng thế gian đàm tiếu. Cho nên sư cụ bảo chú, hãy dựng cái thất ngoài cổng Tam quan mà ở. Vào chùa công quả, công phu xong là ra thất ở. Chú thấy nghiệp chướng mình nặng nề, chú càng tinh tấn hơn. Ngoài sớm kệ chiều kinh, chú còn công quả vất vả giúp Thầy mọi việc trong chùa. Ngoài ra chú còn ngồi Thiền, hay là lần tràng niệm Phật cho tiêu nghiệp.


Nghiệp chướng oan khiên đó! Tưởng đến đây là hết. Nào ngờ đâu, một hôm chú vào chùa công phu, thì nghe tiếng trẻ thơ khát sữa, khóc thé
nghe não nuột ngoài cổng tam quan. Khi chú ra thì thấy đứa bé mới sanh chưa đầy tuần, quấn trong cái chăn nhỏ, nằm trên bộ vạt của chú khóc. Chú biết ngay là của Thị Mầu ghét chú, đổ trút cho chú cái oan khiên cay đắng này. Thôi thì:


Con ai đem bỏ chùa này
A-Di-Dà Phật, con Thầy thầy nuôi.


Sư cụ trong chùa nghe tiềng trẻ thơ khóc, người chống gậy ra ngoài tam quan xem thử sự tình. Thấy tiểu Kỉnh Tâm đang bồng đứa bé thơ, đưa qua đưa lại ru bé. Sư cụ thở dài, người lắc đầu nói:


Nếu là nước lã người dưng
Tại sao con lại tay nâng tay bồng ?


Chú nghe sư cụ nói thế, liền quay lại quỳ xuống thưa:
- Bạch Thầy ! Thầy thường dạy con, tu phải nhẫn nhục những điều khó nhẫn. Phải có lòng từ bi lớn thương xót mọi loài và:

Dù xây chín đợt phù đồ
Không bằng làm phúc cứu cho một người.


Nay đứa bé này bị bố mẹ nó bỏ rơi, con xót thương không nở bỏ nó tội nghiệp. cho nên con phải bồng nuôi nó Thầy ơi ! Con chỉ sống nhờ vào tình thương và sự tin tưởng của Thầy, mà Thầy còn nghi ngờ con nữa, thì con còn sống với ai đây!


Sư cụ nghe chú phân trần, xúc động cảm thương chú, ngài cũng rơi nước mắt cảnh gà trống nuôi con. Người gật đầu, rồi đem cho những quần áo cũ làm tả lót cho bé.


Những vết thương lòng của chú cứ bị xé rách ra như vậy. Cộng với trận đòn của làng, thân thể còn những nội thương, cho nên chú cứ nay yếu mai đau. Bây giờ, trẻ thơ cần sữa chú làm sao có ! Thầy tu đang mang tiếng xấu có đứa con rơi, rồi lại mang đứa bé đi xin sữa nữa, thì làm sao tránh khỏi cảnh miệng thế mỉa mai, xoi xỉa, cười chê. Nhưng vì lòng từ bi, đã liều rồi lại cứ liều, đến đâu thì đến, cứu người là việc cần trước hết.  Thật tội nghiệp cho chú, chú bồng đứa bé đến đâu, là người ta cười chê, mắng nhiếc đến đó. Ngoài ra thay vì bố thí cơm gạo, thì họ lại thí cho bùn, thí cho đất, thí cho đá ném vào người chú. Những trẻ con trong làng, thì chạy theo chọc ghẹo chế nhạo chú. Chú cố nén lòng, nhưng sao những dòng lệ vẫn cứ rơi, rơi mãi. Nước mắt chú rơi trên gương mặt hiền lành của chú. Nhưng xót xa nhất là nó rơi bên trong lòng chú, làm giá buốt cả tim gan chú. Nếu không vì thương đứa bé vô tội, thì chú đã chết cho rồi, chết cho cuộc đời đã bị bầm giập đau thương, đã bị tan nát hết tim gan và tâm hồn chú. Nỗi thống khổ đắng cay này của chú, nào ai có biết!


Nhưng rồi, cũng có những người từ tâm thương hại chú. Người cho gạo, người cho tiền, người cho đứa bé bú nhờ ! Cuộc sống tuy còn nhiều

thiếu thốn, nhưng nhờ tình thương của sư phụ, nhờ tình thương của những thí chủ từ tâm, nhờ vào tình thương của Đức Bồ Tát gia hộ. Cho nên chú lần hồi vượt qua được cửa tử đó ! Vì con đường đạo quá gian truân, đầy chông gai hiểm độc, mà người đời đã không ngần ngại tấp phủ lên người chú ! Chú đã nhiều lần muốn vào cửa tử đó, để từ biệt cái trần gian đầy dẫy những oan khiên, đầy dẫy những cay đắng khổ đau đoạn trường này!  Đúng là:


Bể khổ trần gian sóng ngập trời,
Con người ngụp lặn, kiếp chơi vơi
Mõi mòn năm tháng tim gan héo
Đau khổ triền miên suốt cuộc đời!



May mắn, là chú nhờ giọt nước cành dương nhà Phật, đã có công dụng tưới mát tâm hồn chú, làm cho chú tăng thêm nghị lực, để nhẫn chịu được phong ba bão tố của cuộc đời. Nhờ vậy, nhiều lúc chú cảm nhận được sự bình an thanh thản, cảm nhận được cái vô ngã của mình, và thấy biển tình thương của mình, đang rào rạt dâng trào trùm khắp nhân gian.  Chú ngộ ra được: Thiện Sĩ, bố mẹ Thiện sĩ và cả Thị Mầu, cả các quan làng, kể cả những người ghét bỏ chú, hay mắng chữi chú, gây đau khổ cho chú, đều là những người đáng thương hơn đáng ghét. Vì chính những người đó là bạn hữu trí thức của chú, giúp chú tinh tấn và thăng hoa cuộc sống của mình. Ngày xưa, nếu không có Thiện hữu trí thức Đề Bà đạt Đa, hại Ngài với nhiều thử thách cam go, thì sự thành Phật của Đức Từ Phụ Mâu Ni chưa đến nhanh như vậy ! Bây giờ chú nghe tâm hồn an lạc hạnh phúc, cả tiếng khóc của trẻ thơ, chú cũng cảm thấy hạnh phúc. Thứ hạnh phúc thanh khiết, trong sáng và cao thượng, thứ hạnh phúc tuyệt vời của người tu, vượt thoát mọi trần tục thường tình. Chú nhìn vạn vật chung quanh có cái gì mới mẻ, có cái gì mầu nhiệm chứa đầy ý đạo, có tiếng thuyết pháp vi diệu của Đức Như Lai. Chú mỉm cười sung sướng.  Chú thấy rằng, hoa sen tươi thắm với hương thơm tinh khiết. Nó không mọc trên ngọc ngà châu báu, mà nó đã vươn lên từ vũng bùn nhớp nhúa hôi tanh. Cõi Cực Lạc thực sự không xa, không cách trần gian tới mười muôn ức cõi Phật. Tây Phương Cực Lạc thực sự, được xây dựng ngay trên chính cái trần gian đau khổ này. Xây dựng trên những đống phiền não ngổn ngang khi lắng đọng. Xây dựng ngay trước mặt, khi tâm thức thanh tịnh, an lạc nhiệm mầu! Chư Phật chư Tổ không dạy: “Phiền não tức Bồ Đề” đó sao ! “Giác là Phật, Mê là chúng sanh” đó !


Cõi Ta Bà có tòa Cực Lạc
Dòng sông mê, bờ giác không xa
Y theo giáo pháp Thích Ca
Tự nhiên bản tánh Di Đà phóng quang


Hơn nữa, cây mọc đất chai thì gỗ càng tốt, người gặp hoàn cảnh khó, ý chí mới kiên cường. Chính những đau thương cùng cực, nó mới nung đúc người tu tinh tấn dũng mãnh hơn bao giờ hết. Cũng chính nhờ sự tinh tấn dũng mãnh đó, mới mau đạt được đạo mầu. Cho nên các vị Tổ nói:



Nước từ nguồn suối chảy tuôn
Đạo mầu từ cõi đau buồn vượt lên.


Nhờ sự tinh tấn để vượt qya khổ ải sông mê, nhiều lúc chú chìm sâu trong tĩnh lặng, chú quên cả thời gian, quên cả không gian, quên cả bản thân mình. Chú ngộ ra là có thử thách, có gian truân, có oan khiên mới giúp mình tinh tấn tiến nhanh trên đường đạo. Vì: Lửa thử vàng, gian nan thử đạo.


Ví phỏng đường đời bằng phẳng quá
Anh hùng hào kiệt có hơn ai.


Chú cảm thấy vui tươi không còn buồn khổ nữa, chú chìm sâu trong tĩnh lặng tuyệt vời, chìm sâu trong an lạc mênh mông. Để rồi, những tia trí
tuệ bừng lên, vụt sáng trong tâm thức chú. Chú thấy rõ cuộc đời là những tấn tuồng diễn tiến, những nhân quả thi nhau kéo đến để đòi nợ. Người tu như người đang bắt đầu làm giàu, thì những chủ nợ vội vàng chạy đến để đòi. Nếu không đòi sớm, mai mốt họ xuất dương ra ngoại quốc sống, thì còn đòi ai được nữa. Cho nên, những vị quyết tu nhiều, thường thường bị nghiệp quả đến nhiều là vậy. Còn người không tu, chẳng khác nào anh chàng nghèo khổ, lại hay nhậu nhẹt, cờ bạc. Cho nên các chủ nợ biết chưa thể đòi. Vì đòi anh ta không có tiền trả, đôi khi còn chìa tay xin tiền nữa là khác. Cho nên, những người sống chẳng ra gì, đôi khi còn dùng những thủ đoạn lừa dối hại người. Thế mà họ sống phây phây là do quả nghiệp của họ chưa chín mùi. Đến khi quả nghiệp chín mùi, thì họ chịu dồn dập không lối thoát. Vì:


“Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo.
Nhược huờn bất báo, thời thần dị đáo”.


Nghĩa là: “Có làm việc thiện, thì quả báo thiện sẽ đến. Nếu tạo việc ác, thì ác báo sẽ trả. Còn như ta thấy chưa trả bây giờ, là vì thời gian chưa đủ chín mùi, nên ác báo chưa đến. chứ không phải là không có quả báo”.  Như trường hợp Thị Mầu, gieo nhân ái nhiễm với gia nhân một cách nóng bỏng, thì quả đến cũng nóng bỏng bất ngờ như lửa đốt. Gieo nhân vu vạ kinh hoàng cho Chú tiểu Kỉnh Tâm, một cách lạnh lùng, tàn nhẫn, chậm chạp mà miên man. Quả đó cũng sẽ đến một cách kinh hoàng, lạnh lùng, tàn nhẫn có tính cương quyết, bất ngờ và dai dẳng. Ngoài ra, còn việc làm mất danh dự của chú, thì Thị Mầu cũng phải chịu cái quả mất hết danh dự lâu dài và đau khổ, bị mọi người xỉ nhục cười chê. Chú Tiểu Kỉnh Tâm vì lòng từ đạo đức, đành gạt nước mắt chịu bao nhiêu hàm oan nặng nề đau xé tâm hồn. Chính lòng từ đạo đức này, thành những yếu tố tạo nên đạo hạnh lớn, vượt thoát khỏi thế gian mà đạt được đạo mầu cứu khổ cho nhân gian. Vì mỗi người có thể là một đức Quán Thế Âm nhỏ, hãy tiếp tay với Đức Đại Bồ Tát Quán Thế Âm. Hãy dùng đôi tay bé nhỏ của mình, buổi sáng hãy nguyện tát vơi phần nào nỗi thống khổ, của những người chung quanh đang nhờ cậy chúng ta. Còn buổi chiều, hãy nguyện đem niềm yên vui và tin tưởng, cho mọi người chung quanh đang cần ta. Tuy ta có mệt mỏi, có bận rộn, có vất vả nhọc nhằn, và đôi khi đôi mắt ta phải chảy những dòng lệ cảm thương. Nhưng ta sẽ cảm thấy sung sướng, cảm thấy hạnh phúc, cảm thấy tâm hồn mình an vui, khi ta đem những hạnh phúc ấy cho mọi người, không cần ai cám ơn hay báo đáp. Có những thời chúng ta tụng kinh, hay réo gọi những vị Bồ Tát. Nào Ngài Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Địa Tạng Vương v . v . . Thế rồi các Ngài đang quang lâm đến cửa nhà chúng ta, không phải trong ánh hào quang rực rỡ, không phải trong lớp áo lung linh chớp chiếu, và cũng không phải trong hình thể uy nghi trang trọng. Các ngài có thể với hình thức nghèo nàn, rách rưới tả tơi, với hình thức mình mẩy lở loét khổ đau, với hình thức cô đơn bệnh hoạn, hay già nua đơn độc. Nếu chúng ta không thành tâm đón tiếp săn sóc giúp đỡ các Ngài, thì chúng ta có tu vạn kiếp cũng không thành tựu.  Đứa bé con của Thị Mầu, chúng ta nhìn bằng con mắt thường thì chỉ là đứa bé. Nhưng nhìn bằng con mắt : “Từ nhãn thị chúng sanh”, tức là con mắt của tình thương, của bình đẳng, của trí tuệ, thì thấy đứa bé chính là vị Bồ Tát ở hiện tại và là một vị Phật của tương lai. Chú Kỉnh Tâm đã chịu nhục nhã, chịu búa riều thị phi đón tiếp nó, săn sóc nó, nuôi nấng nó trong những tiếng nấc nghẹn ngào, cay đắng, dù tan nát cả tim gan vẫn nuôi, vẫn thương, vẫn kiên trì chịu đựng đắng cay để bảo bọc đứa bé. Sự tiếp đón đó vô cùng cao quý. Sự phục vụ đó mới chính là sự cúng dường Chư Phật, cúng dường Chư Bồ Tát. Vì “ phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Chính đó là hạnh tu tuyệt vời, một hạnh tu sáng ngời xuyên suốt cả không gian và thời gian. Chú Kỉnh Tâm tuy không còn nữa, nhưng hạnh tu ấy đã sống mãi trong lòng những người con Phật, sống vĩnh viễn đến vạn đời. Khi nhắc đến ai cũng tiếc cũng thương và quý trọng.


