Vầng trăng ai ngã

10/04/201320:11(Xem: 5918)
Vầng trăng ai ngã

vang trang-2Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2011

Vầng trăng ai ngã

Thích Huệ Giáo

Nguồn: Thích Huệ Giáo

Hướng nhìn về vầng trăng trên cao, mỗi người trong chúng ta sẽ có rất nhiều cách nhìn và suy nghĩ khác nhau phụ thuộc vào cảm thụ, cảm thức từng người. Tùy thời điểm rung động sai biệt của con tim, vầng trăng bất động tưởng chừng như vô thức sẽ trở nên sống động và hàm ẩn nhiều ý nghĩa dạt dào. Ở đây, hình tượng vầng trăng mà tôi nói đến chính là một điểm để hướng về, một nơi qui hướng tin cậy, một nhân cách sống. Là một vầng trăng biểu tượng sự sáng ngời ở giữa bầu trời uế trược, xanh biếc bạt ngàn trong vòng xoáy nước đục bọt bèo nỗi trôi, giữa màn nhung đêm vô minh cùng tận, nhưng thanh thoát loé sáng huyền diệu lạ kỳ.
Vầng trăng tôi muốn nói đến ở đây là hình ảnh dành cho một bậc Long tượng của thiền môn. Một nhân cách có ảnh hưởng khá mạnh trong tâm thức và trong cái nhìn vào sự thật của riêng tôi. Một con người dám nhìn thẳng vào từng vấn đề cụ thể và biết thông cảm, chia xẽ. Tiếng gọi Ôn- Ôn Đổng Minh hết mực bình thường và giản dị nhưng ấm áp đến mức lạ kỳ. Tôi không biết tiếng gọi Ôn Đổng gần gũi có từ hồi nào, nhưng đối với tất cả Tăng sĩ miền trung trong thời điểm chúng tôi hay thế hệ hiện tại, Ôn thật trìu mến, và cũng quá sức nghiêm kính khi chúng tôi thoáng nhìn thấy Ôn. Tựa như, ánh trăng thì rất gần gũi tự nhiên với loài vô tình, ưu linh với loài hữu tình và chiếu sáng đến tất cả mọi nơi, nhưng cao; xa một cách hãnh diện vô bờ, thoát tục.
Thời trước, tôi thường có cơ hội được hầu cận bên sư phụ của chúng tôi và thường được tiếp xúc với những sư Chú, sư Bác - hầu hết là những cựu học Tăng xuất thân từ Phật Học viện Cao Đẳng Hải Đức Nha Trang; do đó tôi được nghe kể về nhiều hành động, phong cách sống, lối giảng dạy, cách tu tập, suy nghĩ, nhiều tâm tình dành cho thế hệ trẻ học Tăng Ni và nhiều giai thoại khác trong đời sống thường nhật của Quý Ôn như: Ôn Từ Quang ( Phước Hộ), Ôn Già lam, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Từ Đàm, Ôn Giám Viện (Trừng Sang) Ôn Đổng Minh… Có thể nói, dấu ấn của quý Ngài đã ảnh hưởng khá sâu đậm đến tư duy của các học tăng ngày trước, thế hệ Thầy tổ chúng tôi, để giờ đây họ có đủ bản lĩnh dấn thân vào đời hành đạo. Tôi cũng như nhiều chư Tăng Ni khác hôm nay, thuộc thế hệ đàn con cháu, tuy có may mắn thọ nhận sự giáo dưỡng của quý Ngài, nhưng trên thực tế, chúng tôi chỉ thọ nhận một sự giáo dưỡng gián tiếp, vô hình; tựa như danh từ trừu tượng trong luật học thường dùng là “ Vô tác giới thể ”.
Lúc còn nhỏ, nghe quý Thầy kể đến cách giáo dục vừa dung dị, hiền hòa, hào sảng vừa nghiêm khắc của Ôn với học Tăng ngày trước. Tôi nghe sợ quá, mặc dầu lúc ấy tôi vẫn chưa được một lần hữu duyên để nhìn thẳng vào Ôn và để được hầu Ôn một tách nước. Với Ôn, tôi tựa như một kẻ lạc đường đang nhìn lên vầng trăng trên cao, khao khát tìm lại một chút ánh sáng phản chiếu chập chờn của vầng trăng trong tàn cây bụi lá, trong bóng đêm ở miền sơn cước, vừa lạnh lại vừa thảnh thơi đơn độc để tìm một lối về. Có thể do nghe kể về Ôn nhiều quá, tâm thức của tôi lúc ấy tuy còn nhỏ bé, nhưng đã có tác động mạnh, cho nên cảm thấy tự nhiên sợ Ôn làm sao, và nhiều lúc cảm thấy Ôn quá…. dữ! Ôi, nhận thức lầm lỡ một thời!
Nhớ lại, có một khoảng thời gian ngắn, tôi được sư phụ cho lên Hải đức để cùng với điệu Minh hầu Ôn Từ Đàm và ê, a học vài bài kinh chú trong hai thời công phu. Hôm đó, không nhớ cảm hứng vì việc gì, tôi cắm cúi chạy một mạch thật nhanh từ lầu chuông trên thất Ôn Từ Đàm xuống dãy nhà Tăng, thì tình cờ đối diện với Ôn, đứng sừng sững trước mặt. Tôi thất kinh đứng lại một bên và chắp tay cuối đầu đãnh lễ Ôn, không nói nhiều, Ôn nhìn tôi và bảo rằng: Bất đắt đà hài tác thinh (Không được đi dép lớn tiếng). Nhớ nghe chưa, Ôn dặn. Bạch Ôn con ghi nhớ. Rồi Ôn tiếp tục tay dù, tay quạt, chuổi hạt trên tay đi thẳng lên thất để gặp Ôn Từ Đàm. Tâm trí tôi khựng lại bởi lời chỉ giáo nhẹ nhàng của Ôn và đôi mắt vừa hiền từ vừa như nghiêm khắc, vừa chứa đựng sâu thẳm sự yêu thương, tôi ngồi bệt xuống ghế đá được đặt dài theo dãy tăng xá để trầm ngâm trong thóang chốc. Và tôi đã nhớ được điều gì? Lúc ấy, Tôi chưa được học nhiều kinh Phật, chẳng hiểu nhiều về ý nghĩa lời Phật dạy, nhưng một điều tôi được nhớ rằng Ôn Đổng hay có cách dạy chúng Tăng như vậy, nên tôi cố gắng để nhớ lời này. Đầu óc tôi lan man sau lần gặp gỡ ấy, vì sợ , sợ Ôn “mắng vốn” sư phụ tôi, sợ Ôn cho ăn roi lần sau nếu gặp lại.v.và vv.. Cứ thế thời gian trôi qua, khi đã bớt ngây thơ, khờ dạy, tôi mới biết được rằng Ôn đã dạy oai nghi cho tôi, hành trang quý báu mà tôi phải luôn khắc ghi cho đến hết cả cuộc đời. Thế là tôi đã có một biểu tượng vầng trăng soi sáng cho đời mình.
Gần hai mươi năm thấm thoát trôi qua, thời gian này khác hẳn không như hồi còn làm điệu quá sợ quý Ôn, quý Thầy. Tôi là một học tăng từ nha trang vào sài gòn đi học, tạm trú tại tu viện Quảng Hưong Già Lam, thường gặp Ôn, Ôn đi ra đi vào khi có lễ lược hoặc công việc phật sự và không khi nào học tăng chúng tôi lại không nhận được sự sách tấn của Ôn. Một vầng trăng của tất cả học tăng chúng tôi đều cùng hướng đến và soi sáng.
Cuối năm 1997, chúng tôi anh chị em học tăng khóa III Cao cấp Phật học ra trường, về nha trang tổ chức ra mắt, đảnh lễ quý Ôn, Quý Thầy trong Ban Trị sự và Thầy tổ. Lễ ra mắt hôm đó Ôn không tham dự, nhưng Ôn nhắn Anh em chúng tôi đến tư thất của Ôn để trò chuyện. Và dĩ nhiên, đọan đường kế tiếp sau khi học xong chương trình cao cấp phật học của chúng tôi được Ôn đề ra. Chúng tôi mãn nguyện vô cùng và đây là giây phút, là những lời dạy quý báu nhất chúng tôi cần có hơn tất cả, là phần thưởng dành cho chúng tôi hơn cả những phần thưởng chúng tôi có được lượm lặt trong thời gian học tập. Tăng Ni sinh chúng tôi ai có mặt lúc ấy đều mãn nguyện sung sướng và tự biết chọn cho mình một hướng đi thích hợp để tiếp tục con đư ờng học đạo và hành đạo.
Vầng trăng sáng tỏ tuyệt đẹp đó tuy trên cao nhưng rất gần gũi, luôn chiếu sáng đường đi cho mọi người trong đêm trường tối tăm. Sau buổi gặp gỡ các Tăng Ni sinh mỗi vị trình Ôn cuốn luận văn tốt nghiệp của mình, chỉ có mình tôi không có. Lý do vì tôi nghĩ rất đơn giản, đâu có gì xứng đáng để tôi dâng lên Ôn nhỉ? Do đó, tôi không chuẩn bị sẳn sàng việc này. Ôn hỏi tôi: Luận văn của Ông đâu?Tôi đáp: Dạ bạch Ôn con chưa có in, chỉ có làm 03 quyển con nộp cho Nhà trường, ban Trị sự và Bổn sư. Ôn bảo đi photocopy và gửi lên cho Ôn một cuốn đọc coi thử ra sao. Tôi vâng dạ ra về. Lúc ấy đang là mùa xuân, một mùa xuân trải dài sự ấm áp phía trước, tâm trí vừa nhẹ nhàng vì ít nhiều tôi vừa vượt quá một giai đọan dài học tập và hơn nữa, do quá nhiều công việc tại chùa vì chuẩn bị tết, đã làm cho tôi quên mất chuyện đem copy luận văn lên dâng Ôn. Sau đó, tôi liên tục nhận được lời nhắn của Ôn. Ôn nhắn khi có ai xuống chùa, nhắn qua điện thoại của sư phụ chúng tôi, cuối cùng thì tôi đã trình Ôn luận văn tốt nghiệp nhưng hơi muộn màng. Đầu năm, tôi lên đảnh lễ Ôn, Ôn đem chuyện những cuốn luận văn ra nói, Ôn không phê bình nội dung những gì tôi viết trong đó, nhưng có hỏi tôi về câu kết mà tôi đã viết kết thúc trong luận văn của mình: Sống chết là như vậy đó, đừng nên hỏi tại sao và tạo sao phải sanh tử như vậy. Ôn vừa cười vừa hỏi tại sao Ông viết ý này? Tôi im lặng không bình và nói rằng: dạ thưa Ôn con nói rồi đó, Ôn cười khà khà. Tôi lại tiếp tục được chiếu rọi ánh sáng trong vắt của vầng trăng tròn đầy tỏa sáng.
Một lần nữa vào giữa năm 2003, buổi sáng hôm đó chúng tôi thình lình nhận tin Ôn mệt lan khắp cả thành phố Nha trang. Đầu giờ chiều hôm ấy tôi và thầy Thông Huệ sắp xếp để lên hầu thăm Ôn. Lúc này, chư tăng ngồi quây quần bên Ôn, chúng tôi bước vào ngồi xuống một bên im lặng theo dõi sức khẻo của Ôn, nhìn tôi, Ôn hỏi: chừng nào ông đi Phan rang? Tôi tưởng chừng Ôn nhằm lẫn tôi với các chú đệ tử thầy Thông Huệ nên khi ấy, tôi trả lời hơi vô phép: mới bệnh nhẹ mà Ôn đã quên rồi hay sao? Hình như Ôn đã đoán được ý của tôi, Ôn lại bảo: Tôi hỏi chừng nào ông đi dạy trong Phan rang. Đi dạy! Tôi giật mình, điều mà tôi đã có ý định, nhưng chưa thưa Ôn. Tôi trả lời trong hối hận: bạch Ôn trong tuần này. Thế là Ôn đã theo dỏi từng bước chân của tôi và của tất cả thế hệ Tăng Ni trẻ Khánh hoà. Như vầng trăng luôn chiếu sáng khắp cả hang cùng ngõ hẽm, trên cành lá non vừa chớm nãy mầm trong đêm, chiếu tận lên cả ngọn cây cao khi hoàng hôn buông xuống. Dù gió có thoảng qua mặt hồ tỉnh lặng của một đêm thu buồn man mác, nhưng ánh trăng vẫn sáng và luôn làm đẹp cuộc đời.
Suy nghĩ về cuộc đời và con người giống như vầng trăng lúc tròn lúc khuyết, giống như những chiếc lá lúc vàng lúc xanh, lá nào rồi cũng rụng, rụng trước rụng sau nào ai có biết. Như những dòng sông lúc sâu lúc cạn, lúc đục lúc trong, toan tính chi vì mạng người chỉ trong hơi thở, hơi ra không vào thì đã ngã nghiêng trần thế, nhẹ vào nặng ra thì đã tím cả cuộc đời. Vầng trăng của ai đó đã ngã, nhưng ánh trăng sáng tỏa thì không của riêng ai, và không bao giờ nghiêng ngã, không ta không sở, nghìn năm vẫn hiện hữu và luôn thắp sáng như lời thơ cổ mà tôi đã học năm nao:
Khai trì bất đãi nguyệt
Trì thành tất tự lai.
Nghĩa là:
Đào ao chẳng đợi trăng sao
Khi ao có nước trăng sao hiện về.
