Bước Chân Cùng Tử

10/04/201317:32(Xem: 6180)
Bước Chân Cùng Tử

Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2007

Bước Chân Cùng Tử

Diệu Trân

Nguồn: Diệu Trân

Nắng đã lên cao khi gã tới ven sông. Dọc theo con nước, hàng phượng tím rủ bóng êm đềm, thả rơi trong gió những cánh hoa tím nhạt, điểm lấm tấm trên viền cỏ xanh. Trời trong vắt, chan hòa nắng vàng và lãng đãng mây xanh.
Gã nhìn quanh, tìm bóng con đò. Nhưng giòng sông vắng lặng. Gã đã thấy những bậc đá dẫn xuống bến. Đã có bến, thế nào cũng có đò. Gã suy luận như vậy, và an tâm tháo túi vải trên vai, tìm một chỗ bằng phẳng dưới gốc phượng, ngả lưng, lim dim mắt chờ đò.
Trong ngầy ngật nửa mơ nửa tỉnh, gã như nghe thấy tiếng sáo diều vi vút thả gió trên bờ đê xưa. Chẳng phải chỉ diều bay mà gió cũng bay. Gió thả diều hay diều thả gió? Không có gió, diều chẳng thể bay, nhưng không có diều, ai thấy được mênh mang gió nổi?
Ừ, không có diều, ai thấy được mênh mang gió nổi? Không khát cháy, sao cảm nhận được tột cùng ngọt mát của suối reo? Không khổ đau, liệu có biết thế nào là hạnh phúc?
À, điều này thì có vẻ ngược lại với vị thái tử con vua Tịnh Phạn của giòng họ Thích Ca. Hơn hai ngàn sáu trăm năm trước, thái tử sống trong cung vàng điện ngọc, tràn đầy hạnh phúc trong sự bảo vệ, yêu thương của hoàng gia mà lại nhìn thấy khổ đau của muôn loài. Nhìn thấy rồi, thái tử buông bỏ hết hạnh phúc đang có, quyết đi tìm ra nguyên nhân sự khổ đau mà cứu khổ.
Quả là bậc xuất thần!
Từ thuở đó đến nay, ánh sáng Đạo Giác Ngộ không ngừng tìm bóng tối để soi tỏ đường đi.“Khắp đại địa mười phương ba cõi, cắm một cây kim nào xuống cũng chạm tới xương thịt Như-Lai”.
Mỗi lần nhớ tới lời xác quyết đại từ đại bi này, từng nét chữ thầm lặng như đều chậm rãi chuyển thành âm thanh, lan tỏa nhẹ nhàng vào không gian bao la như tiếng ngân rất mực kỳ diệu của đại hồng chung trên lầu Tàng-kinh-các.
Gã đã từng nương âm thanh này mà đi.
Gã lần mò, đi như người mù, mà cây gậy dẫn đường là bất cứ cuốn Kinh, Luật, Luận nào vớ được! Gã đọc say mê, suy luận bằng sự vô minh của phàm phu và tệ hại, là thực hành theo những suy luận đó!
Gã biết làm sao hơn khi từng lê gót hết nơi này đến nơi kia mà chẳng thấy bản tâm? Lời nói của Vị Lạt Ma tối cao thường an ủi gã “Trên đường tầm sư học đạo, có khi phải từ mười đến mười lăm năm trò mới thấy vị thầy mình đang theo học có là minh-sư hay không!”
Trời hỡi! làm sao trò giữ vững ý chí qua thời gian đằng đẵng đó nếu chẳng may thất vọng?