Thế rồi, thời gian trôi qua được bảy năm tròn, cậu bé lớn dần trong tình thương của người cha bất đắc dĩ. Cậu khôn ngoan hiền lành dễ thương như người cha nuôi của cậu. Nhưng sức chịu đựng của tiểu Kỉnh Tâm, đã mòn mõi kiệt sức. Bởi thân thể yếu đuối, lại chịu đòn bọng bị chấn thương sanh hậu bệnh. Bởi những vết thương tinh thần quá sâu rộng, ảnh hưởng đến tạng phủ, cho nên chú đau nặng khó cứu chữa. Chú biết mình sống không lâu, đành viết thơ gởi cho sư phụ kể hết những nỗi oan tình.  Đồng thời nhờ sư phụ cho người chuyển thơ, đến cha mẹ của chú là phú ông họ Mãn, ở làng bên kia huyện cách gần ngày đường.


Sư phụ xem thơ biết rõ mọi sự tình, chú vốn là gái bị hàm oan. Phải giả trai đi tu, rồi lại còn bị them hàm oan khác. Sư cụ đọc thơ xong, xúc động nước mắt lưng tròng. Người vội ra thăm chú thì chú đã từ giã cõi đời, trên môi còn chớm nụ cười thanh thản. Sư cụ vội cho làng hay sự tình oan khuất của chú, và cho người đưa thơ đến Phú ông họ Mãn. Các bà cụ trong làng vội đến xem rõ sự tình, đúng chú là gái giã trai. Các hương cả, hương quản đều xúc động vì đã phạt oan chú Kỉnh Tâm. Họ vội bắt gia đình phú ông chịu tất cả tổn phí đám tang và làm lễ giải oan cho nàng. Khi đọc điếu văn thương tiếc người đệ tử có lòng từ bi, mà phải chịu ba nỗi oan khiên nhục nhã. Sư cụ đã rơi những dòng lệ xót thương và thốt thành lời.


Tu là nhẫn nhục nhu hòa
Nhẫn người khó nhẫn mới là chân tu.


