Ngày Con Đi

21/08/202507:03(Xem: 1632)
Ngày Con Đi
me hien


NGÀY CON ĐI
Thích Nữ Hương Trí cảm tác


Nỗi u buồn man mác chẳng biết tự khi nào đã len vào gian phòng nhỏ của mẹ. Ngoài kia, vườn xuân đang rộn rã, lá non reo vui, gió nhẹ thì thầm bản nhạc diệu kỳ của sự sống. Nhưng trong lòng mẹ, hôm ấy không có nắng. Chỉ có một nỗi buồn lặng thầm, nỗi buồn của ngày chia xa, nỗi buồn khó tả khi đứa con thơ của mẹ khăn gói bước chân vào chốn thiền môn.

Đôi mắt mẹ nhìn con, có khi dịu dàng như vầng trăng thu, có khi hân hoan, trách yêu vì con nghịch ngợm, cứng đầu... Nhưng hôm nay, đôi mắt ấy lại đẫm sương. Nước mắt không rơi thành dòng, mà lặn sâu trong khóe mắt, làm đôi mi và vành môi cứ run run như chực vỡ òa.

Mẹ vẫn lặng lẽ ngồi đó, trong căn phòng vắng, chỉ có tiếng tắc kè điểm nhịp, tiếng lá vàng xào xạc ngoài hiên. Đôi tay gầy guộc, chai sạn vì bao tháng năm tần tảo, lại một lần nữa chăm chút cho con: chiếc áo ấm, vài đôi tất, khăn quàng cổ, chai dầu gió, bàn chải… Tất cả được mẹ soạn sẵn, như muốn gửi trọn tình thương trong từng vật nhỏ. Con chạy tới chạy lui ríu rít, nhưng đâu hiểu hết ánh mắt thâm quầng vì những đêm dài mất ngủ của mẹ.

Mẹ ơi! con nhớ ngày ba đột ngột qua đời, mẹ mới ngoài bốn mươi. Từ ấy, mắt mẹ như chôn giấu một dòng lệ không bao giờ cạn. Mẹ vừa làm cha vừa làm mẹ, cặm cụi sớm hôm, che chở cho đàn con. Có những đêm, con thấy mẹ ngồi lặng bên ngọn đèn dầu, ngắm chúng con ngủ say mà khóe môi mỉm cười, nhưng lệ lại rơi trên đôi gò má rám nắng. Những lúc giả vờ ngủ, con nghe lòng dâng lên một nỗi nièm khó tả

Rồi con lớn lên, đến tuổi mười lăm, lòng khởi nguyện xuất gia. Con biết mẹ từng ước mong có một đứa con thoát tục tu hành. Nhưng khi ngày ấy đến thật, mẹ lại rơi nước mắt. Không phải vì ngăn trở, mà vì thương con còn thơ, phải rời vòng tay mẹ.

Đêm trước ngày đi, con nằm im, nghe nhịp thở của mẹ, nghe tiếng trở mình khe khẽ. Con tưởng mẹ ngủ, nào ngờ chính đêm ấy, mẹ chẳng chợp mắt. Canh ba, mẹ lặng lẽ dậy, nhóm bếp, nấu nồi khoai ngào đường, gói trong lá chuối khô. Sáng ấy, tay mẹ run run trao con, mắt hoe đỏ. Con lau nước mắt mẹ, nũng nịu dọa: “Mẹ đừng khóc, không thì con không đi nữa đâu!”. Hai mẹ con nhìn nhau, nghẹn ngào không nói nên lời.

Mẹ dúi vào tay con gói bột ngũ cốc: “Khi thức khuya học bài, nghe đói thì lén pha một ly, cho đỡ đói”. Người đời nào có ai dạy con cái “lén lút” bao giờ! Nhưng con hiểu, đó không phải sự vụng về mà chính là nỗi lòng của mẹ, thương con đến từng bữa ăn, giấc ngủ và cảm nghe đươc tiếng rột rột trong cái bụng đói của con. Mùi thơm ấy, con biết sẽ theo con mãi suốt cuộc đời, giữa chợ đời náo nhiệt hay chốn núi rừng thanh đạm.

