Tiếng khóc chung

10/04/201318:20(Xem: 6903)
Tiếng khóc chung

Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2009

Tiếng khóc chung

Hạnh Chi

Nguồn: Hạnh Chi

Thưa Thầy,
Bốn câu thơ Thầy viết tự thuở nào mà bỗng òa vỡ lòng con, trong một đêm tháng bẩy không trăng thế này?
“Sinh ở đâu, mà dạt bốn phương
Trăm con, cười nói tiếng trăm dòng
Ngày mai nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung!”(*)

Con tưởng như có thể nghe tiếng Thầy khóc khi ngòi bút hằn xuống những nét mực nghẹn ngào này!
Đêm tháng bẩy không trăng. Đèn trong am không bật. Con ngồi im lìm đã lâu trên bồ đoàn, trước tôn tượng Phật Di Đà và bức họa Đức Quan Thế Âm lồng trong khung kính.
Con biết chắc quanh con đang rất tĩnh lặng, vậy mà, thẳm sâu từ cõi nào, tiếng Thầy khóc cho Hồn Dân Tộc vọng tới, xô dạt âm ba thủy triều của đại dương mênh mông! Mỗi câu thơ là từng tiếng nấc, mỗi nét chữ là giọt lệ rơi!
May mắn cho con biết bao, con đang được khóc cùng Thầy!
Thầy ơi,
Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ sinh con trăm trứng, tưởng là năm mươi con theo Cha lên núi, năm mươi con theo Mẹ xuống biển đã là quá tan tác phân ly! Ngờ đâu đàn con Rồng cháu Tiên đó, chẳng những nay trôi “dạt bốn phương” mà “trăm con” còn “cười nói tiếng trăm dòng” nữa, thì Hồn Dân Tộc biết còn lại là bao!
Đã hết đâu, giữa mưa xứ lạ, nắng xứ người, tiếng cười tiếng nói nổi trôi theo không gian, thời gian mịt mù Đất Mẹ, có “ngày mai” nào đủ duyên “trở về quê cũ” nữa không?
Thưa Thầy, con biết lòng Thầy quặn thắt khi nét bút u uất viết lên giòng chữ này! Vâng, con biết Thầy đau đớn! Có thể lệ Thầy đã rơi xuống tách trà sớm mai ấy khi viết câu “Ngày mai nếu trở về quê cũ”.
Trở về thế nào mới là trở về quê cũ? Chắc chắn, không phải chỉ là tấm thân tứ đại, tới một miền đất như kẻ du lịch tò mò. Về như thế không phải là trở về, mà là đi, là đến. Ta chỉ cảm thấy ta trở về đâu, khi nơi ấy có tiếng gọi thầm thì của sự thân thương tiềm ẩn, của hồn thiêng sông núi, của ân nghĩa tổ tiên, của những ký ức đã cho ta vào đời …
Thầy thường lặng thinh trước tách trà, với những đến rồi đi. Thầy lặng thinh chờ đợi sự trở về hiếm hoi. Đợi, mà thực chẳng đợi vì:
“Đường lịch sử bốn nghìn năm dợn sóng
Để người đi không hẹn bến bờ” (*)

Thế nên, dù trà đã nguội, hương đã phai, Thầy vẫn điềm nhiên một mình nâng tách. Sớm mai có giọt sương mỉm cười cùng Thầy, xế trưa có vệt nắng ghé thăm, giấc chiều có ngọn gió hỏi han, rồi đêm xuống, ánh trăng chẳng quên tình tri kỷ, vào thư phòng cùng Thầy thiền tọa an nhiên. Đợi, mà chẳng đợi là thế, khi:
“Khuya sớm sáng chong Đèn bát Nhã
Hôm mai rửa sạch nước Ma-Ha” (**)

Mỗi khi con ngu si, khởi thắc mắc những điều chẳng đáng thắc mắc Thầy lại nhẹ nhàng nhắc con một câu Đức Phật từng nói “Kẻ nào không thấy Pháp, kẻ ấy không thấy ta, dù đang nắm viền áo Tăng Già Lê, theo ta từng bước. Kẻ nào thấy Pháp, kẻ ấy thấy ta, dù đang cách xa ta vạn dặm.”
Đêm nay, con cảm nhận trọn vẹn nghĩa ân sư khi con được khóc cùng Thầy. Con cũng biết, chẳng phải riêng con, mà trong “Trăm con, cười nói tiếng trăm dòng” kia, chúng con từng đủ duyên nhìn thấy nhau để được cùng khóc với Thầy, cùng chia sẻ với nhau tấm lòng Thầy: “Hy vọng ta còn tiếng khóc chung”.
Hy vọng đó chẳng là có. Tuyệt vọng kia cũng chẳng là không vì lịch sử không ngừng chảy theo dòng Thành Hoại Trụ Diệt. Có thịnh nào không suy, có thể chế nào không tận, có quyền uy nào không tàn, nên việc vun bồi trí tuệ cho thế hệ con em để chuyển hóa những khổ đau hiện tại là thiện sự, là cần làm, đáng làm.
Thầy đã, và đang lặng lẽ làm điều đó bằng chính bản thân và tim óc mình cho hàng hậu học.
Phàm phu đã, và đang vô minh bóp méo để bôi bẩn điều đó với trục lợi huyễn hoặc vô thường.
Đêm tháng bẩy không trăng chợt sáng lên trong con lời Đức Phật nói trong kinh Kokàliya:
“Cái gì trống thì cái ấy kêu to
Cái gì đầy thì cái ấy im lặng”

Thầy ơi! Nhờ ơn Thầy, con đã biết mỉm cười trong tiếng khóc chung.
NAM MÔ VÔ BIÊN THÂN BỒ TÁT.

Hạnh Chi
(Cuối mùa Trăng tháng bẩy, 2009)



(*)TT Tuệ Sỹ
(**)Thiền sư Huyền Quang, đời Trần



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6003)
Cứ mỗi lần mùa hiếu hạnh trở về là mỗi lần gợi lên trong mỗi chúng ta cảm xúc trào dâng về mẹ và cha. Vu Lan báo hiếu đã nghiễm nhiên trở thành lễ hội văn hóa của cả dân tộc, lễ hội văn hóa của tình người, của lòng từ bi ban vui và cứu khổ. Có thể nói, ngày lễ Vu Lan có tác dụng rất lớn đến quan điểm về cuộc sống của nhân sinh.
10/04/2013(Xem: 5824)
Trước bàn thờ Tổ Tiên, tôi đứng yên lặng thật lâu, để quán chiếu, để đi sâu vào đời sống của hiện tại và từ đó, nhìn lại quá khứ của nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ nhiều đời trải dài xuống, cho đến hôm nay. Trong lòng nao nao, nhiều cảm khái, xúc động. Thật sự, có được thân người rất là khó và tự nhiên, lại nghĩ nhiều đến công ơn sinh thành, dưỡng dục cưu mang của cha mẹ…
10/04/2013(Xem: 7111)
Mẹ tôi có ba người con : Con trai lớn là Huỳnh lê Tiến, cô gái út là Huỳnh thị Mỹ Dung, tức văn sĩ Huỳnh Dung, và chúng tôi là Huỳnh trung Chánh. Trong ba anh em, nếu kể đến lòng hiếu thảo và thương yêu mãnh liệt có lẽ tôi không sánh bằng anh em tôi, nhưng tôi là đứa con có cơ duyên gần gũi với bà, chia sẽ đắng cay với bà vào những giây phút hiểm nguy trên cuộc đời như lần đi xuồng chèo trên giòng Cửu Long giữa cơn binh lửa từ Trà Vinh về Cao Lãnh năm 1945, lần gay go vượt biển đến trại tị nạn Mã Lai năm1977......
10/04/2013(Xem: 5922)
Qua khoảng thời gian dài suy nghĩ đắn đo, Mẹ quyết định rời chốn cũ theo về cùng em gái. Có lẽ tình thương dành cho người còn lại, vẫn nặng hơn người miên viễn cách xa. Mẹ vốn yếu mà không đuối, vì có niềm vui khi sống một mình, không bám víu, trông chờ từ con cháu. Nhưng ngoài những ngày an vui, bình lặng, còn có nhiều ngày thân chẳng chiều tâm.
10/04/2013(Xem: 6097)
Sau ngày cha mất, lũ con chợt khám phá ra tình mẹ dành cho cha quá đậm. Như cây cổ thụ xum xuê một ngày bật gốc, để lại người nép bóng phận đời chới với. Ngày ngày đưa tay quơ tìm giữa khoảng không còn lại. "Má bầy trẻ" và "ba thằng Đ" là cách xưng hô hàng ngày. Có lần giữa bữa ăn, em gái út tinh nghịch hỏi: Hồi mới gặp, ba má gọi nhau bằng gì?
10/04/2013(Xem: 6821)
Người đàn ông lạ ở tuổi trung niên có chiếc hoa trắng cài trên áo nhìn Lam chăm chú và khó hiểu. Lam rụt rè nhìn lại cười xã giao rồi quay đi, thầm nghĩ: "Lạ lắm, người này ta đã gặp ở đâu rồi ?”.Cố moi ký ức nhưng Lam không nhớ nổi, lúc này đây, dường như Lam chỉ còn nhớ đến sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” trong tâm tưởng thôi...........
10/04/2013(Xem: 6083)
Tuntu mỉm cười một mình với đôi mắt rực sáng. Sau đêm nay, nó sẽ được chấp thuận trở thành một chiến binh. Ngồi dựa lưng phía sau lều, nó nhìn bao quát về cánh phụ nữ của bộ tộc đang bận rộn chuẩn bị bữa ăn chiều. Vài cô gái già vừa làm, vừa hát vừa tám chuyện. Mùi hương dễ chịu của đất và củi đốt tràn ngập không gian. Tuntu thấy hạnh phúc và hoàn toàn mãn nguyện.
10/04/2013(Xem: 5695)
"Mẹ sẽ không quên mang theo cái cối xay khoai chứ mẹ?" Tôi hỏi qua điện thoại sau khi thông báo với mẹ tôi phải chuẩn bị đi mổ vú. Ngay ở cái tuổi tám mươi hai và một khoảng cách xa ba ngàn dặm, mẹ vẫn biết tôi muốn nói gì: món xúp khoai tây nghiền.
10/04/2013(Xem: 6143)
Sau khi mẹ tôi qua đời, bố tôi đã rất cố gắng để chứng tỏ mình vẫn mạnh khỏe và năng nổ. Khi thời tiết chưa chuyển sang lạnh giá, mỗi buổi sáng, ông bơi một mạch quanh hồ. Mỗi ngày - bất kể ông cảm thấy cơ thể như thế nào- ông bơi nhiều hơn ngày hôm trước một vòng, chỉ để chứng tỏ rằng mình luôn luôn có khả năng tiến tới. Cứ mỗi vài ngày ông lại báo cáo một kỷ lục bơi mới cho tôi với giọng đầy tự hào. Tôi sẽ thiệt thà trả lời "Chao ôi, Bố, con không biết là con có thể bơi nhiều như vậy không nữa!"
10/04/2013(Xem: 6861)
“Mẹ kể cho con nghe về mẹ khi mẹ bằng tuổi con đi” Tôi nài mẹ một buổi chiều sau khi từ trường trở về nhà. Mẹ ngừng khâu ngước lên nhìn, chừng như ngạc nhiên vì câu hỏi của tôi. Một lúc khá lâu, bà trả lời. “Mẹ không bao giờ giống như con. Mẹ không bao giờ mơ trở thành luật sư, giáo sư hay bất cứ một thứ gì khác hơn là một người vợ, một người mẹ, một người bà. Mẹ là đứa con lớn nhất trong mười hai đứa, và mỗi một giây phút thức giấc là đầy ắp công việc với trách nhiệm để duy trì cho gia đình có cái ăn cái mặc. .......