Còn cha mẹ nàng, thương xót vô cùng. Tre già phải khóc măng, thương nàng cực khổ tu hành mà còn bị oan khiên đòn bọng, bị mắng nhiếc nhục nhã, bị tai tiếng suốt cuộc đời. Đến lúc chết rồi, mới được minh oan phục hồi danh dự, thì người còn đâu nữa! Nhưng có một cái vô giá, tiền bạc không thể mua được, đó là Đạo Đức từ bi quý giá ngàn đời, hơn cái danh dự hảo huyền vô nghĩa của thế nhân. Chính điều quan trọng là lòng từ bi mà hy sinh cả bản thân, cả danh dự, quên đi cái ngã của mình.  Chỉ vì tha nhân mà sẵn sàng đưa thân mình ra che chở cho người. Do đó được điểm hoá thành một đức Quán Thế Âm. Ý nghĩa của mẩu chuyện là ở chỗ đó, chứ không phải tu một thời gian mà thành được một vị Bồ Tát Quán Thế Âm, đã trãi qua sự tu hành vô lượng kiếp mà chúng ta thờ.

Mẫu chuyện trên được kết thúc có hậu, đã lưu lại lòng người sự xúc động vô biên và nuối tiếc. Điều quan trọng nữa, là mọi người đều nhẹ nhàng thoải mái. Khi thấy chú Kỉnh Tâm, được Phật Tổ chuyển hoá thành Bồ Tát Quán Thế Âm. Lúc ấy ai cũng hả hê thấy nàng thật xứng đáng. Chúng ta thấy, người có đạo đức là người hay bị chà đạp danh dự; là người phải dẵm trên những dư luận thường tình ; là người hay bị cười chê nhục nhã ; là người bị thiệt thòi phải nhẫn chịu sự ruồng rẫy của thế nhân.


Còn người chỉ lo giữ cái danh dự giả tạo, thì không ngần ngại làm những chuyện thất đức, ác nhân. Vì họ phải dùng những thủ đoạn dù có hại cho người khác, để che đậy những chuyện xấu xa của mình. Vì người chú trọng đến danh dự, là người phát triển cái ngã ích kỷ hẹp hòi. Còn người giữ gìn đạo đức, là người phá vở cái ngã chật hẹp để mưu cầu lợi lạc cho người khác. Cho nên danh dự và đạo đức hay trái nghịch nhau.  Vì Đạo Đức là một cái gì chân thật tồn tại mãi với thời gian, đi sâu vào lòng người để lại những dấu ấn thương tiếc quý trọng. Dù lúc đầu bị thiệt
thòi, bị hiểu lầm, bị nguyền rủa ghét bỏ. Còn Danh Dự chỉ là một thứ giả tạo nhất thời, nhưng được mọi người yêu chuộng, ca ngợi, đánh giá cao. Nhưng những danh dự dõm sẽ bị thời gian đào thải. Vì nó không phải là chân, thiện, Mỹ, dễ lộ chân tướng giả dối, tự nó băng hoại trước làn sóng phẩn nộ của con người. Như qua những mẫu chuyện trên, chúng ta thấy “Chân thực bất hư”. Cho nên cuối cùng Đạo-Đức luôn thắng danh dự, dù đã bị tan thương rách nát, dù có phải chết đi, nhưng nó vẫn thắng vì cái đức độ cao quý của nó. Do đó, Đạo Đức luôn rung động lòng người, sống mãi với thời gian và làm gương sáng cho nhiều đời.


Chịu đựng được như vậy, là nhờ có lòng từ bi thương người rộng lớn. Vì lòng từ bi lớn thì sức nhẫn chịu lớn, có thể chứa đựng tất cả mà vẫn làm được những lợi lạc cho nhiều người. Đức Phật đã chỉ dạy về sức nhẫn như sau:


“Như sức chứa của cái bát nhỏ, để vào một nắm muối sẽ mặn.  Không thể uống được, không rửa mặt được, không thể rửa tay được, cũng không thể rửa chân được. Cũng thế, lòng từ còn nhỏ, sức nhẫn ít, cho nên sự nhẫn nhục kém, không thể dung nạp được những cảnh khó khăn cay nghiệt của cuộc đời!”


“Còn cái hồ lớn, hay con sông lớn. Không những chỉ bỏ xuống một nắm muối, mà bỏ cả một bao muối, hay hàng chục bao muối. Nước đó vẫn dùng uống được, rửa mặt được, rửa tay được và có thể dùng làm nhiều việc khác được, làm sạch sẽ mát mẻ cho nhân gian. Cũng thế, mở tâm từ bi rộng lớn, có thể kham nhẫn chịu đưng được việc khổ nhỏ, chịu đựng được việc khổ lớn, chịu đựng được việc oan khiên cay đắng lớn.  Chẳng những chịu đựng được một việc như thế, mà nhiều việc như thế cũng vẫn nhẫn chịu được, để đem lợi lạc cho thế nhân ! Vậy các ông hãy cố gắng !”


Lời dạy của Ngài thật cao cả và vô cùng quý giá, để chúng ta học hỏi và tu tập. Tuy có khó lúc đầu, nhưng khi nhẫn được một việc, thì có thể nhẫn được hai việc và nhiều hơn nữa. Quan trọng là mở rộng lòng từ bi, để cảm thông, để chia xẻ, để dễ tha thứ mà nhẫn chịu được.  Lão Tử thấy rõ lòng người, biết con người hay phán đoán sai lạc, hay tin vào mắt thấy mà thiếu nhận thức, do đó có nhiều lầm lỗi. Vì mắt ta thấy là chỉ thấy được một khía cạnh nào đó, chỉ thấy được qua hình thức bên ngoài. Chưa thấy được chiều sâu, chưa thấy được toàn diện, chưa thấy được bên trong sự kiện. Lại thiếu nhận thức phân tích, cho nên dễ phán đoán sai lầm. Đôi khi người ta chỉ thấy theo thành kiến, thấy theo định kiến riêng tư, cho nên dễ sai lầm ở điểm này. Như chúng ta đang đứng bên dưới một Building cao ngất ngưỡng, rồi ngước nhìn lên thì thấy building đó đang đi, chứ không phải mây bay. Ngồi trên chiếc thuyền đang di chuyển gần bờ, chúng ta lại thấy bờ đang trôi, chứ không phải thuyền di chuyển. Sự thiếu sót, sự sai lầm chúng ta hay mắc phải.

Vì thế Lão Tử nói: “Hà nhơn vô quá, hà giả vô khiên”. Trong thế gian này không ai mà không lỗi, không ai mà không tội. Lời nói tuy đơn giản, nhưng suy nghiệm thấy rất đúng. Ngay buổi sáng mới thức dậy, rửa mặt soi gương, ngắm áo, là người ta đã nảy ra ẩn ý không tốt rồi. Khi nghĩ ngợi điều gì, không muốn người biết. Nhưng khi người ta thấy mình có vẽ đăm chiêu suy nghĩ, người ta hỏi: “Đang nghĩ ngợi gì đấy !” Đáng lẽ nói thật, nhưng lại trả lời là: “ không có nghĩ gì hết”. Dù trả lời không tổn thất đến ai, nhưng không thật lòng, cũng là một cái lỗi. Nếu chúng ta chịu khó tĩnh tâm quán sát kỹ những ý nghĩ, quán sát những kỹ hành động lớn nhỏ, quán sát kỹ những lời nói trong ngày, ta sẽ thấy có những lỗi lầm cần sửa đổi lại. Đức Phật dạy: “ Có ba hạng người, trong đó có hai hạng người đáng tôn trọng và một hạng người nên xa lánh. Hai hạng người đáng được tôn trọng là: Hạng thứ nhất không có lầm lỗi, là bậc Thánh đang sống Thánh thiện, đáng được tôn trọng. Hạng thứ hai là còn lầm lỗi, nhưng biết sửa đổi để đi trên con đường Thánh, cũng đáng được tôn trọng. Nhưng hạng người thứ ba, là hạng người hay phạm lầm lỗi, nhưng ngoan cố vẫn làm, không chịu sữa đổi. Đó là hạng người đang đi trên con đường tội lỗi, dẫn vào ba nẻo dữ của địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh cần phải xa lánh”.


Tại sao phải xa lánh ? Vì gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Nếu chúng ta ở gần ai một thời gian, lâu ngày rồi cũng dễ bị ảnh hưởng tiêm nhiễm lời nói, và hành động người đó không nhiều thì ít. Bởi sự huân tập hằng ngày một tý mà ta không hay. Người biết lỗi không chịu sửa đổi, một là do ngoan cố, hai là do bảo thủ, ba là do tự ái sợ người cười. Vì cái  Ngã của họ quá lớn, họ chú trọng đến cái danh giả tạo, cho nên đạo đứcbị thiêu cháy, để phô trương cái uy của mình. Các bạo chúa muốn tỏ uy quyền, thích cái danh, cho nên sống ác đức làm những chuyện ác tày trời.  Người chỉ ham danh thì kém đạo đức.