Giờ xe lăn bánh, đưa mẹ trở về quê; con đứng nhìn theo, bụi hồng cuốn bay, bóng mẹ lúc ẩn lúc hiện rồi khuất hẳn sau hàng cây. Tim con thắt lại, muốn chạy theo níu lấy, nhưng đôi chân đã chọn một con đường khác. Con thì thầm gửi theo tất cả lòng tri ân và tình thương vô hạn đến mẹ.

Khi bước chân vào chùa, tiếng chuông ngân vang, lòng con chợt nhẹ như có cánh bay. Nước mắt rơi nhưng tâm lại sáng bừng, như thấy cả bầu trời mới mở ra. Con tự nguyện dặn lòng: “Phải tu cho tinh tấn, thế mới báo đáp công ơn sâu nặng của mẹ cha.” Con hiểu ra, hiếu không chỉ là ở bên phụng dưỡng cha mẹ, mà còn là đi tiếp con đường tỉnh thức để cha mẹ được nương nhờ ánh sáng Phật pháp. Nếu chỉ bám víu vào sự hiện diện hình hài, có lẽ con sẽ mãi ở lại trong vòng quay của luân hồi. Nhưng nhờ đi, con mới thật sự thấy được rằng: mẹ luôn hiện hữu trong từng hơi thở chánh niệm, trong mỗi bước chân quay về cội nguồn tâm linh.

Mẹ ởi! Mùi thơm bột ngũ cốc năm ấy đã thành một làn hương ký ức. Có người nói, đời người chẳng qua chỉ là những chuyến đi, hết ga này lại sang ga khác. Nhưng mẹ chính là “ bến đỗ đầu tiên”- nơi con cất tiếng khóc, được chở che bằng vòng tay dịu dàng. Rời khỏi bến đỗ ấy, con mới biết thế nào là vô thường, mới hiểu rằng yêu thương không thể nắm giữ mãi, mà chỉ có thể trân trọng trong từng phút giây..

Vu Lan về, người ta cài lên ngực một đóa hồng. Con có lẽ mang trên ngực đóa hồng đỏ, nhưng trong lòng lại mang cả một vườn hồng;bởi mỗi giọt mồ hôi, mỗi giọt nước mắt của mẹ đều hóa thành hoa nở. Người ta nói “báo hiếu là trả nợ”, nhưng con nghĩ được báo hiếu chính là một ân huệ. Được làm con của mẹ, được rời mẹ để đi tu, cũng là một cơ hội để con yêu thương theo một cách khác: sâu hơn, tĩnh lặng hơn, bền lâu hơn.

Mẹ ơi, có thể một ngày kia khi con cúi đầu cài hoa trắng, lòng sẽ nghẹn ngào. Nhưng ngay cả khi ấy, con tin mẹ không hề mất. Mẹ chỉ hóa thân trong từng nụ cười, trong từng làn gió sớm, từng câu kinh. Và con biết, sống trọn vẹn trong đạo hạnh chính là cách con giữ mẹ lại mãi mãi, không cho vô thường cuốn trôi.

Mẹ ơi!  Mẹ là vườn hoa bất tuyệt, là đại dương không bao giờ cạn, là hơi ấm giữa mùa đông giá buốt. Con xin dâng trọn đời mình lên Tam Bảo, nguyện sống xứng đáng để không phụ tình thương và hy sinh của mẹ.

Và mỗi độ mùa Vu Lan về, khi khói hương bảng lảng, khi tiếng chuông chùa ngân lên trong chiều, lòng con lại thấy thấp thoáng bóng mẹ. Con nghe như mùi ngũ cốc năm nào còn vương vấn, như bàn tay gầy gò vẫn còn đặt trên vai con, dặn dò: “Hãy sống cho tử tế, tu cho trọn đạo, ..... con nhé!”

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9219)
Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.
10/04/2013(Xem: 7416)
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
10/04/2013(Xem: 7463)
Với cái nhìn tuệ giác, Đức Phật quán chiếu trong vòng nghiệp duyên của chúng sanh, Ngài đã thấy được không có một chúng sanh nào tồn tại độc lập, mà ngược lại lưu chuyển trong vòng tương duyên với nhau. Tất cả vì vô minh, mà chúng sanh không thấy được Ngài. Trong kinh Báo Phụ Mẫu Ân diễn tả, có lần Đức Phật đi trên đường và thấy bên lề đường một đống xương khô, Ngài đã lễ lạy đống xương ấy.
10/04/2013(Xem: 6890)
Là Phật tử, mỗi người chúng ta luôn mang tâm nguyện tiến tu trên con đường giải thoát và giác ngộ, việc trước nhất thể hiện ý nghĩa đó là cần phải học Phật. Có học Phật cặn kẽ, rõ ràng và căn bản, chúng ta mới có cơ hội để tiếp nhận ánh sáng của đức Phật tỏa chiếu muôn nơi mà không e sợ đi lạc đường, lầm lối, dẫn vào tà đạo, và mới có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho chính mình và cho tha nhân.
10/04/2013(Xem: 6261)
Truyền thống giáo dục của Phật giáo có ba hình thức căn bản, gồm: khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Tùy theo căn cơ của người đệ tử mà các bậc thầy có thể sử dụng nhiều phương thức hướng dẫn khác nhau, nhưng thân giáo vẫn là quan trọng hơn cả cho thầy lẫn trò. Trở về khoảng thời gian Đức Phật còn tại thế, sự thuyết giảng của Ngài chưa bao giờ có hình thức giảng dạy như hình thức viết lách như chúng ta hiện nay.
10/04/2013(Xem: 7569)
Ánh sáng giác ngộ được hiểu như là một sự dập tắt vô minh, vọng tưởng điên đảo trong tâm trí của con người, là sự biết rõ sự thật về nguyên nhân và kết quả, nhận thức và hành động, con người và môi trường xung quanh. Giác ngộ là sự hiểu biết chân chánh, thấy rõ bản chất như thật của sự vật, vạn pháp. Giác ngộ còn có nghĩa là đoạn tận khổ đau, dứt trừ những tập khí phiền não bao trùm đời sống của con người trong nhiều kiếp sống, là sự thoát ly những con đường dẫn chúng sanh lên xuống trong sáu nẻo luân hồi trong vô minh bừng cháy.
10/04/2013(Xem: 7251)
Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo. Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như.
10/04/2013(Xem: 6571)
Chúng ta thấy rất rõ, từ cái nhìn của một người dù không phải là Phật tử , khi họ thấy chiếc y màu vàng đắp trên người của các vị Tăng Phật giáo, họ vẫn dễ dàng nhận biết được đó là tu sỹ Phật giáo, một cái nhìn quán tính, đã ăn sâu trong ký ức của mọi người. Đó là hình ảnh hiện thân của Đức Phật, và ngày này vẫn được tiếp nối trong Phật giáo. Ít nhất, hình bóng này, người bình thường cũng dễ dàng nhận biết và phân biệt được. Như Phật tử chúng ta có dịp thấy chư Tăng Nam tông ở các nước theo truyền thống Nam tông như Thái lan, Tích Lan, Miến điện, Lào và Campuchia v.v... và một bộ phận nhỏ ở Việt nam.
10/04/2013(Xem: 7154)
Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẵn là kỳ tài ở phương Tây.
10/04/2013(Xem: 9908)
Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: "Tín là gốc của Đạo, là mẹ đẻ của mọi thứ công đức, nuôi lớn hết thảy gốc của Thiện". Đối với tôn giáo nói chung, đức tin phần lớn là bước đầu tiên để con người phát sinh lòng mến yêu đạo. Trong đạo Phật, tín là một trong những điều kiện căn bản để thành tựu các công đức lành (Tín- Hạnh- nguyện). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói: Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta.