Mùa thu viết cho Mẹ

11/04/201311:59(Xem: 7314)
Mùa thu viết cho Mẹ

Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2012

Mùa thu viết cho Mẹ

Nhị Tường

Nguồn: Nhị Tường

me_con

Cứ mỗi mùa thu đến, lá vàng rụng đầy trên sân, trên lòng đường, dù ở bất cứ nơi nào lòng con luôn nghĩ về mẹ. "Mẹ là lọn mía ngọt ngào, mẹ là nải chuối buồng cau". Một nhà sư từng viết như thế khi nói về người mẹ. Với con, mẹ là không chỉ là lọn mía, nải chuối buồng cau, mẹ là Tiên, Là Phật, Là Đấng Tối Cao duy nhất của đời con.
Còn nhớ, khi con còn nhỏ, con quặt quịu đau ốm luôn, mẹ luôn là người ngồi bên cạnh con để bóp tay, xoa lưng cho con ngủ. Con không thể nào chịu nổi khi thức dậy khi vắng mẹ. Con không chịu thức dậy nếu không nghe tiếng gọi ân cần của mẹ. Dù mẹ có bận trăm công nghìn việc gì, bao giờ mẹ cũng phải có mặt vào lúc con trở mình thức giấc đêm khuya. Do lúc ban ngày con chơi đùa quá sức, những đêm con trằn trọc không ngủ, mộng mị thấy những hình bóng ông ba bị, con khóc thét lên, và chỉ khi nghe tiếng nói dịu êm: "mẹ đây, mẹ đây con" là con an lòng rúc vào lòng mẹ, say một giấc ngủ thần tiên.
Khi mẹ bị tai nạn xe tông. Trong cái chết chập chờn trong gang tấc, người mẹ nghĩ ngay đến là con. Mẹ kêu van Trời Phật, hãy cho mẹ sống để được nuôi con đến ngày khôn lớn. Mẹ lo cho con khát sữa, ai có thể cho con bú mớm thay mẹ. Nếu chẳng may mẹ mất đi, thì ai sẽ dắt dìu con thành người đây. Trời Phật đã nghe lời van xin của mẹ, mẹ đã sống sau cơn hoạn nạn đó. Mẹ chẳng bao giờ có lấy một giây phút nghĩ đến bản thân, mà chỉ lo lắng cho con cho cái, ngay cả trong lúc hoạn nạn đớn đau.
Khi con chập chững vào mẫu giáo, cũng là mẹ dắt tay con đến trường. Giao con cho một cô giáo lạ hoắc lạ huơ. Con sợ hãi nhưng mẹ bảo con đừng khóc, vì cô rồi sẽ yêu thương con như mẹ thôi. Thế rồi sợ cô, con không dám khóc, nhìn mẹ quay ra bước ra cổng hình như trái tim non nớt của con đã cảm thấy cô đơn bơ vơ lạ lùng. Con khóc thét lên, nhưng rồi con cũng phải nín lặng vì không ai dỗ dành. Đến chiều về, con hờn giận mẹ, con nghe mẹ nói mẹ đã đứng rất lâu trước cổng trường, tiếng khóc của con dội vào tim mẹ. Mẹ phải đợi đến khi không nghe tiếng con khóc nữa, mẹ mới ra về. Lần đầu tiên trong đời con nhận thức rằng, sống trên đời này sẽ có lúc mình phải lìa xa những người mình yêu thương nhất.
Khi con lên mười, đất nước gặp lúc lầm than, mẹ tần tảo nuôi con hôm sớm. Những bữa cơm chỉ độn toàn là khoai sắn. Ngày nào con cũng thấy mẹ dùng đũa vuốt những hạt cơm dính trong củ khoai, dồn lại thành một chén cơm đầy cho riêng con. Mẹ nhìn con ăn những củ khoai trước cho chặt ruột rồi sau đó mới hau háu ăn chén cơm, mẹ quay đi mà nước mắt lưng tròng. Con biết mẹ đã dành hết mọi điều ngon ngọt nhất đời cho con.
Cứ đến mùa thu thì con nhớ đến mẹ, không chỉ vì mùa thu là mùa Vu lan báo hiếu, mà còn vì con cứ nhớ mãi hình ảnh mẹ quét những chiếc lá khô trên sân vườn. Mỗi buổi chiều tan học, mẹ với cây chổi quét xào xạc trước nhà chờ đợi con đi học về. Mẹ hay than phiền cây trứng cá này rụng lá, nhưng vẫn không chịu chặt đi để trồng cây khác, vì biết con thích ăn trái trứng cá. Bạn bè con đến chơi lấy cây trứng cá làm vui, vì tên của các bạn con nhỏ Phượng , nhỏ Hoa, nhỏ Mai khắc đầy trên đó. Đến bây giờ con vẫn nhớ như in hình bóng mẹ và tiếng xào xạc chiếc chổi tre. Cũng chiếc chổi tre đó mẹ quất con đau điếng, khi con ham chơi đi học không chịu về nhà. Những lúc đó con hờn mẹ biết bao nhiêu thì giờ đây con lại biết ơn mẹ bấy nhiêu. Nếu mẹ không đánh đòn, chắc con không chịu chăm lo học hành để có được ngày nay.
Những kỷ niệm về mẹ thì biết kể làm sao cho xiết, con nhớ những ngày tết con học trường xa không có tiền về xe, mẹ gởi cho con 2 đòn bánh tét cho một người bạn cùng quê mang lên cho con. Xe đò đi dọc đường bị hư, 2 chiếc bánh tét đến tay con chỉ còn một cái, nhưng khi mở ra thì đã mốc hết rồi, tuy nhiên vẫn còn mùi hương và hình bóng bàn tay ân cần của mẹ. Giờ đây mắt mẹ mờ rồi không thấy đường gói bánh và bánh ngoài chợ thì bán đầy nhưng con vẫn không tìm được chiếc bánh tét ngày xưa. Đêm giao thừa nằm co ro trên chiếc giường trong ký túc xá, đầu con cứ hiển hiện bóng dáng mẹ thắp hương bàn thờ, trước ngõ vào lúc pháo nổ giao thừa.
Khi con bắt đầu biết mộng mơ, mẹ đã nói với con, hãy chọn lấy một người xứng đáng để mà yêu. Con hỏi mẹ người như thế nào là xứng đáng. Mẹ bảo rằng hãy chọn người có nghị lực và có lương tâm, đừng vì hào nhoáng bên ngoài. Con hỏi tại sao, mẹ bảo rằng: người có nghị lực sẽ vượt qua được những cơn sóng gió của cuộc đời; người có lương tâm sẽ không ruồng bỏ mình trong cơn hoạn nạn. Thế nhưng con không nghe lời mẹ, con chọn lấy một người với vẻ hào nhoáng bên ngoài. Để rồi tình yêu đặt nhầm chỗ, người ta đã rời bỏ con mà đi dù không hề có sóng gió hoặc cơn hoạn nạn nào, mà chỉ vì tài sản duy nhất con có chỉ là một tấm lòng. Mẹ là người đầu tiên an ủi cho con trong giây phút tuyệt vọng đó. Trời Phật lúc đó cũng không làm cho con hết đau khổ, nhưng tình yêu của mẹ, bù đắp hết tất cả những mất mát, trống trải trong lòng con. Mẹ là Đấng tối cao của con. Sau này con mới biết, khi con đau khổ một thì mẹ đã đau khổ gấp mười lần con…
Biết ơn mẹ là như thế, nhưng con cũng là một đứa bé bạc bẽo vô cùng. Ngay khi còn nhỏ tính con đã hờ hững vô tình. Một ngày nọ, mẹ tiễn con và bố đi xa, vì quá thích chiếc xe hơi mới bóng, con giằng tay mẹ bước lên xe theo bố mà chẳng hề quay lại, đã vậy miệng còn nói: "mẹ đi về đi, mẹ đi về đi". Xe chạy rồi bố mới bảo rằng con đã làm mẹ đau lòng khi chẳng hề ngoái lại, chẳng hề vẫy tay. Có phải số phận của người mẹ là như thế khi con cái mình bắt đầu lớn khôn, là chẳng hề phút giây nào quan tâm đến mẹ cha? Những lúc con hẹn hò bạn bè, đi sớm về khuya, bao giờ trở về nhà cũng thấy mẹ đợi cửa. Một mâm cơm nguội lạnh vẫn còn nguyên vẹn đó. Nhà đại thi hào Tagore có ví những đứa con như dòng sông mà cha mẹ như núi: "…Sông chảy xiết reo ca, phá hết đập hết bờ, nhưng núi đứng lại, và nhớ và dõi theo sông với cả khối tình nồng".
Khi con bắt đầu viết văn làm thơ, than ôi, dường như con chẳng viết một bài thơ hay câu ca nào về mẹ cả. Tất cả những bài thơ con viết đều dành cho những "người dưng", cho những mối tình vụn vặt trôi qua nhanh chóng trong cuộc đời. Thế nhưng những bài thơ, bài văn của con được đăng trên báo. Mẹ nhặt nhạnh lại từng chút, đọc say sưa, để dõi theo tâm hồn con gái mình mà chẳng chút ghen tị hay buồn lòng. Đôi khi con lại phàn nàn mẹ, đọc làm chi, có liên quan gì đến mẹ đâu… Con còn trách móc mẹ làm thất lạc những tờ báo, những "kỷ vật tình yêu" của con. Bây giờ đây, khi con viết những dòng này, cho mẹ, (hay cho lòng sám hối của chính con?), thì mắt mẹ đã mờ và không hề đọc được nữa. Những chồng báo vẫn nằm yên ngay ngắn và mới cứng chẳng hề có ai đọc cùng con.
Còn một điều mà con lo sợ khi nhắc đến mùa thu, đó là mùa của tiết trời thất thường, mẹ hay bị những cơn đau nhức mỏi mình. Đó là mùa không chỉ có lá vàng rơi rụng, còn là mùa những người già như trái mít chín cây, rụng lúc nào không biết. Giờ đây đối với con_ một đứa trẻ đã gần 40 tuổi_ mới chợt hiểu mùa thu không còn là mùa để làm thơ và ngồi hát tình ca, mà là một mùa để lo âu, vì không biết chiếc lá vàng là mẹ sẽ còn nán lại trên cây bao nhiêu thời gian…
Con không thể nhớ nỗi từ bao giờ con đã không hề nói lời yêu thương mẹ. Trong khi đó, con đã dễ dàng nói những lời yêu thương ngọt ngào cho một người nào đó mà con yêu, để rồi có lúc người ta vẫn phụ rẫy mình. Có phải vì con biết rằng muôn đời mẹ vẫn yêu con nên không cần nói lời yêu thương để ràng buộc thắt chặt tình thân yêu chăng. Đó là lỗi lầm to lớn nhất của đời con vì không biết nói lời yêu mẹ. Ngày hôm nay, khi viết xong những dòng này, không, không cần phải đợi viết xong nữa, viết bao nhiêu cũng không đủ tạ tội. Chưa kịp đi đến với mẹ bây giờ, thì con sẽ gọi điện ngay, sẽ nói lời:"con yêu mẹ vô cùng". Tạ ơn Trời Phật vì cho dù đôi mắt đã mờ, tai mẹ cũng còn nghe được những lời nói của con, khi vẫn còn chưa muộn...
Muôn đời vẫn thế, mẹ vẫn là Tiên là Phật, vẫn tha thứ và an ủi xoa dịu cho lòng con.

Nhị Tường
Mùa thu, 2001





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9573)
Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.
10/04/2013(Xem: 7759)
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
10/04/2013(Xem: 7710)
Với cái nhìn tuệ giác, Đức Phật quán chiếu trong vòng nghiệp duyên của chúng sanh, Ngài đã thấy được không có một chúng sanh nào tồn tại độc lập, mà ngược lại lưu chuyển trong vòng tương duyên với nhau. Tất cả vì vô minh, mà chúng sanh không thấy được Ngài. Trong kinh Báo Phụ Mẫu Ân diễn tả, có lần Đức Phật đi trên đường và thấy bên lề đường một đống xương khô, Ngài đã lễ lạy đống xương ấy.
10/04/2013(Xem: 7478)
Là Phật tử, mỗi người chúng ta luôn mang tâm nguyện tiến tu trên con đường giải thoát và giác ngộ, việc trước nhất thể hiện ý nghĩa đó là cần phải học Phật. Có học Phật cặn kẽ, rõ ràng và căn bản, chúng ta mới có cơ hội để tiếp nhận ánh sáng của đức Phật tỏa chiếu muôn nơi mà không e sợ đi lạc đường, lầm lối, dẫn vào tà đạo, và mới có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho chính mình và cho tha nhân.
10/04/2013(Xem: 6715)
Truyền thống giáo dục của Phật giáo có ba hình thức căn bản, gồm: khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Tùy theo căn cơ của người đệ tử mà các bậc thầy có thể sử dụng nhiều phương thức hướng dẫn khác nhau, nhưng thân giáo vẫn là quan trọng hơn cả cho thầy lẫn trò. Trở về khoảng thời gian Đức Phật còn tại thế, sự thuyết giảng của Ngài chưa bao giờ có hình thức giảng dạy như hình thức viết lách như chúng ta hiện nay.
10/04/2013(Xem: 7838)
Ánh sáng giác ngộ được hiểu như là một sự dập tắt vô minh, vọng tưởng điên đảo trong tâm trí của con người, là sự biết rõ sự thật về nguyên nhân và kết quả, nhận thức và hành động, con người và môi trường xung quanh. Giác ngộ là sự hiểu biết chân chánh, thấy rõ bản chất như thật của sự vật, vạn pháp. Giác ngộ còn có nghĩa là đoạn tận khổ đau, dứt trừ những tập khí phiền não bao trùm đời sống của con người trong nhiều kiếp sống, là sự thoát ly những con đường dẫn chúng sanh lên xuống trong sáu nẻo luân hồi trong vô minh bừng cháy.
10/04/2013(Xem: 7666)
Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo. Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như.
10/04/2013(Xem: 6683)
Chúng ta thấy rất rõ, từ cái nhìn của một người dù không phải là Phật tử , khi họ thấy chiếc y màu vàng đắp trên người của các vị Tăng Phật giáo, họ vẫn dễ dàng nhận biết được đó là tu sỹ Phật giáo, một cái nhìn quán tính, đã ăn sâu trong ký ức của mọi người. Đó là hình ảnh hiện thân của Đức Phật, và ngày này vẫn được tiếp nối trong Phật giáo. Ít nhất, hình bóng này, người bình thường cũng dễ dàng nhận biết và phân biệt được. Như Phật tử chúng ta có dịp thấy chư Tăng Nam tông ở các nước theo truyền thống Nam tông như Thái lan, Tích Lan, Miến điện, Lào và Campuchia v.v... và một bộ phận nhỏ ở Việt nam.
10/04/2013(Xem: 7422)
Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẵn là kỳ tài ở phương Tây.
10/04/2013(Xem: 10254)
Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: "Tín là gốc của Đạo, là mẹ đẻ của mọi thứ công đức, nuôi lớn hết thảy gốc của Thiện". Đối với tôn giáo nói chung, đức tin phần lớn là bước đầu tiên để con người phát sinh lòng mến yêu đạo. Trong đạo Phật, tín là một trong những điều kiện căn bản để thành tựu các công đức lành (Tín- Hạnh- nguyện). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói: Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta.