Mẹ Của Tôi

11/04/201311:36(Xem: 6630)
Mẹ Của Tôi

Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2012

Mẹ Của Tôi

Diamond Bích Ngọc

Nguồn: Diamond Bích Ngọc

Tôi được nghe Mẹ kể rằng vào năm 1954, sau hiệp-định Genève chia đôi nước Việt-Nam thành hai miền Nam-Bắc ngay tại vĩ-tuyến 17. (Nơi có cây cầu Hiền-Lương bắc ngang giòng sông Bến-Hải, ngăn hai tỉnh Quảng-Trị và Quảng-Bình), Mẹ đã khăn gói theo Bố tôi đi bằng "Tàu Há Mồm" di-cư vào Nam rời Bắc Việt, vì vậy mà tôi được sinh ra và lớn lên trong miền Nam Việt-Nam, được sống sung sướng như một đứa trẻ "Đẻ Bọc Điều".
Sau này lớn lên, có ý thức tôi mới biết được cái "Bọc Điều" đó nằm trong bụng của Mẹ với bao nhiêu là gian-truân, đoạn trường… Vì cả chục năm sau ngày di-cư vào Nam, Bố Mẹ đều trắng tay làm lại từ đầu nơi đất khách quê người (dù cùng trên một mảnh đất quốc Tổ, nhưng khác phong-thổ, khác giọng nói, lại bị kỳ-thị bởi những người cùng màu da, cùng giòng máu, giữa "Bắc-Kỳ" và "Nam Kỳ", giữa "Công-Giáo" và "Phật-Giáo"… Mẹ phải "buôn thúng, bán bưng", Bố phải đi làm công cho người ta. Cho đến khi có người quen, biết Bố tôi có trình độ học vấn và thông thạo tiếng Pháp, giới thiệu ông vào làm ở "Bộ Nội Vụ". Từ đó Mẹ của Tôi thôi vất vả, nhọc nhằn, đó cũng là lý-do Bố Mẹ buộc chúng tôi phải chăm lo học hành, vì trong bất cứ hoàn cảnh nào, những mảnh bằng vô-tri đôi khi lại là cứu cánh cho cuộc sống.
Năm tôi lên tám tuổi, có lần đang chơi trước sân nhà, chị người làm quên khóa cổng, tôi thấy một ông cụ già ốm yếu, tóc bạc phơ, đầu đội cái nón lá rách bươm, tay run rẩy cầm một ống "loong Guy-Gô" đứng xin ăn. Tôi bàng hoàng co rúm cả người, đó là lần đầu tiên trong đời tôi được thấy "ăn mày" bằng xương, bằng thịt. Tôi còn nhớ mình thu hết can đảm nói lớn:
"- Ông, ông… là ai? Ông cần gì?
Giọng ông yếu ớt:
"- Cô Chủ cho ông xin chút cơm thừa, ông đói lắm…!!!"
Không hiểu sao tôi hết sợ, thấy thương ông quá và có cảm tình với ông ngay, tôi đi đến gần ông, rồi bảo:
"Ông đợi con một tí nhe!"
Tôi chạy nhanh vào nhà bếp, lấy một cái bao ni-lông bới đầy cơm, hôm đó chị Ba nấu thịt kho tàu với trứng, tôi trút cả vào bao. Xong, chạy lên lầu, tôi vào phòng tìm con heo đất. nơi mà tôi dành dụm tất cả tiền Mẹ cho mỗi khi được "Bảng Danh Dự" đầu tháng nhờ điểm cao nhất lớp, đập ống, được bao nhiêu tôi nhét vội vào túi rồi chạy xuống sân nhà. Ông cụ già vẫn run rẩy đứng đó. Tôi trân trọng đưa cho ông bao cơm và một đống tiền. Ông cụ bật khóc khi thấy tôi ngây-thơ nói:
"- Con biếu ông nè!" Rồi ngạc nhiên tôi hỏi: "- Ủa sao ông khóc?"…
Bỗng có tiếng la hét cãi cọ trong nhà, chị người làm tất tả chạy ra đóng cổng, ông lão biến đâu mất, một bà chị của tôi với khuôn mặt đằng đằng sát khí. Chỉ thẳng vào mặt tôi, chị mắng:
"- Con Bé! Tại sao cho tiền ăn mày? Còn dám lấy cơm và thức ăn cho nó nữa. Hừm!... Chị Ba đâu, tại sao hồi nãy không khóa cổng ??? Cái kiểu này mai mốt tụi nó sẽ kéo đến cả làng, cả tổng xin ăn cho xem. Có ngày nó bắt cóc con Bé không biết chừng… Trời ơi là Trời!!! …" Chị dậm chân than thở…
Tôi ấm ức òa ra khóc, lúc bấy giờ tôi chỉ sợ chị người làm bị mất việc vì chị tôi sẽ "méc" với Bố Mẹ tôi chuyện này. Chị Ba cũng đứng khóc rưng rức…
Mẹ tôi bỗng xuất hiện, tôi chạy đến ôm chầm lấy Mẹ trong lúc chị tôi đang gân cổ kể lể sự tình. Mẹ bỗng ôn tồn bảo:
"- Con không có lòng chia xẻ cho người nghèo, sao lại mắng em tàn nhẫn đến thế. Em nó làm đúng. Mẹ không bênh con Bé, con lo sợ em bị bắt cóc là điều tốt vì thương em. Nhưng la hét với người ăn, người làm trong nhà như thế không phải tí nào."
Câu chuyện chỉ có thế, nhưng nó ám ảnh tôi cho đến ngày nay. Vì đó là bài học đầu đời Mẹ dạy chúng tôi về lòng Từ-Bi, Bác Ái. Mẹ đã ghi đậm trong trí não tôi như một tờ giấy trắng lúc bấy giờ, đó là: "Cái hành động tôi giúp ăn mày không phải là điều sai quấy". Có lẽ nhờ vậy mà sau này tôi đã khấn hứa là được theo gót chân Mẹ Terésa (Calcutta) hầu chia xẻ đến những người khó nghèo, tất bạt.

* (Hình 1 bà cụ nghèo khổ vùng miền tây Việt-Nam)
Có một mùa Lễ Phật-Đản, Mẹ cho chị em chúng tôi và cả chị người làm lên Chùa cúng Phật, cũng nhằm để bố thí cho ăn mày rất đông lúc nào cũng trực sẵn trước cổng Chùa. Tôi còn nhớ Mẹ giảng dậy cho chúng tôi nghe về những lối kiến trúc và bài vị trong Chùa, đó là:


*

" Gian giữa của Chùa, tầng trên nhất thờ ba vị "Thế-Tôn", đầu tóc xoăn như ốc bám, người xưa thường gọi là "Bụt Ốc". Kế đó là bà "Mụ Thiện" có mười hai tay, rồi đến bà "Di-Lặc". Sau nữa là tượng "Quan-Âm", có Kim-Đồng, Ngọc-Nữ kèm hầu đôi bên. Một bên cưỡi con Bạch-Tượng, một bên cưỡi con Thanh-Sư.


*

Rồi đến tượng "Ngọc- Hoàng", một bên là Nam-Tào, một bên là Bắc-Đẩu. Ngoài cùng có tượng "Cửu-Long" bằng đồng, có "Phật Thích-Ca" đứng giữa.


*

Hai bên phía trong Chùa, một bên thờ ông "Tu Xương" gầy khô như Hạc, một bên thờ bà "Thị-Kính" tay bế một đứa con, cạnh mình có con Vẹt đứng. Theo tục truyền đó chính là "Thiện-Sĩ", tên của chồng bà "Thị-Kính", đã hóa thân thành con Vẹt.
Ở phía ngoài Chùa mỗi bên có năm ông "Bụt", gọi là "Thập Điện La Hán". Hai gian cạnh gần gian giữa; một bên thờ tượng "Long-Thần", mặt đỏ, mắt sắc; gọi là "Đức Ông" (cũng có nghĩa là Thổ Thần). Một bên thờ thầy "Đường-Tăng", có Đạo Thánh "Bát Giới" đứng hầu. Hai gian ngoài của nhà Chùa có thờ hai tượng Hộ-Pháp; một tượng mặt mũi hiền lành, tay cầm quả ấn; một tượng mặt mũi dữ hơn, tay vác thanh gươm.
Còn đôi bên vách tường có họa hình; nào là "Thiên-Phủ" (Thiên-Đàng), có các nàng Tiên gẩy đàn thổi sáo vui vầy. Nào là "Địa-Phủ" (Địa-Ngục), có "Diêm-Vương" hành tội những người chết, kẻ bị "Quỷ-Sứ" cưa đầu, kìm lưỡi, kẻ bị quẳng vào núi gươm đao. Tùy theo cách sống của con người trên trần gian, khi nhắm mắt xuôi tay có người được lên Thiên-Đàng, hưởng sự sung sướng ngàn thu, có kẻ bị trầm luân nơi Địa-Ngục khổ ải, phải trải nếm đắng cay.
Ngoài cửa Chùa còn có cửa "Tam Quan" làm gác chuông. Sau Chùa có "Tĩnh" để thờ "Chư-Vị" và có nhà thờ "Tổ". Nhà thờ "Tổ" là nơi mà những Tăng-Ni tu hành, tận hiến lúc sinh thời, khi chết đi nhà Chùa tô tượng để thờ. Lại có nhà "Hậu" để thờ những người mua hậu Chùa, cứ đến ngày giỗ, thì nhà Chùa phải cúng giỗ.
Sau Chùa có phòng riêng biệt lập, làm chỗ cho "Nhà Sư" ở, gọi là nơi "Trụ Trì", người thường nam cũng như nữ hoặc trẻ con không ai được phép lai vãng đến gần chốn này.
Nhà "Phương-Trượng" dùng để tiếp các "Thí-Chủ" (Khách-Khứa) được xây cách riêng chỗ "Trụ Trì" của Nhà Sư. Phía sau đó là nơi mộ-tháp của "Tăng-Ni". Chùa phải có Nhà Sư ở; Sư nam gọi là "Tăng", Sư nữ gọi là "Ni". Chùa nào không có Tăng, Ni thì có một thầy tu gọi là thầy "Già Lam" để coi việc đèn hương, cúng bái."
Cũng mùa Lễ Phật-Đản năm đó. Tôi thấy chị tôi lần đầu tiên biết bố-thí cho ăn mày, tôi nhớ rất rõ đôi mắt Mẹ sáng ngời long lanh ướt lệ, không biết vì khói hương nghi ngút trong Chùa hay Mẹ khóc vì sung sướng, cảm động khi thấy con mình biết lắng nghe và thực hành lời Mẹ dậy về lòng Nhân-Hậu, Từ-Bi trong cuộc sống.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 7545)
Trong tất cả công việc, trước khi tiến hành thì bao giờ cũng vậy, chúng ta thường nghĩ đến mục đích của công việc sẽ làm sau đó, đưa ra nhiều suy tính, cách làm nào để đạt đến mục đích ấy. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng lý tưởng, ước vọng công việc trong mỗi người ai cũng có, nhưng không phải ai cũng có thể thực hiện được. Có người đạt được mục tiêu trong thời gian ngắn, có người tốn kém nhiều thời gian, có người dễ dàng nhưng với người khác thì không thể trôi chảy. Cuối cùng vẫn có những người không bao giờ đạt được mục tiêu mà mình đã đề ra.
10/04/2013(Xem: 6074)
Để trở thành một người Phật tử, việc phát nguyện Quy y Tam Bảo và giữ gìn Ngũ giới là tâm nguyện, là việc cần làm đầu tiên. Do đó, chúng ta cần phải học và tìm hiểu, để thực hành hầu mang lại nhiều lợi lạc cho chính chúng ta, gia đình và khả dĩ kiến tạo một xã hội tốt đẹp.
10/04/2013(Xem: 7372)
Như chúng ta đã biết, Phật giáo Thái Lan là một trung tâm Phật giáo Nguyên thủy có tầm cỡ trong khu vực cũng như trên thế giới, về chất cũng như lượng. Ở Thái Lan, Phật giáo là quốc giáo, hơn 95% dân chúng Thái theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy. Bên cạnh đó, không kể một số lượng lớn người nước ngoài đến Thái Lan để tu tập, nghiên cứu và học hỏi về truyền thống Phật giáo này.
10/04/2013(Xem: 9327)
Phật sự viên thành là lời tán thán, cầu nguyện chúng ta thường nghe trong lễ hội, các buổi tụng kinh sau phần hồi hướng, ước nguyện thành tựu của những người con Phật luôn mong muốn trong sự thừa hành Phật đạo. Ý nghĩa cao cả của người Phật tử ở phần tự thân (tự giác) là giải trừ tam độc ở mỗi con người, diệt trừ mọi phiền não, nhằm hướng đến nhất tâm thanh tịnh.
10/04/2013(Xem: 8649)
Con đường đi đến mục đích tối hậu của đạo Phật là Giải thoát và Giác ngộ thì có rất nhiều, điều này rất hữu ích và thiết thực trong bối cảnh đa dạng về nghiệp cảm và sự sai khác về chủng tánh của chúng sanh. Đức Phật với suối nguồn tuệ giác, ngài đã quan sát đầy đủ mọi căn cơ của chúng sanh mà dùng nhiều phương tiện để hóa độ, phù hợp với mọi tâm bệnh như vị lương y giỏi dựa theo bệnh mà cho thuốc.
10/04/2013(Xem: 7109)
Hạnh phúc thay chư Phật ra đời! Xã hội Ấn Độ thời Đức Phật đản sinh, nằm trong một trạng thái đen tối và nhiều đau khổ. Sự u ám đó không phải phát sinh đơn thuần từ nghèo đói, bệnh tật mà chính là sự bế tắc từ tư tưởng con người. Biết bao học thuyết được dựng lên nhằm góp phần xóa tan nỗi khó khăn này bởi những nhà tư tưởng, tôn giáo, đạo học, tuy nhiên vẫn không chữa được căn bệnh mà con người đang vướng phải trong tâm thức của họ.
10/04/2013(Xem: 5993)
Bạn đã từng hỏi tôi: giữa cuộc đời này có tình yêu chân thật hay không? Câu hỏi quá sức hóc búa này, không phải khó đối với riêng tôi, mà khó trả lời cho rất nhiều người trong từng thời đại. Vì đây chính nội dung câu hỏi mang đầy tính thời sự và nhạy cảm của nhiều giới, mọi lứa tuổi.
10/04/2013(Xem: 6309)
Sống và Chết là hai vấn đề tối trọng. Đã biết bao nhiêu nhà tư tưởng, triết gia cho đến hàng thứ dân, tất cả đã tốn nhiều công sức, bút mực, và để tâm tìm hiểu đến vấn đề này. Thế mới biết sống và chết thật hệ trọng biết bao, cho thân phận con người trong trần thế.
10/04/2013(Xem: 5679)
Hướng nhìn về vầng trăng trên cao, mỗi người trong chúng ta sẽ có rất nhiều cách nhìn và suy nghĩ khác nhau phụ thuộc vào cảm thụ, cảm thức từng người. Tùy thời điểm rung động sai biệt của con tim, vầng trăng bất động tưởng chừng như vô thức sẽ trở nên sống động và hàm ẩn nhiều ý nghĩa dạt dào. Ở đây, hình tượng vầng trăng mà tôi nói đến chính là một điểm để hướng về, một nơi qui hướng tin cậy, một nhân cách sống.
10/04/2013(Xem: 6386)
Chiếc lắc bạc rất đẹp của mẹ được bắt đầu như là “chiếc lắc bà”, với những vật lưu niệm có khắc tên và ngày sinh sáu đứa cháu của mẹ. Có những dòng thông tin về một đứa cháu gái hoặc cháu trai; những người khác, được ghi đơn giản trên những chiếc đĩa bạc. Thế rồi mẹ gắn thêm vào vật kỷ niệm cho tôi và cho Art, anh trai tôi. Nhiều thập kỷ sau khi kết hôn, mẹ có một chiếc nhẫn cưới bằng kim cương mới, mẹ lại gắn chiếc nhẫn bạc mỏng trước đây vào chiếc lắc.