Người có đạo đức thì bị nguyền rủa, ám hại, bầm giập đau thương, để đem lợi lạc cho người khác hưởng. Cho nên Đức Phật dạy trong Kinh Dhammapada :“Như tượng vương giữa trận mạc, phải hứng chịu biết bao nhiêu mũi tên, thương giáo đâm tấp vào mình. Toàn thân mang không biết bao nhiêu thương tích, để đem chiến thắng lợi lạc cho quốc vương.  Như Lai cũng như thế ! Hứng chịu bao nhiêu lời mắng chữi, nguyền rủa, sự mưu hại của thế nhân, để đem bao nhiêu lợi lạc cho chúng sinh được hưởng”.


Như vậy chúng ta thấy rõ ràng, người thích danh dự khoe khoang, là người kém phẩm chất đạo đức, có thể làm những chuyện ác đức. Còn người sống đạo đức, là người khiêm nhường nhẫn nhục chịu đựng, là người hay bị chà đạp danh dự, hay bị ganh tỵ, bị thù vặt, bị nguyền rủa,
bị làm nhục và còn bị ám hại mất hết danh dự.


Danh Dự và Đạo Đức thật sự không đố kỵ nhau, nhưng chúng ít đi đôi với nhau. Khác với thuyết Tài Mệnh đố kỵ nhau như của cụ Nguyễn Du:

 

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo mà ghét nhau


Và:
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần


Còn:
“Chữ Danh, chữ Đạo cách xa
Chữ Dự, chữ Đức mới là bạn thân.”

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/09/202020:15(Xem: 1817)
Thư gởi Chư Thiện tri thức trong và ngoài nước..nhân Tết Nhi Đồng 2020 (HT Thích Tuệ Sỹ)
23/11/202007:52(Xem: 277)
Phước duyên cho tôi khi được Me Tâm Tấn truyền trao gìn giữ một số thư từ còn lưu thủ bút & chữ ký của Chư tôn Thiền đức Tăng Ni vào những năm xưa xửa của thế kỷ trước. Trước, tôi đã có đôi lần giới thiệu thư từ bút tích của quý Ngài danh tăng Phật Giáo nước nhà như Ôn Trí Quang, Ôn Trí Thủ, Ôn Đỗng Minh, Ôn Đức Chơn, Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Thể Quán... Hôm nay, tôi xin cung kính giới thiệu đến chư vị thủ bút và chữ ký của một bậc tôn quý vốn là cột trụ quan trọng trong ngôi nhà Phật pháp, một vị hộ pháp đắc lực của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong những ngày đầu của phong trào phục hưng, một thành viên cơ yếu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất:
11/11/202017:07(Xem: 289)
Mấy ngày mưa bão, rãnh rỗi ngồi soạn thư từ và hình ảnh, những kỷ vật mà Me Tâm Tấn luôn trân quý gìn giữ bao năm trời đã truyền trao lại cho tôi bảo quản làm tư liệu để tham khảo viết bài góp bút vào công tác hoằng pháp, tôi đã tìm thấy được những bức thư viết tay của một vị danh tăng Phật Giáo nước nhà: Cố Hòa thượng Thích Đức Tâm.
11/11/202016:05(Xem: 289)
Trong quyển Yếu giải kinh A Di Đà lần đầu tiên xuất bản ở Việt Nam cũng như trên thế giới được in cả nguyên tác bằng chử Hán của Đại sư Linh Phong Ngẩu Ích cùng bản dịch Anh ngữ của Tiến sỉ J.C. Cleary và phần dịch sang Việt ngữ có chú giải của chính mình, học giả Lý Việt Dũng đã… “tự bạch” về “tiểu sử dài lòng thòng đáng chán của Song Hào Lý Việt Dũng”. Trong đó ông thẳng thắng nhận rằng: “Về quan điểm cuộc sống, tôi là người lạc quan tếu… Tôi cũng chay mặn tùy duyên, không bó thân trong những giới luật xa rời cuộc sống, chẳng có bổn sư vì chẳng quy y ai, chẳng có giới xơ cứng để giữ, sống đa cảm tự tại, có hơi “quậy” một chút!”.
25/10/202008:20(Xem: 314)
Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm. Nước lũ ngầu đục từ non cao đổ về, từ các đập thủy điện xả xuống, đẩy những dòng cuồng lưu ồ ạt đi về nơi trũng thấp, theo những nhánh sông hướng ra biển, chựng lại khi gặp mực biển dâng cao với cường triều gầm thét, sông nối biển biến vùng duyên hải thành một biển nước mênh mông.
24/09/202016:00(Xem: 1102)
Thật là một đại duyên cho những ai là Phật tử tại gia như tôi lại được nghe lời chỉ dạy vừa tâm tình của Sư Phụ Viên Minh vào ngày thứ bảy của khoá thiền khoá 20 (20/9/2020) tại tổ đình Bửu Long như sau : " Ai cũng cho Thầy là người " ba phải "vì Thầy thường trích dẫn những ý tưởng của các Tông phái khác , nhưng đúng ra phải gọi Thầy là "người chục phải "vì ở mỗi Tông phái nào Thầy đều nhìn thấy những điểm hay, tốt và vì vậy Thầy chưa bao giờ phân biệt tông phái nào cả chỉ là nhập gia tuỳ tục thế thôi , vô ngại ...
21/09/202016:20(Xem: 402)
Một trong những điểm đặc thù từ giáo pháp của Đức Phật chính là tinh thần Trung đạo - không rơi vào cực đoan khổ hạnh ép xác hay thú hướng dục vọng. Biện chính giáo pháp để làm lộ rõ con đường Trung đạo cũng là một phương thức hoằng pháp. Có thể sự biện chính chỉ là quan kiến cá nhân và đôi khi đi xa hơn vấn đề cần biện chính, nhất là những biện chính liên quan đến lát cắt của một phần tổng thể văn bản. Dẫu vậy, toàn bộ nội dung bài viết vẫn hướng đến mục đích làm sáng tỏ thêm con đường Trung đạo, tránh sự hiểu nhầm đáng tiếc đối với những Phật tử sơ cơ. Nguyệt San Giác Ngộ xin trân trọng giới thiệu bài viết đến với quý độc giả. NSGN Bài “Quan điểm của Phật giáo về vấn đề kinh tế” của Hòa thượng Tinh Vân (Phước Tâm dịch, Nguyệt san Giác Ngộ số 189, tháng 12-2011, trang 36), có một đoạn viết:
29/08/202016:36(Xem: 370)
Khi được một bằng hữu tặng cho một quyển sách hay và quý, bạn vui vẻ nhận lấy, khen sách trình bày đẹp, đề tài lạ lẫm hấp dẫn, cảm ơn, rồi nhập vào hàng hàng lớp lớp những sách báo trên kệ tủ của mình, nói là từ từ khi nào rảnh rang sẽ đọc sau, rồi quên bẳng luôn, không sờ đụng đến lần nào nữa. Nếu vị bằng hữu đó mà biết được bạn đã đối xử với món quà tặng văn hóa, món quà tinh thần và nghĩa tình kiểu như vậy, chắc vị đó sẽ buồn lắm. Làm người khác buồn, là bạn đã mang tội. Trong trường hợp vị bằng hữu đó không hề hay biết gì hết, bạn vẫn mang tội, chứ không phải vô tội. Tội đó là tội xem thường.
27/08/202004:38(Xem: 857)
Kính chiếu yêu ma bài viết của Cư Sĩ Huệ Hương (ở Melbourne, Úc Châu) Do Phật tử Diệu Danh (Hannover, Đức Quốc diễn đọc) Mười năm về trước khi đọc " CỬA TÙNG ĐÔI CÁNH GÀI " của Sư Ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh tôi vẫn không hề nghĩ đến có ngày mình phải dùng kính chiếu yêu này ... không phải cho người khác bên ngoài mà chính là dùng để soi rọi vào những con ma đang ẩn núp trong rừng tâm của tôi quá chằng chịt và rậm rạp nơi mà tập khí được chôn vùi và đã trở nên hoang dại đến nỗi rất khó để tháo gở được những rễ dây đã bám sâu trong đất Tâm này
18/08/202016:59(Xem: 752)
Bài Thơ Cho Cha Nhạc: Võ Tá Hân Thơ: Phan Như Ca sĩ: Diệu Hiền