Trong bóng tối vô minh, gã đã từng tìm đến ngôi chùa bỏ hoang trên núi, điên rồ thách thức sự u tịch hoang vu. Trong nhiều đêm, gã đã từng đổ mồ hôi hột khi dồn toàn lực, toàn trí, bám chặt vào công án “KHÔNG”. Ôi, cái chữ “Không” này chẳng không chút nào. Nó là cửa ải thập phần gian nan của giáo lý tối thượng mà lại luôn mang vẻ lửng lơ, bỡn cợt! Chẳng thế mà một thiền-sư đã ví công án KHÔNG như hòn sắt nóng, đỏ rực ngang cuống họng thiền-sinh. Phải dũng mãnh vận dụng đủ 360 cái xương và 84,000 lỗ chân lông trong thân thể mà chiến đấu với nó để, hoặc nuốt được nó, thoát qua cửa ải, hoặc bị nó đốt cháy!
Trong nhiều đêm, gã đã bị đốt cháy!
Một đêm, với thương tích tả tơi, gã chợt nhớ lời dạy của Đức Thế Tôn với tỳ-kheo Thera. Trong tăng đoàn, thầy Thera thường né tránh đám đông và chỉ thích vào rừng sâu tu tập một mình. Khi biết thế, Đức Thế Tôn đã dạy:
“ Này các vị khất sỹ, này thầy Thera, người biết sống một mình không phải là người xa lánh đám đông mà là người giữ được chánh niệm, biết sống với giây phút hiện tại giữa đám đông, nhận biết mọi sự vật xung quanh một cách rõ ràng, sâu sắc mà không bị những sự vật đó chi phối. Người biết sống một mình là người biết an trú trong từng hơi thở hiện tại, không quay tìm quá khứ, không đuổi bắt tương lai. Người như thế, dù sống giữa đám đông vẫn là người sống một mình với bản tâm thinh lặng.”
Gã đã mang lời dạy này, đeo túi vải lên vai, rời núi đồi mà xuống đồng bằng.
Nơi đây, gã lại tuân lời Đức Thế Tôn đã dạy La Hầu La:
“Con hãy học hạnh của đất. Dù người ta có dẫm đạp, đổ vãi lên đất những thứ bẩn nhơ hôi hám hay trải hương hoa thơm tho tinh sạch, đất cũng an nhiên không giận, chẳng mừng. Học được như thế, con sẽ không còn bị mọi cảm thọ bám vào. Biết nhìn cảm thọ như đối tượng bị nhìn, thay vì đồng hóa mình với cảm thọ, con sẽ luôn thanh thản an nhiên trước mọi sự.”
Dù cố gắng thế nào, gã vẫn mơ hồ thấy nỗi khổ đau như những con vi trùng cực độc, cực nhỏ, âm thầm rút rỉa từng tế bào!
Nếu cứ thế này, không bao lâu, gã sẽ chết như sâu mọt! Gã khóc cho sự bất hạnh của kẻ cùng tử trong Kinh Pháp Hoa, có gia tài trước mắt mà không nhận được Cha mình!
Giòng sông lênh láng nắng vàng vừa soi bóng con đò.
Lạ thay, cùng với tiếng mái chèo khua nước mỗi lúc mỗi gần, gã chợt nghe thấy tiếng chuông ngân. Gã nhìn quanh. Thành phố Biển Dài im trong trưa hè. Tiếng chuông từ đâu vậy?
Con đò khẽ khàng cặp bến.
Tiếng chuông tha thiết hơn.
Gã đứng bật dậy.
Một vài người đang xuống đò.
Tiếng chuông ngân dài lời ru của MẸ.
Gã nhìn ông lão lái đò. Rồi không chần chừ, gã quay vào thành phố, cứ nương theo tiếng chuông mà đi …. Đi mãi …. Tiếng chuông mỗi lúc mỗi rõ …..
Đây rồi.
Một vị sư trẻ đang điểm từng tiếng chuông sau mỗi lần trang nghiêm xướng hồng danh một Chư Phật. Và đoàn Phật-tử áo lam khoan thai, kính cẩn đồng quỳ xuống, lạy một lạy. Sau tiếng khánh, tất cả thầy trò lại thong thả đứng lên. Thầy lại xướng một hồng danh, đánh một tiếng chuông, Phật-tử cùng trang nghiêm xưng tụng hồng danh và lại cùng quỳ xuống, lạy một lạy.
Đạo tràng cực kỳ linh động trong động tác và âm thanh thập phần tôn kính.
Gã đứng như tượng đá trước cửa chánh điện.
Gã không ý thức đã đứng như thế bao lâu, đã tụt giầy, bò vào đạo tràng lúc nào. Gã cũng không biết ai đã mang cho gã một cuốn “Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp LƯƠNG HOÀNG SÁM”, đặt trên kệ gỗ nhỏ ngay ngắn trước mặt gã, sau khi đã thân ái mở trang đang tụng lạy.
Và gã nghe rõ tiếng mình tụng, hòa với đại chúng:
“Tất cả chúng sanh từ vô thủy trở lại cho đến ngày nay, mê muội mãi mãi, vô minh che lấp, nước ái nhận chìm, nên khởi ra ba độc-căn, khởi ra bốn điên đảo. Từ ba độc-căn ấy sanh ra mười phiền não. Y nơi thân-kiến khởi ra ngũ-kiến. Y nơi ngũ-kiến khởi ra sáu mươi hai kiến. Y nơi thân, khẩu, ý khởi ra mười hạnh ác. Lại y nơi sáu căn tham đắm sáu trần, hơn nữa là mở rộng cửa ác cho tám vạn bốn ngàn trần lao xâm nhập. Trong khoảng một niệm, mở cửa cho tám vạn bốn ngàn trần lao, huống nữa là trong khoảng một ngày, một tháng, một năm, chung thân lịch kiếp thì đã khởi ra biết bao tội ác, vô lượng vô biên oán thù theo nhau không bao giờ cùng tận.
Nguyện xin Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, rủ lòng từ-bi thâu nhiếp chúng con, đem sức đại trí huệ, sức hàng phục tứ ma, sức diệt trừ phiền não, sức giải oan kết độ thoát chúng sanh, sức giải thoát địa ngục, tế độ ngã quỷ, cứu vớt súc sanh, sức nhiếp hóa a-tu-la, sức nhiếp thọ nhơn đạo cùng sức vô lượng vô biên công đức, vô lượng vô tận trí huệ, nhờ những sức lực ấy khiến các chúng sanh có oán thù trong bốn loài, sáu đường, đồng đến đạo tràng, thọ lãnh sự sám hối của chúng con hôm nay …”(*)

Toàn thân gã rung động khi tụng những câu này. Trời ơi! Đây có phải là “sự cảm thông không thể nghĩ bàn” của “Mười phương Phật-bảo hào quang sáng ngời”? Trời ơi! Có phải những khổ đau cùng cực trong lòng gã, ở phút giây chí thành đã bắt được tần số với đạo tràng đang tụng lạy bộ sám pháp Lương Hoàng Sám hôm nay? Gã tin rằng, chính bao tấm lòng trong đạo tràng này đã gọi gã qua âm thanh mơ hồ gã nghe được khi chờ đò sang sông.
Muôn tỷ người trong thiên hạ, sao có những người vừa nhìn thấy nhau là thấy ngay duyên nợ? Thế nhân thường gọi đây là tiếng sét. Tiếng sét với duyên nợ thế nhân hay tiếng chuông với duyên lành đạo pháp có khác nhau không?
Có lẽ khác. Và khác nhiều.
Duyên nợ để tiếp tục vay, trả, lăn trôi trong luân hồi.
Duyên lành để sám hối, diệt trừ nghiệp chướng, đem tâm thanh tịnh cúng dường Tam Bảo, đoạn dứt luân hồi.
Cảm nhận như thế, gã bỗng thấy tay chân, mình mẩy nhẹ như tơ, khi cùng đại chúng, theo sự hướng dẫn của vị sư trẻ mà cung kính lễ lạy từng hồng danh:
“Đại chúng cùng nhau chí tâm đảnh lễ quy-y đấng Đại Từ Bi Phụ của cả thế gian:
Nam Mô Di-Lặc Phật
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Nguyệt Diện Phật
Nam Mô Bảo Đăng Phật
…………………………..
Nam Mô Vô Biên Thân Bồ Tát
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”(*)

Đại chúng trong đạo tràng có đủ nam phụ lão ấu, đều nhất loạt tụng, lạy an nhiên tự tại như không hề biết mệt. Cuốn sám pháp Lương Hoàng Sám dày gần bẩy trăm trang, tràn ngập lời tụng chí thành thiết tha, không chỉ sám hối cho bản thân mình, quyến thuộc mình mà sám hối cho muôn người, muôn loài, tỷ mỷ phân minh từng ba đường, sáu cõi. Sau mỗi đoạn thỉnh cầu, phát nguyện, lại lễ lạy xin Chư Phật, Chư Bồ Tát chứng minh. Trọn cuốn, hơn một ngàn sáu trăm hồng danh mà đại chúng tuần tự sụp lạy không sót một vị.
Giờ nghỉ trưa thọ trai, gã được lão ông ngồi gần cho biết, hôm nay là ngày cuối trong sáu ngày tụng lạy liên tục đủ ba bộ. Gã nhẩm tính, rồi sửng sốt:
-Ba bộ? Nghĩa là sáu ngày liên tiếp đã tụng hơn hai ngàn trang và lạy gần năm ngàn lạy?
Lão ông cười hiền hòa, như điều gã sửng sốt chẳng có gì đáng sửng sốt:
-Thưa vâng. Đại chúng được tụng Lương Hoàng Sám lần này là do duyên lành bất ngờ. Số là, có một nữ Phật tử từng thưa với Thượng Tọa trụ trì, khi nào có cơ hội, xin mở giới đàn đại-sám-hối để thính chúng được gieo duyên với sự mầu nhiệm đã xảy ra thời vua Lương Võ Đế bên Tầu. Hoàng Hậu Hy-Thị được nhà vua yêu quý nhất lại không phải là người hiền đức nên sau khi thác, phải đọa vào kiếp rắn mãng-xà. Bà hiện về than khóc, xin Vua cứu giúp. Nhà vua đã cung thỉnh vị đạo cao đức trọng thời đó là Hòa Thượng Chí Công, triệu tập các danh tăng, cùng soạn ra sám-pháp này. Mỗi lời, mỗi giòng đều như xuất phát tự đáy lòng thành tâm sám hối nên khi nhà vua và quần thần, quyến thuộc tụng lạy mới đến nửa cuốn đã ngửi mùi hương lạ. Và rồi, phảng phất trên hư không là bóng hình diễm lệ của hoàng-hậu Hy-Thị đến tạ ơn Vua và Chư Tôn Đức, vì nhờ những lời sám hối khẩn thiết mà bà đã được giải thoát, sanh lên cung trời Đao-Lợi.
Lời thỉnh cầu của người nữ Phật-tử đó, tưởng còn phải chờ lâu lắm. Nào ngờ, sau những ngày An Cư Kiết Hạ, quý Thầy trong chùa theo Thượng Tọa trụ trì lên đường hành hương thì Đại-đức Thường Tịnh nhớ tới lời thỉnh nguyện, đã tình nguyện ở lại “giữ chùa”, nhưng chính là để biến ước mơ của đại chúng thành sự thật.
Tụng lạy trọn cuốn phải hai ngày liền, mỗi ngày tám tiếng mới hoàn tất. Thế nhưng, “hữu xạ tự nhiên hương”, ngày nào cũng có người tất tả chạy đến than thở:
-Trời ơi, chúng con không biết kịp, lỡ mất nửa cuốn rồi!
Đại-đức đã từ bi an ủi rằng:
-Chưa mất đâu. Chúng ta sẽ tụng lại từ đầu.
Đó chính là cơ duyên mà đại chúng được tụng lạy sám pháp Lương Hoàng Sám liên tiếp tới ba lần!
Buổi chiều kết thúc sáu ngày tụng lạy, gã được Đại-đức tặng một bộ Lương Hoàng Sám. Gã cúi rạp đầu, kính cẩn nhận, rồi bái biệt ra đi.
Đi đâu?
Gã chợt nhớ là gã đang ở bên sông, chờ đò.
Theo hương gió, gã đi lần về bờ sông.
Người và cảnh khác lạ, không như khi gã nương tiếng chuông, về chùa. Rồi gã lại nhận ra, không phải người và cảnh khác lạ mà hình như chính gã đang khác lạ. Gã vừa thấy suốt được sự vô minh, ngạo mạn đã làm uổng phí bao tháng ngày lang thang.
Gã là gì mà mơ tưởng “Trực chỉ chơn tâm, kiến tánh thành Phật” khi tọa thiền, tham công án?
Gã là gì mà dám tự nhủ “Kiếp này, chỉ kiếp này nữa thôi phải dứt sanh tử luân hồi” khi tụng kinh niệm Phật?
Gã là gì mà sau mỗi thời kinh, quỳ đọc dăm câu sám hối đơn sơ: “Đệ tử lâu đời lâu kiếp, tham giận si mê, kiêu căng lầm lạc, nay nhờ ơn Phật, biết sự lỗi lầm …” đã tưởng là dọn tâm thanh tịnh?
Hơn bao giờ hết, gã hiểu rõ hơn hai chữ “Tàm và Quý” trong môn Duy Thức Học. Đó là lòng biết hổ thẹn với mình và với người. Tội lỗi thế gian tinh vi chằng chịt, cố tình lẫn vô tình, sám hối cả đời chưa hết. Chưa sám hối hết, đừng mong chỉ còn đời này sẽ dứt luân hồi, mà phải nguyện xin đới-nghiệp-vãng-sanh.
“Con thành tâm phát nguyện xin được về cõi Phật. Nếu còn bao nhiêu nghiệp chưa trả hết, xin cho con được mang theo lên cõi báu để ở nơi thanh tịnh, đẹp đẽ, nhiệm mầu đó con đem hết thân, tâm, ý này mà tu tiếp. Ngưỡng xin Chư Phật, Chư Bồ Tát gia hộ cho con.”
Bên bờ sông cũ, gã lầm thầm tự nguyện như thế.
Nắng đã nhạt. Con đò lại hiện ra trên giòng sông êm mát. Gã bật cười, liên tưởng đến nhân vật Tất Đạt trong tác phẩm nổi tiếng “Câu chuyện giòng sông” của văn hào Hermann Hesse. Gần hết cuộc đời thanh xuân, Tất Đạt đã lang thang đi tìm chính mình, đến khi nếm đủ phong sương mới gặp được Vệ Sử, ông lão lái đò tự tiền kiếp, khai ngộ cho.
Bất giác, gã buột miệng gọi to:
-Vệ Sử!
Ông lái vừa buộc giây neo, vừa ngơ ngác nhìn gã.
Gã lại hỏi:
-Không qua sông ư?
Tiếng đáp cộc lốc:
-Không. Mai.
Cột xong con đò, lão lên bờ, lững thững đi vào thành phố.
Gã cũng lững thững đi vào thành phố, nhưng khác hướng. Vừa đi, gã vừa nghĩ “ Mai? Sao lại mai? Hôm trước đã qua, ngày mai chưa tới. Phải hôm nay. Phải hôm nay và ngay bây giờ chứ.”
Hơi thở.
Hôm nay.
Bây giờ.
Hơi thở.
Hôm nay.
Bây giờ.
Gã thở đều, bước đều, trong chánh niệm như thế. Lòng thư thái, an nhiên. Khi dừng bước thì đã thấy mái cong của ngôi chùa.
Đó là đạo tràng gã vừa được khai tâm sám hối.
Không xuống đò mà gã ngỡ như đã qua sông.

Diệu Trân
(Như-Thị-Am, mùa Vu Lan 2007)


(*)Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp LƯƠNG HOÀNG SÁM. Dịch giả : Tỳ Kheo Thích Viên Giác



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/09/2020(Xem: 11350)
Lễ Vu Lan PL 2564 (2020) tại Thiền Viện Minh Quang, Adelaide Nam Úc Chủ Nhật 06/09/2020 (19/07/Canh Tý). Viện Chủ Hoà Thượng Thích Minh Hiếu, Trụ Trì Đại Đức Thích Minh Hải.
06/09/2020(Xem: 12208)
Sáng ngày 05/9/2020 (ngày 18 tháng 7 năm Canh Tý, PL 2564), chùa Đại Bảo Trang Nghiêm đã tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu do Hòa thượng trụ trì Thích Đỗng Tuyên chủ lễ. Chương trình buổi lễ gồm có: Lễ quy y cho hai Phật tử nhỏ tuổi là: Lê Nguyễn Aria Ever Len, sinh năm 2017, pháp danh Bảo Hân; và Nguyễn Đức Bình An, sinh năm 2012, pháp danh Bảo Huy. Hòa thượng chủ lễ niệm hương bạch Phật Tụng kinh và sám Vu Lan Hồi hướng Cúng thí thực cô hồn Tụng kinh Mông sơn thí thực Hồi hướng Chụp ảnh tập thể lưu niệm Hoàn mãn Buổi lễ diễn ra trang nghiêm, thành kính.
06/09/2020(Xem: 5887)
Thông Bạch Vu Lan 2020 (Phật lịch 2564)
06/09/2020(Xem: 10048)
Sám Vu Lan Phổ nhạc: Nhạc sĩ Võ Tá Hân Trình bày: Ban Đạo Ca Chùa Giác Ngộ
05/09/2020(Xem: 5754)
Đây là Mùa Vu Lan thứ bảy mà Ba đã rời xa chúng con nhưng các con của Ba vẫn luôn nhớ về Ba, một Người Cha suốt đời tận tụy lo lắng và thương yêu con cháu và anh em cũng như mở rộng tấm lòng đối với bà con, láng giềng. Hòa vào kỷ niệm "Ngày Nhớ Ơn Cha" của Úc Châu, QT xin chia sẻ câu chuyện về một tấm lòng của Người Cha xin kính dâng tặng Hương Linh Ba Nguyên Bửu và những Người Cha đã quá vãng hay còn hiện tiền vào Ngày Nhớ Ơn Cha Đặc Biệt này. Kính nguyện quý vị cùng gia đình Mùa Vu Lan nhiều an lành. Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.
05/09/2020(Xem: 18283)
Ngày Rằm Tháng Bẩy Đại Lễ Vu Lan Con Thắp Nén Nhang Gửi Nhớ Về Trời Vô cùng Nhớ Mẹ ! Con ngồi lặng lẽ Con ngồi rất lâu Con nghĩ gì đâu !
05/09/2020(Xem: 10596)
Rằm tháng Bảy. Lễ Vu Lan Báo Hiếu... Một mình một xe tà tà rong ruổi theo Quốc Lộ I vô hướng Nam, tôi ghé đến 3 ngôi chùa vùng quê vắng vẻ, để lễ Phật, cúng dường pháp bảo, lạy sám hối và cảm tạ "tứ trọng ân"… - Chùa thứ nhất, là chùa Tịnh Quang, ở xã Suối Hiệp, huyện Cam Lâm, thượng tọa Thích Tâm Hiến trú trì. Chùa đang vào lễ tụng kinh Vu Lan, phật-tử miền quê về dự càng về trưa càng đông, có cả những người con Phật từ những nơi phố hội xa hoa cũng đi ô-tô về dự lễ cài bông hồng tưởng nhớ Cha Mẹ, phóng sanh tạo phước, nam phụ lão ấu ngồi san sát nhau từ bên trong điện ra ngoài sân, ngôi chùa nhỏ "cải gia vi tự" càng thấy chật hẹp và nhỏ bé lại... Ngoài sân, lễ cúng thí thực đã được thiết bày sẵn trang nghiêm với tôn tượng đức Địa Tạng, Tiêu Diện Đại Sĩ và hoa quả bánh trái chè xôi sắc màu hòa quyện đan xen hoa cả mắt... Hình ảnh những cụ già ngồi bên các cháu nhỏ, cùng chắp tay quý kính hòa âm hòa điệu với nhau nhịp nhàng để tụng hồi kinh Vu Lan Bồn từ những bản kinh thuần Việt
05/09/2020(Xem: 15591)
Chùa Ba La Mật tọa lạc tại số 366 Nguyễn Sinh Cung, thôn Nam Phổ, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa có diện tích 2.500 m2, có nhiều cây xanh, không gian thoáng đãng, an tịnh! Chùa do Đại sư Viên Giác khai sơn vào năm 1886. Đại sư tên là Nguyễn Khoa Luận, sinh năm 1834. Ông thi đỗ cử nhân năm 1861, lập gia đình và ra làm quan. Năm 1881, ông làm Bố chánh Quảng Ngãi; năm 1884, đổi ra làm Bố chánh Thanh Hóa.Sự biến động lịch sử lúc bấy giờ đã tác động đến ông nên ông đã từ quan năm 1885, thường đi viếng chùa Mật Sơn ở Thanh Hóa, chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi, chùa Từ Hiếu ở Huế. Ở chùa Từ Hiếu, ông tham vấn hai chữ “Vô sinh” trong giấc mộng năm xưavới Hòa thượng Cương Kỷ. Hòa thượng giảng cho ông: “Khổng dạy sinh sinh, Lão giảng trường sinh, chỉ có Phật thuyết vô sinh, đó là con đường vô sinh vô diệtcủa Như Lai”. Ông tỉnh ngộ, liền xin Hòa thượng cho xuống tóc quy y với Ngài năm 1886, lúc đó ông đã 52 tuổi.
04/09/2020(Xem: 12732)
Tổ đình chùa Viên Giác ở Hannover được mệnh danh là chiếc nôi của Phật giáo trên nước Đức.. Vào các dịp lễ Tết Âm lịch, Lễ Thượng Nguyên, lễ Phật đản, Lễ Vu lan, Tổ đình chùa Viên Giác Hannover trở thành một ngày Đại lễ cho người Việt Hải ngoại ở Đức hội tụ về đây thật là trang nghiêm thanh tịnh của sự hiền dịu, thương yêu và hòa bình. Năm nay Tổ đình chùa Viên Giác không tổ chúc đại lể Vu Lan như mội năm vì chướng duyên lo sợ bệnh dịch Corona gây nguy hiểm lây lan cho mọi người. Tuy nhiên vào ngày Chủ nhật 30.08.2020 tức 12,07 (âl) Tổ đình chùa Viên giác chỉ Tổ chức phạm vi trong nội tự nhưng bà con về dự lễ Vu Lan cũng rất đông ngồi kín trên chánh điện, kể cả trong hội trường mọi người đều đeo khẩu tràn và ngồi khoản cách, để bảo đảm cho vấn đề an toàn không bị lây nhiêm. Chương trình lễ Vu Lan được tổ chức như sau :
04/09/2020(Xem: 11200)
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật! Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni! Kính thưa quý vị Phật tử! Nhân mùa Vu-lan năm 2020, con xin đảnh lễ, kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni thêm một tuổi đạo, thành công hơn nữa trong các Phật sự, nhằm mang lại lợi ích và phúc lạc cho nhân sinh. Con kính chúc các bậc làm cha mẹ thêm một tuổi đời, làm nền tảng đạo đức và hạnh phúc cho con cháu trong gia đình và họ tộc. Con kính chúc tất cả các anh chị, các cháu thanh thiếu niên, đề cao đạo lý hiếu kính cha mẹ ông bà, thể hiện tinh thần tự lập, xa lánh các thói hư tật xấu, các thói quen nghiện ngập, hưởng thụ ăn chơi, để sống một cuộc đời hữu ích, và làm cho cha mẹ được hạnh phúc hiện tiền. Nhờ đó, có một tương lai tươi sáng.