Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Du Hôn (truyện ngắn)

28/08/201016:44(Xem: 711)
Du Hôn (truyện ngắn)

Du Hon_Tran Thi Nhat Hung

DU HÔN

Trần thị Nhật Hưng
***




Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
(Chinh phụ ngâm)

Nửa đêm tôi bỗng giật mình thức giấc. Tuy không nhìn đồng hồ, chiếc đồng hồ báo thức có dạ quang chị tôi đặt trên kệ nhỏ bên đầu giường, tôi vẫn biết còn vài tiếng nữa là trời hừng sáng. Tôi trở mình quay mặt ra cửa sổ, đầu óc mênh mông, tôi khó ngủ lại được. Nằm trăn trở trong đêm, tôi theo dõi ánh đèn chập chờn trên trần nhà được chiếu từ những ngọn đèn đường, đèn pha của những chiếc xe hơi hắt qua cửa kính. Không ngủ lại được, tôi trở dậy nhè nhẹ đến bên cửa sổ vén màn nhìn màn đêm. Một màu vàng úa của những bóng đèn tròn cho tôi nhận dạng những căn nhà hàng xóm hầu hết kiến trúc theo cổ xưa, mái nhọn, chóp nhọn có hình dạng kiểu lâu đài đang êm đềm trong giấc ngủ. Trước mặt tôi, chênh chếch trên đỉnh đồi, một vì sao lẻ loi lấp lánh sau hàng rừng thưa mờ mờ trong bầu trời đen thẫm. Tôi đứng lặng thật lâu, ngắm đêm và lặng nghe sự động tịnh của nó. Tâm tư tôi bồi hồi xúc động trước vẻ đẹp êm ả của đêm. Nhưng đêm không hẳn là thế giới của những giấc ngủ an lành, của tình yêu, của mộng mơ hạnh phúc mà còn là sự đồng loã của tội lỗi, của nỗi cô đơn và những cơn sợ hãi… Cũng như tôi bây giờ, chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo như đêm nay, mặc dù chị tôi đã sắm sẵn cho tôi dù chăn êm nệm ấm áo len dày, nhưng cái lạnh của tâm hồn, chị không sao giúp tôi được.
*
* *

Tôi đến Thuỵ Sĩ ba tháng trước vào một ngày đầu hè tháng 7. Buổi sáng đó thật đẹp. Dù mặt trời đã ló dạng nhưng ánh nắng yếu ớt của buổi ban mai vẫn chưa xuyên thủng được sương đêm còn lãng đãng dày đặc khắp bầu trời Thuỵ Sĩ. Từ máy bay nhìn xuống tôi chỉ nhận ra lờ mờ thảm cỏ xanh, rừng núi và chi chít nhà cửa trải dài trên sườn đồi. Và trên đường uốn lượn quanh co những chiếc xe di động trông xa như đàn kiến nối đuôi về tổ. Trong một vài bức thư gửi về Việt Nam, Loan, chị tôi thường kể rằng Thuỵ Sĩ rất giống Đà Lạt, nhiều sườn đồi, hoa, sương mù và rừng núi. Dù mùa hè, buổi sáng hay buổi chiều sương mù cứ lãng đãng như khói mây dưới chân núi khiến cho ta cảm tưởng đi lạc vào cảnh tiên. Cảnh tiên chị đã tới bao giờ, có lẽ chị tưởng tượng lúc xem phim tập mà nói vậy.

Máy bay sắp đáp xuống phi trường, lòng tôi bỗng rộn ràng hồi hộp. Nửa háo hức được xem “cảnh tiên thơ mộng” mà chị Loan thường vẽ vời, nửa nôn nao gặp chị sau bốn năm xa cách. Hồi đó, chị cũng đến Thuỵ Sĩ một mình, kết hôn với anh Vinh để được ở lại và bây giờ chị đã có hai con.
Chị Loan, anh Vinh và hai bé Quyên, Uyên đón tôi ngay cửa ra vào. Phi trường nhộn nhịp người qua, kẻ lại nhưng tôi cũng dễ nhìn ra anh chị nhờ mái tóc đen của anh chị nổi bật giữa những người Thuỵ Sĩ tóc vàng cao lớn. Gặp nhau, hai chị em tay bắt mặt mừng. Anh Vinh xách hành lý của tôi ra xe. Hai bé Quyên, Uyên đưa mắt e ấp nhìn tôi xa lạ. 

Con đường về nhà, xe bon bon êm ái trên mặt đường tráng nhựa.Thuỵ Sĩ nhỏ nên đường xá cũng hẹp hơn. Nhìn về phía trước tầm mắt của tôi như luôn bị cản trở bởi đồi núi, rừng cây. Chân trời làm như ta chốc lát sẽ tới được. Đúng như lời chị Loan kể. Thuỵ Sĩ luôn tươi mát ướt át thơ mộng, dịu dàng như cô gái xuân thì ở lứa tuổi 30. Thảm cỏ xanh chị ví như mái tóc mượt mà. Sườn đồi, núi là biểu tượng thân hình nảy nở. Thỉnh thoảng xe băng nhanh qua dòng sông nhỏ, nước xanh biếc lách mình dưới thung lũng sâu có hàng cây vươn cao, chị Loan bảo đó là ánh mắt đa tình của cô gái long lanh thẹn thùng dưới hàng mi cong vút. Tôi nhìn những hạt sương đêm còn đọng trên ngọn cỏ lóng lánh dưới ánh nắng mặt trời trông xa như những hạt trân châu rồi hỏi chị ví như cái gì? Chị Loan cười, mơ màng nói bằng giọng tiểu thuyết Quỳnh Dao, đó là những giọt lệ buồn của cô gái nhung nhớ tình nhân. Tôi lắc đầu, cười khẽ nước mắt sao đọng được trên “mái tóc mượt mà”? Rồi tâm hồn lãng mạn của tôi cũng nổi lên bất tử, tôi ví von, đó là những hạt mưa nhẹ còn vươn trên tóc em, lúc em đến thăm anh! Nói xong hai chị em tôi cười ròn rã. Hồi còn đi học, vào giờ địa lý, tôi thường nghe thầy giảng, Thuỵ Sĩ có thắng cảnh thiên nhiên hữu tình đẹp nhất thế giới. Tôi mới đến, chưa đi nhiều nước nên không rõ lời thầy đúng hay không? Nhưng trước mắt tôi bây giờ, Thuỵ Sĩ đẹp, thơ mộng, điều đó quả không sai. Suốt dọc đường tôi không hề thấy đồi trọc hay những vùng đất hoang khô cằn sỏi đá. Cảnh sắc hầu hết trông mát mắt nhờ màu xanh của cây, cỏ và rừng núi chập chùng mờ mờ ảo ảo trong sương khói thật giống là…cảnh tiên!

Xe về đến nhà sau hơn một tiếng từ phi trường. Căn nhà chị tôi toạ lạc dưới chân đồi có thảm cỏ xanh ngăn ngắt. Căn nhà hai gian. Chị tôi thuê một trong hai gian đó. Vào nhà mùi phở bốc thơm phưng phức. Chị Loan khoe chị vừa nấu sáng nay. Thuỵ Sĩ không có tiệm ăn Việt Nam, chỉ lưa thưa vài nhà hàng Tàu xào nấu các món dành cho tiệc tùng và cứa đẹp thẳng tay, nên người Việt Nam muốn ăn các món thuần tuý quê hương như phở, bún riêu, bún bò, bánh xèo, bánh bèo, bánh cuốn, bánh bột lọc… đều phải tự nấu lấy. Riết rồi các bà các cô ở đây được tiếng đảm đang, nấu ăn khéo và ngon. Chị Loan giải thích với tôi như vậy. 

Vào bàn, anh Vinh chả nói chả rằng. Lâu lâu anh mới chêm vào vài câu khi cần thiết. Còn tôi và chị Loan cứ huyên thuyên bất tuyệt. Câu chuyện nổ như bắp rang. Hết chuyện quê nhà lại đến quê người. Khi bát phở trong tô chúng tôi vừa hết, chị Loan chuyển đề tài về mục đích chuyến du lịch của tôi. Chị nói:

- Vấn đề của chúng ta bây giờ là tìm người nào đó chịu kết hôn với mình thì em mới được phép ở lại Thuỵ Sĩ. 
Ở lại Thuỵ Sĩ hay bất cứ nước tự do nào trên thế giới vẫn là ước mơ không những của riêng tôi mà tôi quả quyết của tất cả người Việt Nam muốn trốn tránh chế độ phi nhân cộng sản. Nhưng tìm một người chồng gấp rút trong thời gian du lịch ba tháng quả thật khó cho tôi, một người con gái lỡ thời, nhan sắc thường thường bậc trung,tuổi đời tròn 34. Dù với hoàn cảnh của tôi hiện tại, tôi chấp nhận thực tế phũ phàng kết hôn với người không cần tình yêu, thứ tình yêu mơ mộng, tinh khiết của tuổi mới lớn mà một lần trong đời tôi đã hằng ấp ủ, dấu yêu và vuột mất. Bây giờ, thì ai có thể yêu tôi và chịu kết hôn với tôi? Tôi ái ngại nhìn chị Loan, trong khi chị thản nhiên như có sẵn chương trình tự bao giờ.
- Ngày mốt là sinh nhật thứ bốn mươi của anh Vinh. Nhân tiện chị có mời vài cậu đến dự, cũng là dịp tạo cơ hội cho em…gieo cầu.

Chị Loan pha trò như vậy. Tôi cười cười cay đắng:
- Cầu em gieo xuống chắc…cả năm không ai buồn lượm. Chị nói làm em xấu hổ.

Và tôi đã xấu hổ thật sự sau ngày sinh nhật đó. Hôm đó, nghe lời chị Loan mà cũng chính bản chất tự nhiên của người con gái khi xuất hiện trước đám đông, trong bữa tiệc hay trước người khác phái, tôi đã chưng diện thật đẹp (ít ra đẹp trong con mắt tôi. Tôi diện một bộ váy hàng vải mềm, màu khói hương có lốm đốm những chấm tròn màu đen. Chiếc áo đơn sơ cổ tròn, sát cánh chỉ ngắn tới lưng eo. Và bốn nếp ly nhỏ, phía trước chạy dài từ ngực xuống eo. Phía sau, ở hai sườn lưng giúp cho dáng người tôi gọn gàng đôi chút. Còn chiếc váy đơn sơ hơn, chỉ luồn thun ở bụng, loè xoè rủ đến nửa bắp chân. Bộ váy này chị Loan mua sẵn cho tôi từ tháng trước, tuy không kiêu kỳ sang trọng nhưng thích hợp với mùa hè trong bữa cơm sinh nhật gia đình. 
Chị Loan còn mua kèm cho tôi một đôi khoen màu đen, tròn lũng lẵng, đường kính lớn cỡ một cổ tay. Và một xâu chuỗi cũng màu đen bằng một loại nhựa cây đặc biệt. Trong cách trang phục này, tôi soi mình trong gương, tôi trẻ hẳn đến tám tuổi nhất là nhờ mái tóc thẳng loà xoà chấm ngang vai. Chị Loan cũng trầm trồ khen tôi như vậy. Thế mà trong bữa tiệc, dung nhan của tôi đâu có lọt vào mắt … đen của chàng nào đâu?! Mặc dù hôm đó chị Loan cố công quảng cáo tôi trước mọi người, làm tôi có cảm tưởng ngày sinh nhật là của tôi chứ không phải của anh Vinh. Lúc sai tôi bưng súp đến từng người, loại súp chua cay chị nấu bằng nước dùng gà, măng ta, nấm mèo, ớt tây đỏ, gà xé. Chị còn quậy thêm một ít bột năng cho nước xệt lại, rắc tí hành ngò và đặc biệt nhất trong nước dùng chị nêm bằng xì dầu, dấm và tương ớt; mùi vị khá đặc biệt, lần đầu tiên tôi mới biết thế mà chị quảng cáo món súp này do tôi đứng bếp. Còn nữa, tiếp đến là món thịt xay vê tròn lăn bột chiên xếp nằm giữa những con chim cút rô ti đặt trên dĩa sa lát son, lác đác xung quanh có những khoanh cà chua thái mỏng trông như hình hoa. Lối trình bày này cho ta có cảm tưởng bầy chim đang ấp trứng, chị cũng bảo do tôi trổ tài. Rồi cuối cùng đến món thịt bò thái mỏng, mực thái khía, tôm bốc vỏ nhúng dấm quấn bánh tráng với bún, sa lat, dưa leo, rau thơm… ăn với mắm nêm chị cũng khoe do tay tôi làm nốt. Tôi đâu có giỏi nội trợ như vậy. Mặt tôi cứ thộn ra. Tôi không dám cải chính vì cải chính tức là gián tiếp bảo chị Loan nói dối. Mà nhận mình làm có khác nào cướp công của người khác, nên tôi cứ lặng thinh. Ai hiểu sao thì hiểu.

Trong tiệc tôi ngồi đối diện với anh Sinh và anh Trương. Lưng tôi đâu về phía cửa sổ, ngược với ánh nắng để khó nhìn ra những vết nhăn trên mặt tôi. Mùa hè tại Thuỵ Sĩ chín giờ tối, trời vẫn sáng như ban ngày. Trong vị trí này, tôi dễ dàng quan sát hai anh tự nhiên kín đáo hơn mà những người khách khác như vợ chồng chị Thi, bạn chị Loan khó nhìn ra được.

Theo lời chị Loan kể, Sinh và Trương đều đã từng có gia đình. Một người kết hôn từ Việt Nam, một tại Thuỵ Sĩ. Nhưng cả hai đều đỗ vỡ, chị không rõ lý do. Chị chỉ cần biết một cách đơn giản, cả hai đang độc thân tại chỗ và lẽ đương nhiên có ý muốn lập gia đình.
Sinh và Trương không đẹp lắm. Một người ốm, cao; khuôn mặt xương xương hơi dài quá khổ. Một người mập, lùn, hàng ria mép lún phún trên miệng và cặp kính trắng bóng loáng loại đắt tiền vẫn không tạo cho người đeo vẻ sáng sủa cần thiết. Lòng tôi chợt chùng xuống, tự hỏi, đây là một trong những người sẽ là chồng tôi đó sao?! Chưa có nỗi xao xuyến trong lòng nhưng tôi vẫn cố nói cười tự nhiên tỏ ra thân thiện với hai anh.
Không ai đề cập vấn đề ở lại của tôi, nhưng mọi người như ngầm hiểu ý mục đích của bữa cơm này. Chỉ tội nghiệp chị Loan, cũng vì thương tôi, chị làm tất cả những gì để cho tôi đạt được mục đích.

Sau bữa cơm, trước khi Sinh, Trương về , chị đon đả nhắn tới nhắn lui rảnh hai anh cứ lại chơi, có Lê kể chuyện Việt Nam các anh nghe. Rồi hôm sau, chị có vẻ trông ngóng điện thoại, hy vọng Sinh hay Trương gọi lại, ghé thăm hoặc mời tôi đi uống cà phê. Một tiếng reng nhỏ của chiếc điện thoại cũng làm chị hớn hở, tất bật đón máy. Một lần rồi nhiều lần, một ngày rồi nhiều ngày, vẫn không thấy tăm hơi, nỗi thất vọng hằn rõ trên khuôn mặt chị. Còn tôi, tôi biết làm sao hơn? Chân ướt chân ráo đến Thuỵ Sĩ, thân tôi có khác nào chùm gởi nương vào cây cổ thụ!
*
* *

Tiệm ăn nằm một góc ngã tư, đối diện toà hành chính thành phố và nhà ga xe lửa. Ở vị trí này, tiệm rất dễ tìm thấy cho một cuộc hẹn đối với khách lạ.
Khách lạ chính là người lát nữa đây “coi mắt” tôi và ngược lại. Gã là ai, nghề nghiệp, gốc gác thế nào, bao nhiêu tuổi, chưa ai biết. Sơ yếu lý lịch số 3 đơn giản của gã: gã không phải người Việt Nam.

Cuộc hẹn bắt nguồn từ mục “tuyển phu” đăng trên báo địa phương của người bản xứ :“ Một cô gái Việt, 34 tuổi, trinh nguyên muốn kết bạn với người Thuỵ Sĩ. Hợp, sẽ tiến tới hôn nhân. Liên lạc về số điện thoại…”. Đây là hạ sách cuối cùng chị Loan sử dụng trước sự thúc đẩy của thời gian đối với tôi.
Tôi lẳng lặng theo chị Loan bước vào tiệm. Mùa hè thứ bảy, khách ăn đông nghẹt. Chị Loan kể, dân Thuỵ Sĩ vẫn có thói quen thích ngồi quán dù chỉ nhâm nhi một tách trà, cốc cà phê, một ly bia hay một ly kem cao nghệu khi trời nóng. Mùa hè, các tiệm ăn khởi sắc nhờ thức dậy sau suốt mùa đông lạnh lùng, ảm đạm. Những chiếc dù màu mè in nhữ quảng cáo ngân hàng, các hãng nước ngọt v.v… đua nhau chen ra sân dựng bên những bộ ghế nhựa, mây, tre, gỗ… đủ loại trông rất trẻ trung. Những chậu hoa, cây kiểng đủ sắc, đủ kiểu cũng bày ra bên ngoài, đứng nếp một góc sân, bên cửa ra vào hay máng trên những bệ cửa sổ để vài nhánh lả lơi rủ xuống một cách tình tứ, khiêu gợi. Khung cảnh tươi vui, đẹp đẽ như vậy được tô điểm thêm bởi nắng vàng rực rỡ, mát dịu của khí trời Thuỵ Sĩ mà chị em tôi lại rúc vào nhà tìm một chỗ thật khuất, sau chậu cây si để trốn thiên hạ.

Người bồi bàn đem đến cho chúng tôi một thực đơn. Tôi gọi trà đá chanh, chị Loan dùng sinh tố. Vừa đưa ly nhắp miệng, một bóng dáng đàn ông nhớn nhác ghé bàn nói gì đó với chị Loan rồi bắt tay chúng tôi, ngồi xuống.

Khỏi cần giới thiệu, tôi cũng đoán ông là ai. “Chồng” tương lai của tôi đây mà! Một người đàn ông lớn tuổi – trên dưới cỡ 50. Chững chạc. Hàm râu quai nón cạo nhẵn để lại một lằn xanh xanh với những cọng râu chia chỉa. Ông có nét hiền, phúc hậu nhờ khuôn mặt tròn, chiếc bụng to, bệ vệ, nhưng trên khuôn mặt ông không giấu được vẻ từng trải của kẻ sành đời. 

Sau lời (có lẽ) giới thiệu của chị Loan, ông đưa mắt nhìn tôi. Bốn con mắt nhìn nhau, chầm chậm soi mói cố tìm sự cảm thông, thân thiện. Người ta vẫn bảo “ánh mắt là cửa ngõ của tâm hồn” nhưng tôi nghĩ câu đó chưa đủ nghĩa nếu không có lời để bổ sung. Nhưng nói gì được bây giờ khi tôi một chữ Đức cũng không biết, một chữ Anh, Pháp cũng không. Tôi đưa mắt cầu cứu chị Loan. Chị và ông nói chuyện một hồi. Cứ từng chặp, chị thông dịch cho tôi.
Ông tên Karl, chuyên viên khí tượng, người có lòng ngưỡng mộ phong tục tập quán Á Châu qua kinh nghiệm từ bạn bè, sách vở và những lần du lịch. Sự nhẫn nhục, chịu đựng, phục tùng chồng dù có phần quá đáng của phụ nữ phương Đông đã là nguyên do gây chú ý, lòng ưu ái nơi ông. Rồi bằng đôi mắt hiếu kỳ, sau lần li dị người vợ Thuỵ Sĩ, ông chiếu về phương Đông với tất cả sự tò mò, lôi cuốn, ngưỡng mộ. Tuy nhiên, như kẻ lần đầu phiêu lưu điều mới lạ, ông cẩn trọng dè dặt với sự chín chắn, từng trải sẵn có để đề nghị sống “thử” với tôi một năm trước khi chính thức làm hôn thú. Điều đó, dĩ nhiên, tạm thời tôi được phép ở lại Thuỵ Sĩ trong sự bảo lãnh, đùm bọc của ông. Nhưng phần tôi, ở “thử” hay sống “thực” thực tế cũng vậy thôi. Nghĩa là, tôi phải bán rẻ tấm băng trinh đời con gái bằng tờ hôn thú chưa chắc có của ông. Vì nếu sự thiệt hại xảy ra - giữa tôi và ông không thể sống chung lâu dài được – tôi sẽ được “bồi thường” một vé bay bay trở về Việt Nam! Ông trình bày rõ ràng với chị em tôi như vây. Chị Loan hỏi ý kiến tôi thế nào. Tôi còn biết nghĩ thế nào ngoài nỗi xót xa cho duyên phận tôi.

“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ trước gió biết vào tay ai?”
(Ca dao)

Cay đắng, tôi giương mắt thao láo vô hồn, vô cảm hết nhìn ông Karl rồi đến chị Loan, không thốt được nửa lời. Dẹp hẳn chuyện yêu đương với ông Karl lạ hoắc, lạ huơ đáng tuổi bố mà chưa chắc ông đã mạnh dạn cưới tôi, ngay cả anh chàng Thuần “mát mát”, một căn bệnh thời thế: Thi rớt, thất nghiệp, thất tình, thất vọng rồi thất chí. Chị Thi (ban Chị Loan) bảo, biết đâu (lại biết đâu) sự hiện diện của tôi trong đời anh: an ủi, dỗ dành, khuyến khích hy vọng sẽ biến đổi đời anh khá hơn (hay khùng thêm?!), nên một tháng trước, chị đã nhận lãnh vai trò ông tơ bà nguyệt làm mai tôi với anh. Anh đến tận nhà tôi, ngồi suốt buổi anh chỉ đưa hai con mắt thất thần đờ đẫn lừ lừ nhìn tôi không nói một câu nào. Nếu tôi quan niệm “ánh mắt, lời nói là cửa ngỏ của linh hồn” thì quả thật, trái tim tôi làm sao đồng cảm được với một linh hồn đã bị những thất bại của cuộc sống làm ngây dại. Và để được ở lại, tôi cũng không nỡ lợi dụng anh, nhắm mắt ký vào hôn thú - nếu có - rồi sau này li dị anh. Sợ hãi lẫn thương hại, thương cho anh và chính cả thân phận tôi, tôi chỉ thở dài nhìn theo bóng anh lừ lừ bước ra cửa, sau khi, từ lúc đến cũng như lúc đi, anh chỉ vỏn vẹn nói hai chữ với tôi: “Chào cô!”
​​​​​​*
​​​​​*​​*

Trời sáng tỏ, mặt trời chưa thấy mọc mà ánh sáng lung linh chiếu xuống vạn vật một màu vàng ánh. Các ngọn đèn đường đã tự tắt từ lúc nào. Phòng bên, có tiếng ho nhè nhẹ của bé Uyên lẫn tiếng hót líu lo, ríu rít của đôi chim nhà hàng xóm. Từ ba tháng qua, sáng nào thức dậy tôi cũng nghe tiếng hót thánh thót yêu đời của chúng. Chim nhốt trong lồng, sống có đôi, được chăm nuôi tử tế gần gũi loài người có khác. Chả bù với con dân Việt Nam, bao năm qua ai đã nghe được tiếng kêu thống thiết đòi quyền làm người của con người trong chiếc lồng khổng lồ Việt Nam? Ngao ngán, chán chường, tôi nhìn lại thân phận tôi, nhớ đến quyết định dứt khoát mà ngày hôm nay tôi phải trả lời với chị Loan về đề nghị của ông Karl. Ở lại hay về, cả hai đều làm tôi khổ sở.

Trở về ư? Bao lần vượt biên thất bại, tiền mất tật mang, tù tội khốn khổ để chỉ mong sống trong một xã hội tự do với quyền làm người được bảo đảm tôi làm sao quên được. Rồi còn nỗi thất vọng của tôi và của cả những người thân khi thấy tôi trở về. Những câu ưu ái, những lời chúc tụng với sự tin tưởng vào tương lai đầy hứa hẹn đang đợi chờ ở chân trời mới, tôi vẫn nhớ mồn một. Không, tôi không thểbbỏ về! Nhưng nếu ở lại, tức là tôi đương đầu vào cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm với nỗi lo âu phập phồng cho khoảng thời gian “thử” với ông Karl. Liệu “thử” rồi có “thật” không, hay với tấm vé máy bay, tôi hồi hương bằng một tâm hồn tả tơi, tơi tả??? Rùng mình, tôi nắm chặt bàn tay, xua đuổi mọi ý tưởng cuồng loạn trong đầu.

Có tiếng lục đục của chị Loan trong nhà bếp. Ừ, tại sao tôi không nghĩ đến chị? Sao không hình dung khuôn mặt rạng rỡ , nụ cười tươi thắm của chị nếu từ đây, trên xứ lạ, có tôi trong đời để hủ hỉ, tâm tình?! Nghĩ đến chị, sức mạnh và lòng dũng cảm trong tôi bùng dậy. Đúng vậy, tôi phải liều. Một liều ba bảy cũng liều. Biết đâu từ điểm đó tôi có thể tìm ra một lối đi thích hợp.

Tôi thở phào nhẹ nhõm, vươn vai mỉm cười với ánh nắng lung linh đang len dần vào khe cửa như tán đồng về quyết định của tôi: Ở lại!!!

Trần Thị Nhật Hưng

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/09/202016:00(Xem: 592)
Thật là một đại duyên cho những ai là Phật tử tại gia như tôi lại được nghe lời chỉ dạy vừa tâm tình của Sư Phụ Viên Minh vào ngày thứ bảy của khoá thiền khoá 20 (20/9/2020) tại tổ đình Bửu Long như sau : " Ai cũng cho Thầy là người " ba phải "vì Thầy thường trích dẫn những ý tưởng của các Tông phái khác , nhưng đúng ra phải gọi Thầy là "người chục phải "vì ở mỗi Tông phái nào Thầy đều nhìn thấy những điểm hay, tốt và vì vậy Thầy chưa bao giờ phân biệt tông phái nào cả chỉ là nhập gia tuỳ tục thế thôi , vô ngại ...
21/09/202016:20(Xem: 100)
Một trong những điểm đặc thù từ giáo pháp của Đức Phật chính là tinh thần Trung đạo - không rơi vào cực đoan khổ hạnh ép xác hay thú hướng dục vọng. Biện chính giáo pháp để làm lộ rõ con đường Trung đạo cũng là một phương thức hoằng pháp. Có thể sự biện chính chỉ là quan kiến cá nhân và đôi khi đi xa hơn vấn đề cần biện chính, nhất là những biện chính liên quan đến lát cắt của một phần tổng thể văn bản. Dẫu vậy, toàn bộ nội dung bài viết vẫn hướng đến mục đích làm sáng tỏ thêm con đường Trung đạo, tránh sự hiểu nhầm đáng tiếc đối với những Phật tử sơ cơ. Nguyệt San Giác Ngộ xin trân trọng giới thiệu bài viết đến với quý độc giả. NSGN Bài “Quan điểm của Phật giáo về vấn đề kinh tế” của Hòa thượng Tinh Vân (Phước Tâm dịch, Nguyệt san Giác Ngộ số 189, tháng 12-2011, trang 36), có một đoạn viết:
29/08/202016:36(Xem: 260)
Khi được một bằng hữu tặng cho một quyển sách hay và quý, bạn vui vẻ nhận lấy, khen sách trình bày đẹp, đề tài lạ lẫm hấp dẫn, cảm ơn, rồi nhập vào hàng hàng lớp lớp những sách báo trên kệ tủ của mình, nói là từ từ khi nào rảnh rang sẽ đọc sau, rồi quên bẳng luôn, không sờ đụng đến lần nào nữa. Nếu vị bằng hữu đó mà biết được bạn đã đối xử với món quà tặng văn hóa, món quà tinh thần và nghĩa tình kiểu như vậy, chắc vị đó sẽ buồn lắm. Làm người khác buồn, là bạn đã mang tội. Trong trường hợp vị bằng hữu đó không hề hay biết gì hết, bạn vẫn mang tội, chứ không phải vô tội. Tội đó là tội xem thường.
27/08/202004:38(Xem: 666)
Kính chiếu yêu ma bài viết của Cư Sĩ Huệ Hương (ở Melbourne, Úc Châu) Do Phật tử Diệu Danh (Hannover, Đức Quốc diễn đọc) Mười năm về trước khi đọc " CỬA TÙNG ĐÔI CÁNH GÀI " của Sư Ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh tôi vẫn không hề nghĩ đến có ngày mình phải dùng kính chiếu yêu này ... không phải cho người khác bên ngoài mà chính là dùng để soi rọi vào những con ma đang ẩn núp trong rừng tâm của tôi quá chằng chịt và rậm rạp nơi mà tập khí được chôn vùi và đã trở nên hoang dại đến nỗi rất khó để tháo gở được những rễ dây đã bám sâu trong đất Tâm này
18/08/202016:59(Xem: 519)
Bài Thơ Cho Cha Nhạc: Võ Tá Hân Thơ: Phan Như Ca sĩ: Diệu Hiền
14/08/202012:02(Xem: 695)
Thuở trung học, tôi rất yêu môn toán. Những con số cộc lốc khô khan nhưng rõ ràng 1 với 1 là 2 đi vào đầu tôi êm ái nhẹ nhàng hơn những bài văn thơ trữ tình, ướt át. Tôi rất dốt, thường đội sổ môn Việt văn. Giữa khi một đề bài Thầy, Cô đưa ra: “Hãy tả tâm trạng cảm giác của em khi một ngày dự định đi chơi mà bị mưa không đi được„ Bạn tôi, đứa “sơ mi„ (nhất điểm) luận văn khi phát bài luôn được đọc cho cả lớp nghe, viết: “Thế là hôm nay em phải ở lại nhà vì một trận mưa như trút nước. Mưa càng lúc càng nặng hạt, dai dẳng suốt từ chiều hôm qua. Bầu trời vẫn còn u ám, xám xịt, không có dấu hiệu của một trận mưa sắp dứt, một ngày quang đãng. Em buồn nằm nhà, cuộn mình trong chăn nghe bên ngoài mưa rơi tí tách, gõ nhịp trên máng xối„ Thì bài của tôi: “Đùng...đùng...tiếng sét nổ vang. Nhìn ra bên ngoài bầu trời đen thui rồi nước ở đâu từ trên máng xối đổ xuống ào ào. Nước mưa chứ ai. Ghét dễ sợ. Không được đi chơi như dự định rồi. Buồn thỉu buồn thiu„ Bài viết cộc lốc khô cứng như cục đá. Ng
13/08/202009:36(Xem: 359)
Ngày anh ra đi, tôi không được biết. Một tuần sau, Xuân Trang gọi điện thoại từ Mỹ báo tin anh đã mất. Tôi lên đồi thông Phương Bối, chỉ nhìn thấy anh ngồi trên bàn thờ với nụ cười châm biếm, ngạo nghễ mà tôi thường gặp mỗi lần lên thăm chị Phượng và các cháu. Tôi được biết gia đình anh Nguyễn đức Sơn qua sư cô Chân Không. Dạo ấy, khoảng năm 1986, sư cô có nhờ tôi cứ 3 tháng mang số tiền 100 usd lên cho gia đình anh. Tới Bảo Lộc tôi nhờ 2 người con của Bác Toàn dẫn tôi lên gặp anh. Trước khi đi, bác Toàn có can ngăn tôi: Cô đừng đi, đường lên Phương Bối khúc khuỷu, cây rừng rậm rạp khó đi, hơn nữa ông Sơn kỳ quái lắm, ông ấy không muốn nhận sự giúp đỡ, mà nếu có nhận, ông ấy không cảm ơn, còn chửi người cho nữa. Tôi mỉm cười: Không sao đâu, tôi chịu được mà! Đường lên Phương Bối khó đi. Chúng tôi lách qua đám tre rừng, thật vất vả. Cơn mưa cuối mùa và gió lạnh đang kéo tới, chúng tôi phải đi nhanh để kịp đến nhà ông Sơn, một nhân vật quái đản -theo lời nhận xét của gi
09/08/202011:10(Xem: 475)
Là một nhà văn, một nhà thơ, một nhà báo, và là một người tuyên thuyết Phật pháp – trong vị trí nào, Vĩnh Hảo cũng xuất sắc, và nổi bật. Tài hoa của Vĩnh Hảo đã hiển lộ từ các tác phẩm đầu thập niên 1990s, và sức sáng tác đó vẫn đều đặn trải dài qua hai thập niên đầu thế kỷ 21. Vĩnh Hảo viết truyện dài, truyện ngắn, làm thơ, viết tùy bút, viết tiểu luận – thể loại văn nào anh viết cũng hay, cũng nổi bật hơn người. Giữ được sức viết như thế thực là hy hữu. Thể hiện nơi ngòi bút rất mực văn chương, Vĩnh Hảo chính là một tấm lòng thiết tha với đất nước, với đạo pháp, với con người. Tấm lòng đó hiện rõ trong từng hàng chữ anh viết, đặc biệt là trong 100 Lá Thư Tòa Soạn của Nguyệt San Chánh Pháp, là nội dung của sách này với nhan đề Lời Ca Của Gã Cùng Tử.
02/08/202010:23(Xem: 493)
Báo Chánh Pháp số 105 (tháng 08 năm 2020)
13/07/202015:59(Xem: 496)
Mô Phật- Xin thầy giảng giải về sự khác nhau giữa Phước đức và Công đức? - Công đức là sự xoay nhìn lại nội tâm,(công phu tu hành) dùng trí sáng suốt, thấu rõ sự thật, dứt trừ mê lầm phiền não. - Công đức có thể đoạn phiền não, có thể chứng được bồ đề, còn phước đức thì không. Phước đức là những việc làm lành thiện được làm ở bên ngoài hình tướng như bố thí, cúng dường, từ thiện, giúp ích cho mọi người… - Phước đức không thể đoạn phiền não cũng không thể chứng bồ đề, chỉ có thể mang đến cho bạn phước báu. “Do đó chúng ta nhất định phải phân biệt rõ ràng công đức và phước đức.”