Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Giáo dục PG đối diện với những vấn đề hiện tại

18/07/201008:12(Xem: 4726)
Giáo dục PG đối diện với những vấn đề hiện tại
phat_2 (20)
Bất cứ người nào có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về giáo lý đạo Phật như được ghi trong ba tạng kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt đạo Phật trong kinh điển (mà tôi tạm gọi là đạo Phật lý thuyết) với đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế.

Đạo Phật lý thuyết là đạo Phật lý tưởng. Khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế là chuyện tất nhiên và tất yếu. Bởi lẽ nếu không có khoảng cách đó giữa đạo Phật lý tưởng và đạo Phật thực tế thì mọi người chúng ta đều thành Phật cả rồi, và cõi đất này là cõi Phật rồi.

Vì vậy, khi suy nghĩ và nói tới khoảng cách đó qua các sự kiện thực tế, tôi không có mục đích gì khác là tự nhắc nhủ mình và nhắc nhủ mọi người luôn luôn có ý thức về khoảng cách đó và phấn đấu hết sức mình để thu hẹp khoảng cách đó.

Chính với tinh thần và thái độ như vậy mà tôi xin có một vài suy nghĩ về một sự đổi mới phương pháp, hình thức và nội dung của giáo dục Phật Giáo trong thời đại hiện nay.

1. Đổi mới về Hình Thức và Phương Pháp Giáo Dục Phật Giáo:

a. Trong giáo dục Phật Giáo, thân giáo là quan trọng hàng đầu.

Điều này ai cũng biết cho nên không cần nói nhiều. Cái khó là chúng ta không làm, không muốn làm hay không làm được.

Tôi cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến cho đạo không được truyền bá được vào đời một cách rộng rãi, khiến cho giáo dục Phật Giáo có hiệu quả hạn chế là vì chúng ta coi nhẹ thân giáo, tức là những người làm chức năng giáo dục Phật Giáo, phải thực hành từ đó gợi cho người khác thực hành hàng ngày, hàng giây phút những giá trị cao cả của đạo Phật trong cuộc sống của mình.

b. Mở rộng đội ngũ giáo dục.

Cho đến nay, chúng ta thường hạn chế số người làm chức năng giáo dục trong Tăng sĩ, và giờ giáo dục Phật Giáo trong các buổi thuyết pháp hay là lên lớp ở các trường Phật học Trung cấp và Cao cấp. Một quan điểm như vậy làm giảm sút hiệu quả của giáo dục Phật Giáo rất nhiều. Tất cả mọi người không kể là xuất gia hay tại gia, một khi đã tin vào chân lý của những giá trị triết lý đạo đức của đạo Phật và sống theo đúng những giá trị đó, đều mặc nhiên trở thành những nhà giáo dục Phật Giáo, bằng thân giáo, bằng tư tưởng, hành vi và lời nói của mình. Mọi người hãy có ý thức đầy đủ về điều này, và không nên nghe những người nói rằng truyền giáo dục thì phải có văn bằng, học vị, học hàm phải nói cho hùng hồn, điệu bộ cho oai vệ. Suy nghĩ như vậy sẽ lầm to và rất có hại cho sự nghiệp truyền bá của đạo Phật.

Trần Thái Tông, một ông vua Phật tử của đời Trần, đã viết trong Khóa Hư Lục rằng:

“Mặc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hưu biệt xuất gia tại gia, bất câu Tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bản vô nam nữ, hà tu trước tướng”. (Không phân biệt là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt tại gia hay xuất gia. Tăng hay tục chỉ cốt biện tâm. Vốn không nam nữ, sao lại còn chấp tướng?)