Vầng trăng hình tướng của tôi đã ngã, tôi không biết ngoài tôi ra còn bao nhiêu vầng trăng ai ngã; nhưng trong niềm hy vọng mênh mang, tôi thầm hiểu rằng ánh sáng của vầng trăng vẫn đang tiếp tục trong xanh tỏa chiếu trên đồi cao sừng sững.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/07/2014(Xem: 17811)
Hoài Vọng Mẫu Thân (thơ) Trần Trọng Khoái, Trần Kim Quế
30/07/2014(Xem: 18141)
Hiếu Niệm (thơ) của Trần Trọng Khoái
30/07/2014(Xem: 24176)
Ân Đức Sanh Thành (thơ) của Lão Thi Sĩ Trần Trọng Khoái
29/07/2014(Xem: 8530)
Cũng như có những trang kinh đức Phật chỉ dạy phương pháp báo đáp ân đức sâu dày đối với song thân một cách thiết thực nhất. Có nghĩa là đức Phật đã chỉ bày cách báo ân chơn chánh, hợp đạo lý, có lợi ích trong hiện đời và mai sau.
29/07/2014(Xem: 6828)
Lòng mẹ bao la như biển Thái bình dạt dào, Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào … Giữa khuya, âm thanh trầm bổng, sâu lắng ngọt ngào của một giọng hát nữ vang lên rồi vọng vào chốn thiền môn tĩnh lặng như xoáy vào tim. Con giật mình tỉnh giấc bàng hoàng nhớ Mẹ da diết. Nỗi nhớ làm con hạnh phúc, khiến con nhận ra tình mẫu tử thiêng liêng vẫn tồn tại giữa Mẹ và con. Vậy mà cả một thời gian dài, cả một đoạn đường đời, tình cảm ấy đã bị những oán hận, buồn tủi và sự vô cảm, vô tình làm con quên lãng, làm con không thể nhận ra được tình cảm của Mẹ cũng như nỗi đau day dứt của Mẹ. Giờ thì con đã hiểu nên biết nhớ biết thương khi tiếng hát về Mẹ vọng lên giữa đêm trường.
29/07/2014(Xem: 10446)
Hiếu thảo là truyền thống đạo đức quý báu của người Việt Nam nói riêng và người Á Đông nói chung . Chữ hiếu trong dân gian Việt Nam Người Việt Nam khi nói đến chữ Hiếu, liền nghĩ đến việc “thờ cha, kính mẹ”, như bài ca dao vở lòng mà ai cũng thuộc: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”; hoặc trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày trước:
29/07/2014(Xem: 11096)
Siêng năng cần mẫn nhọc nhằn Công ơn Cha Mẹ vĩnh hằng cao sâu Đẹp thay chín chữ Cù lao: Sinh ra đau đớn xiết bao nhiêu tình Cúc thời nâng đở hy sinh Phủ năng chăm sóc vỗ về vuốt ve Súc thường bú mớm no nê Trưởng nuôi thể xác, dưỡng mê thân hình Dục thời dạy dỗ thâm tình Cố luôn trông ngắm xem nhìn thiết tha Phục quấn quít không rời tay Phúc lo đầy đủ ẳm bồng không xa
29/07/2014(Xem: 7316)
MƯỜI CÔNG ĐỨC CỦA MẸ Ơn Cha Mẹ sâu dày không kể xiết Suốt cuộc đời gian khổ cũng vì con Bao đắng cay sức lực dẫu hao mòn Đức hy sinh vẫn chẳng hề nao núng
29/07/2014(Xem: 11362)
"Cây có cội mới trổ cành xanh lá Nước có nguồn mới tỏa khắp rạch sông" Được làm người công đức của cha ông Nên danh phận cảm nhờ ơn xã hội Chúng ta được thân làm người, là nhờ có tổ tiên, ông bà, cha mẹ và nhiều nhân duyên hội tụ. Chúng ta được khôn lớn nên người là nhờ ở sự trưởng dưỡng, giáo dục của Cha, Mẹ, Thầy, Cô và Xã Hội. Công ơn to lớn ấy, trong kinh Phật đã dạy có Bốn Đại trọng ân: 1/ Ơn Quốc gia, thủy thổ, 2/ ơn Cha, Mẹ, 3/ Ơn Tam bảo, 4/ Ơn Đàn na tín thí (xã hội), trong đó công ơn của cha mẹ là to lớn nhất, sánh bằng non biển, không thể bút mực nào tả xiết. Chỉ có tri niệm và thực hành mới hy vọng có một chút đáp đền. Đức Phật đã dạy rằng: công ơn của cha mẹ bao la như biển cả và cao vòi vọi như trời xanh vô hạn, với sự hy sinh cao đẹp, “bên ước mẹ nằm, bên ráo phần con”, thật là “ Đi khắp thế gian, không ai tốt bằng Mẹ, gánh nặng cuộc đời, không ai khổ bằng Cha”, Thương và lo cho con nên “miễn sao có lợi thì làm, chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm…”.