Có thể nói đạo ý bình đẳng của Phật không có phân biệt đối đãi xuất gia và tại gia, nam và nữ, già và trẻ. Tất cả mọi người đều có mầm giác ngộ sẵn có ở trong mình, tức Phật tánh, cho nên đều có thể thành Phật. Đạo lý bình đẳng này thấy rõ trong một số Kinh Đại Thừa như Kinh Duy Ma Cật, Kinh Thắng Man đã được dịch ra tiếng Việt. Duy Ma Cật là một Trưởng lão có gia đình, nhưng trình độ giác ngộ của ông ngang với Bồ Tát Văn Thù. Phu nhân Thắng Ma cũng có một vị trí cao tương tự. Trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm 26, một Long Nữ mới 8 tuổi, nhờ nghe Ngài Văn Thù thuyết pháp mà trở thành Đại Bồ Tát, và trong nháy mắt dùng thần thông biến ngay thành nam giới rồi thành Phật. Những truyện như vậy có thể không được Phật Giáo Nam tông chấp nhận, nhưng đứng về tinh thần mà nói, chúng nói lên được truyền thống bình đẳng và phá chấp của đạo Phật, và truyền thống này có ngay từ thời đức Phật còn tại thế.

Phật giáo Việt Nam từng có Ni sư Diệu Nhân đời Lý là một Thiền sư nổi tiếng thuộc dòng Thiền Tỳ Ny Đa Lưu Chi, có Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đều là những cư sĩ và là nhà Phật học xuất sắc đời Trần. Học trò của hai vị này gồm cả Tăng sĩ và cư sĩ. Một học trò xuất sắc của Tuệ Trung chính là Trần Nhân Tông, là Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Một học trò thứ hai của Tuệ Trung là Pháp Loa, là vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm và là người đứng ra san định bản thảo Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, đã được cư sĩ Trúc Thiên dịch ra Việt văn. Trong thời hiện đại, chúng ta có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thẩm, là một nhà Phật học lớn, nhiều Tăng sĩ vốn là học trò của ông, nay giữ nhiều vị trí chủ chốt trong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Ở nước Phật Giáo nào cũng vậy, cư sĩ bao giờ cũng chiếm số đông, họ lại là người có kiến thức thế tục khá rộng, nếu họ có thêm kiến thức nội điển nữa thì họ sẽ trở thành những nhà giáo dục Phật Giáo, những nhà truyền giáo rất tốt, rất có hiệu quả. Tăng sĩ vốn số lượng ít hơn, tất nhiên cũng làm chức năng giáo dục và truyền giáo, nhưng trước hết họ là những người duy trì kỷ cương xuất thế của đạo, và điều này cũng rất quan trọng trong cuộc sống văn minh vật chất của thế giới hiện nay. Nói tóm lại, phải thu hút rộng rãi tầng lớp cư sĩ vào đội ngũ giáo dục và truyền giáo của đạo Phật. Đó là một trong những biện pháp chủ chốt để rút ngắn lại khoảng cách giữa đạo Phật lý thuyết và đạo Phật trong thực tế, trong đời sống.

c. Một vấn đề mang tính cấp thời là dùng rộng rãi tiếng dân tộc, tức Tiếng Việt, trong công tác giáo dục và truyền giáo, bớt dùng chữ Hán, nhất là đối với các kinh Nhật Tụng. Các bản dịch của Đại Tạng kinh Việt Nam phải được nhuận văn thế nào hoặc đông đảo Phật tử đọc và hiểu được, và áp dụng được nội dung và đời sống hàng ngày, vấn đề này quá rõ cho nên tôi không nói nhiều.

II. Giáo dục hướng nội và đặc biệt coi trọng môn Duy Thức học

Về nội dung giáo dục, phải rất chú trọng môn Tâm lý học Phật Giáo, tức là môn Duy thức học. Cho đến nay ở các nước phát triển của phương Tây, người ta chú trọng nghiên cứu thế giới bên ngoài hơn là nội tâm con người. Nói thế giới bên ngoài bao gồm cả xã hội và thiên nhiên. Do đó mà các ngành Khoa học tự nhiên ở phương Tây rất phát triển, tạo ra nhiều thành tựu thần kỳ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, dẫn tới một sự tăng trưởng vũ bão của lực lượng sản xuất. Thành công đó của khoa học kỹ thuật phương Tây không thể phủ nhận được. Thế nhưng trong các ngành Khoa học xã hội thì chỉ có ngành Xã hội học (Sociology) là phát triển tương đối. Ngay Mác, khi dẫn chứng một điểm trong Luận cương của Phơ Bách cũng khẳng định con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nhưng trên thực tế, theo quan điểm của triết học và tôn giáo phương Đông, đặc biệt là Phật Giáo thì nội tâm con người là cả một thế giới mênh mông sâu thẳm, mà mãi tới thế kỷ XX, Sigmund Freud mới sơ bộ phát hiện ra, và trên cơ sở đó xây dựng môn Phân tâm học nổi tiếng của ông.

Chúng ta biết là để trình bày môn Phân tâm học, một môn học rất mới mẻ đối với người phương Tây, Freud đả phải sáng tạo ra một pho ngữ vựng Phân tâm học với những danh từ, động từ và hình dung từ rất lạ tai v.v... Thế nhưng môn Tâm lý học Phật Giáo, cụ thể là môn Duy Thức học Phật Giáo, so với môn Phân tâm học của Freud, đã phân tích nội tâm của con người sâu sắc và chi tiết hơn nhiều, khiến cho những học trò danh tiếng của Freud như Formn, Carl Jung đã theo nghiên cứu Phật học, và trở thành môn đệ của Thiền sư Nhật Bản Suzuki. (Xem Thiền và Phân tâm học - các bản Anh và Việt văn).

Vì không chú trọng đời sống nội tâm, cho nên ở các nước công nghiệp rất phát triển của phương Tây, con người có thể rất nhiều tiền và đầy đủ mọi tiện nghi của đời sống nhưng lại thiếu đi sự bình an của nội tâm và do đó cũng ít có hạnh phúc. Một nhà báo người Mỹ nói: “Về vật lý học, chúng ta đang ở thời đại nguyên tử; về mặt tâm lý học, chúng ta đang ở thời đại đồ đá”. Một hình ảnh khác có sức gợi cảm mạnh hơn, là hình ảnh của một con người, một chân thì buộc vào chiếc máy bay phản lực, còn chân kia thì buộc vào một chiếc xe bò kéo.

Sự mất thăng bằng giữa Tâm lý học (hết sức lạc hậu) và các môn Khoa học tự nhiên, đặc biệt là Vật lý học (hết sức phát triển), giữa nội tâm tán loạn hôn mê vì dục vọng và ngoại cảnh đầy cám dỗ, kích thích và diễn biến cực kỳ nhanh chóng (thời đại hiện nay là thời đại của tốc độ) là nguyên nhân của bao nhiêu tai nạn khủng khiếp, bao nhiêu hiện tượng bạo lực, bạo hành khủng bố thật không sao hiểu được, đang diễn ra hiện nay, có thể nói là hàng ngày. Những chuyện giết người hàng loạt một cách dã man, không phải chỉ xảy ra ở những nước lạc hậu, kém văn hóa như ở Campuchia thời Pôn Pốt, ở Rwanda và Burundi tại Châu Phi hiện nay mà ngay ở trung tâm Châu Âu, ở các nước Nam Tư cũ, ở Nga tại Tchesnia, ở Mỹ tại Okalahoma, và ở Nhật trong các vụ đầu độc dưới tàu điện ngầm v.v...

Duy Thức và Trung Quán là hai đỉnh cao của Phật Giáo Đại Thừa. Hai môn học này bổ sung cho nhau thay vì mâu thuẫn chống đối với nhau như một vài người lầm tưởng. Nếu môn học Trung Quán chú ý nhiều tới sự phân tích logic và tư duy biện chứng, do đó rất thích hợp với các phương pháp khoa học hiện đại, thì môn Duy Thức học lại chú trọng phân tích nội tâm, kết hợp với t tập Thiền định. Không phải không có lý do mà Tông Duy Thức còn mang tên Du Già tông. Du Già ha Yoga là một tên gọi khác của Thiền định, nhưng ý nghĩa của nó có phần rộng hơn.

Giảng môn Duy Thức mà không biết kết hợp với tu tập thiền định thì sẽ biến thành mnô học có tính kinh viện và sách vở. Chính trong những giờ phút ngồi thiền và thực hành thiền quán hay nội quán mà hành giả thấy mọi sự kiện ngoại cảnh và nội tâm một cách minh bạch rõ ràng, đúng như chúng tồn tại.

III. Giáo dục về tinh thần và phương pháp nghiên cứu khoa học, đề cao tính lý trí trong giáo dục Phật Giáo, chống mọi hình thức giáo điều, cũng như mê tín, cuồng tín.

Thời đại hiện nay là thời đại của khoa học và dân chủ. Phương pháp giáo dục Phật Giáo, nếu đi ngược lại tinh thần khoa học và dân chủ, nhất định sẽ kém hiệu quả, thậm chí đem lại hậu quả ngược với ý muốn dự định của chúng ta. Nghĩa là tuyên truyền đạo Phật mà trở lại phản tuyên truyền đạo Phật, biến đạo Phật thành một trò cười cho số đông.

Gần đây có người thường nhấn mạnh tính phi lý, tính trái thường của những ngữ Thiền. Đúng là có một số câu nói nhà Thiền hay là có những hành vi của một số Thiền sư là khó hiểu, thậm chí không thể hiểu được, đại loạì như câu của Thiền Phái Lâm Tế: “Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ” v.v... Tôi không dám phê bình những câu, những lời Thiền như vậy, mà tôi tin là chỉ có giá trị giáo dục nhất định, trong những trường hợp cá biệt nhất định giữa Thiền sư và Thiền sinh, giữa thầy và trò. Tuy nhiên, những câu kiểu như vậy không có một giá trị giáo dục phổ biến.

Đạo Phật khác với các tôn giáo Thần khải, không bao giờ phủ định lý trí như là chuẩn mực đáng tin cậy của Chân lý. Con người là một động vật có lý trí. Tất nhiên con người còn có tình cảm và ý chí. Nhưng ở nơi con người tình cảm và ý chí phải được soi sáng và hướng dẫn bởi lý trí. Với lý trí, con người phải học lập luận một cách logic chặt chẽ, sử dụng thông thạo các thao tác như suy lý diễn dịch và quy nạp. Do đó, môn Logic học Phật Giáo (Nhân Minh học) phải được đưa vào dạy ở các trường Phật học Trung cấp và Cao cấp). Đó là điều hiện nay chúng ta chưa làm, thậm chí ngay cả đối với trường Phật học Cao cấp, chứ đừng nói gì ở các trường Trung cấp. Khi nói và viết, khi suy tư, con người phải biết lập luận một cách logic, nghĩa là có lý có lẽ, chứ không thể suy nghĩ lung tung, viết và nói lung tung, thậm chí cả trong khi giảng dạy.

Nhà bác học Einstein nói: “Tôn giáo mà không có khoa học sẽ là tôn giáo mù, khoa học mà không có tôn giáo thì sẽ là khoa học què”.

Khi Einstein nói tôn giáo mà không có khoa học là tôn giáo mù, theo tôi là Einstein muốn nói tới tôn giáo không phải chỉ là lĩnh vực của đức tin thuần tuý, yêu cầu không được bàn cãi, suy tư , hoài nghi. Tuyệt đối không phải như vậy. Chính kiểu lập luận như vậy biến tín đồ thành một đám người mù, nhắm mắt làm theo chỉ thị của những người tự xưng là Đạo sư, hay là Vô Thượng sư của họ, nhưng trên thực tế đôi khi chỉ là những phần tử cơ hội, có thể không từ một tội ác nào mà không làm, như Đạo sư của Giáo pháp Aum ở Nhật, đã cho đầu độc hàng loạt người vô tội, hay là như một số giáo phái ở Mỹ, tổ chức những vụ tập sát tập thể v.v...

Đạo Phật ngay từ đầu đề cao vai trò của trí tuệ thay vì niềm tin mù quáng, Phật từng nói tiếp thu giáo pháp của Phật mà không hiểu cũng không khác gì một cái thìa đựng mật, nhưng không thể biết mùi vị của mật là gì, Phật lại nói “Chớ có tiếp thu giáo pháp của ta chỉ vì kính nể Ta, trái lại hãy thử thách nó như là lửa thử vàng vậy”.

Đạo Phật không bao giờ tuyên bố vô lý như thế này: “Điều này có thể tin được, vì rằng quá ư vô lý, điều này là đúng vì không có khả năng xảy ra”. Những điều đó logic học Phật Giáo, tức Nhân minh học, gọi là thế gian tương vi. Đạo Phật khuyến khích mọi người hãy lập luận một cách có logic, dựa trên những sự kiện thực tế của cuộc sống hàng ngày. Một lần Phật nói với một người Bà la môn: “Có những Bà la môn và Sa môn nói rằng ngày là đêm và đêm là ngày, nhưng Ta, này Bà la môn, Ta nói đêm là đêm và ngày là ngày”.

Hiện nay có một số ít người, kể cả một số trí thức, thích kể những chuyện lạ về cõi âm, và cũng thích bàn về những quyền năng siêu nhiên như bay trên không, đi trên nước, một thân biến thành nhiều thân, hô phong hoán vũ, sai khiến qủy thần.

Trong phương pháp giáo dục Phật Giáo, chúng ta xử lý những vấn đề đó như thế nào?

Trước hết đạo Phật thừa nhận có nhiều cõi sống khác nhau với cõi người. Có những cõi sống cao cấp hơn cõi người, mà sách Phật thường gọi chung là chư Thiên. Có những cõi Trời ở xa, thậm chí rất xa cõi Người trên trái đất này, nhưng cũng có những cõi Trời ở tương đối gần. Lại có những cõi sống thấp hơn cõi Người, như cõi sống của loài vật, cõi Qủy đói và cõi Địa ngục. Đạo Phật cũng thừa nhận con người sau khi chết, mang một cái thân tạm thời gọi là thân Trung ấm, làm bằng loại vật chất tế nhị, cho nên mắt người không thấy được. Các thân Trung ấm, sống tối đa 49 ngày, rồi theo nghiệp mà tái sanh hoặc trở lại làm người hay là qua một cõi khác hoặc thấp hơn hoặc cao hơn cõi Người. Đó là một mặt của vấn đề. Tức là đạo Phật thừa nhận có những chúng sinh khác với con người, những cõi sống khác vói cõi Người. Còn gọi họ, và cõi sống của họ bằng tên gọi gì thì chỉ là vấn đề quy ước mà thôi.

Nhưng một số vấn đề khác mà đạo Phật rất nhấn mạnh, chúng sinh ở các cõi sống khác nhau, do nghiệp khác nhau, giác quan khác nhau, cho nên cũng không có quan hệ trực tiếp với nhau gì (trong các cõi sống khác, có lẽ chỉ có loài vật [animal] là có quan hệ trực tiếp với cõi người hơn cả). Phúc hay họa đến cho con người là do con người tạo nghiệp tương xứng, chứ không phải do quỷ thần. Cho nên, điều người phải làm, không phải là cúng bái qủy thần để được ban phước hay tránh họa. Họa hay phúc đều do người chứ không phải do qủy thần. Nếu chúng ta hàng ngày làm điều thiện, nói thiện, nghĩ thiện, nghĩa là thường xuyên làm việc thiện thì chính quỷ thần cũng kính nể ta, bảo vệ ta, còn nếu chúng ta hàng ngày làm ác, nói ác, nghĩ ác, thì chúng ta sẽ mang họa, không chóng thì chày, không có quỷ thần nào cứu vớt chúng ta được. Đó là thuyết Nghiệp của đạo Phật, một thuyết rất khoa học và công bằng.

Theo tinh thần của đạo Phật, thì không những quỷ thần không thể can thiệp vào quy luật nghiệp báo, mà các con người đối đãi với nhau cũng vậy. Người thiện thật sự sống thiện, nay cũng như xưa thì người ác muốn hại cũng không làm gì được. Người ác, muốn hại người thiện cũng như kẻ ngu ngửa mặt lên trời mà phun nước bọt, hay là đi ngược gió mà tung bụi ... người thiện sống giữa đời ác độc, cũng như một bàn tay không thương tích nhúng vào một bát thuốc độc, không có quan hệ gì hết.

Còn về vấn đề thần thông và quyền năng siêu nhiên, đạo Phật có thể đó là sản phẩm của công phu thiền định, là một cái gì tự nhiên đến với người tu tập thiền định, trong đạo Phật cũng như ở các đạo khác. Thế nhưng trong các loại thần thông, thì loại thần thông mà Phật đề cao nhất là “Giáo hóa thần thông”, hay là nếu nói theo từ ngữ thông thường là “giáo dục thần thông”. Phật nói đó mới là thần thông thực sự, chuyển hóa con người ác thành con người thiện, con người ngu thành con người có trí, người dữ thành người hiền ... Còn các loại thần thông khác như bay trên không, đi trên nước, chui xuống đất ... đức Phật đều xem như những trò ảo thuật mà đức Phật khuyên học trò mình không nên làm.

Đạo Phật là đạo của trí tuệ, của tình thương rộng lớn. Đạo Phật đem lại cho mọi người nhiệt tình sống cuộc sống đạo đức, sống cuộc sống tâm linh cao cả, cuộc sống trong sáng, thanh tịnh, đầy lòng bao dung ... Đạo Phật, cũng như bản thân đức Phật, luôn khuyên mọi người hãy tin ở sức mình, hãy tin ở mình, hãy tự thắp đuốc lên mà đi ... Chớ có vội tin vì đó là truyền thống do nhiều thế hệ để lại, chớ tin vì đó là tin đồn, được nhiều người nói tới, chớ có tin vì đó là điều đã viết thành sách bởi một nhà hiền triết cổ xưa, chớ có tin vì đó là điều anh thích thú, cho là tân kỳ, và nghĩ rằng đó phải là do thần hay một vật kỳ diệu nào truyền đạt lại. Chỉ sau khi quan sát và phân tích, thấy rằng đó là điều hợp với lý trí, đem lại sự tốt lành, có lợi cho bản thân anh và cho mọi người, thì hãy chấp nhận điều đó và sống theo điều đó” (Tăng Chi I, Kinh Kalama - Các vị ở Kesaputta).

Đó quả là một lời dạy đầy minh triết. Nếu tất cả mọi người đều vâng theo lời dạy minh triết đó, sống tỉnh táo, luôn quan sát và phân tích, dựa vững vàng vào các dữ kiện thực tế của đời sống, kể cả đời sống nội tâm, thì lịch sử nhân loại, kể cả quá khứ và hiện tại, sẽ giảm bớt bao nhiêu tội ác, tang tóc và đau thương, bao nhiêu máu bớt chảy, bao nhiêu nước mắt đỡ tuôn rơi, bao nhiêu quả tim đỡ tan nát ...

Có người nói đạo Phật là tôn giáo của niềm tin nhưng không phải là niêm tin ở Thượng đế mà là niềm tin ở con người, ở lý trí của con người biết phán xét phải trái, ở trái tim của con người biết yêu thương đồng loại, ở ý chí của con người biết vương lên cái tốt cái thiện.

Đạo Phật là như vậy, và toàn bộ giáo dục Phật Giáo trong thời hiện đại phải đổi mới như vậy, nhằm mục đích như vậy, theo hướng như vậy. Đó sẽ là đạo Phật của tương lai, của thế kể XXI. 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/03/201919:55(Xem: 266)
Triết Học Phật Giáo Ấn Độ, Hayes Richard, Thích Nguyên Tạng (dịch), Phật giáo (PG) là một thành tố quan trọng, hỗn hợp các triết lý khác của tiểu lục địa Ấn Độ trong hơn một ngàn năm qua. Từ phần đầu khá lặng lẽ, vài thế kỷ trước Tây lịch, nền học thuật PG gia tăng sức mạnh cho tới khi đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng và tính chất độc đáo trong nửa sau thiên niên kỷ thứ nhất. Từ thế kỷ thứ mười một trở đi, PG dần dần suy thoái và cuối cùng biến mất ở miền Bắc Ấn Độ. Mỗi nhà tư tưởng chú trọng vào những đề tài khác nhau, nhưng khuynh hướng chung của đa số họ là trình bày một hệ thống triết lý nhất quán, bao gồm đạo đức học, tri thức học và siêu hình học. Phần lớn những đề tài mà các triết gia PG Ấn này viết, là phát xuất trực tiếp từ những giáo lý được xem là của Sĩ-đạt-ta Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), thường được tôn xưng bằng danh hiệu là Đức Phật.
16/02/201908:54(Xem: 354)
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn chương và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
01/02/201907:43(Xem: 601)
Những câu văn không chuẩn văn phạm vì thiếu những chủ từ [subjects] trong những bài triết luận về Phật Giáo mà tôi đã, đang, và sẽ viết không phải là tôi cố ý lập dị như những triết gia danh tiếng trên thế giới khi họ hành văn (chương) và viết về triết học nhưng mà tôi không có thể làm cách nào khác hơn khi viết về ý vô ngã [không Tôi] để không bị mâu thuẫn với ý phá ngã.
08/01/201918:12(Xem: 494)
Kinh Duy Ma Cật, tôi đã có duyên được học với Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tại Phật Học Viện Báo Quốc - Huế, sau năm 1975 Tôi rất thích tư tưởng “Tịnh Phật Quốc Độ” của kinh này, khi nghe đức Phật gọi Bồ tát Bảo-tích mà dạy: “Trực tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật chúng sinh không dua nịnh sẽ sinh về cõi ấy. Thâm tâm là Tịnh Độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh nào có đầy đủ công đức sẽ tái sinh về cõi ấy. Bồ đề tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, hết thảy chúng sinh tầm cầu Đại thừa sẽ sinh vào cõi ấy.
04/01/201916:24(Xem: 14672)
“Hiểu về trái tim” là một cuốn sách khá đặc biệt, sách do một thiền sư tên là Minh Niệm viết. Với phong thái và lối hành văn gần gũi với những sinh hoạt của người Việt, Minh Niệm đã thật sự thổi hồn Việt vào cuốn sách nhỏ này. Xuyên suốt cuốn sách, tác giả đã đưa ra 50 khái niệm trong cuộc sống vốn dĩ rất đời thường nhưng nếu suy ngẫm một chút chúng ta sẽ thấy thật sâu sắc như khổ đau là gì? Hạnh phúc là gì? Thành công, thất bại là gì?…. Đúng như tựa đề sách, sách sẽ giúp ta hiểu về trái tim, hiểu về những tâm trạng, tính cách sâu thẳm trong trái tim ta.
10/12/201805:28(Xem: 644)
Lời tác giả: Việc biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, chúng tôi ước mong được sự lượng thứ của các bậc cao minh. Những sự sửa sai và bổ khuyết của quý vị độc giả sẽ giúp bài viết này được đầy đủ và hoàn hảo hơn trong lần viết lại; đó quả là niềm vinh hạnh cho chúng tôi. NVT
06/12/201809:24(Xem: 428)
Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi ? Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi ? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác ? Nói một cách khác, có thể nào xem từ bi như là một đặc điểm của đạo Phật ? Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn là đạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, l
02/12/201807:48(Xem: 918)
Thời gian gần đây nhiều Phật tử đã yêu cầu tôi giải thích những lời dạy vô giá của Phật theo phương cách hiện đại, xử dụng thuật ngữ và diễn giải thực tế, có hiệu quả, thực tiễn và không quá cao siêu. Theo phương cách dễ hiểu và thực tế để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Đây là tập sách đầu của một chuỗi những tập sách nhằm mục đích đáp ứng những thỉnh cầu này. Đây là tập sách sưu tập gồm 50 lời dạy ngắn kèm theo chú giải chi tiết dài ngắn khác nhau, mục đích để khuyến khích tất cả những vị đã dành thời gian để đọc và thực hành những lời dạy này để phát triển sự hiếu biết chân thật và lòng từ bi.
26/11/201806:41(Xem: 935)
Chúng tôi đến thăm Việt Nam một vài lần, tôi nhớ có lần chúng tôi đang ở Hà Nội. Lúc đó là Đại hội Phật Giáo, tôi cũng có buổi thuyết trình cùng với những vị khác nữa. Hôm đó đang ngồi đợi, thì có một vị Thầy trẻ người Việt đến chào, sau khi hỏi từ đâu đến, tôi nói tôi đến từ Australia. Thầy ấy nói, oh… woh… vậy Thầy có biết vị Tăng tên Ajahn Brahm không? … (cả Thiền đường cười). Tôi trả lời: Tôi là Ajahn Brahm đây. Thế là Thầy ấy tỏ ra rất hào hứng, tôi cũng hào hứng... Tôi thích Việt Nam. Tôi thích người Việt.
04/09/201818:42(Xem: 1108)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.