Vu Lan Niệm Báo Tứ Ân

18/07/201316:42(Xem: 7894)
Vu Lan Niệm Báo Tứ Ân

red_rose_45

VU LAN NIỆM BÁO TỨ ÂN
Kim Tâm Thích Hạnh Niệm

Mỗi năm, vào độ nắng vàng phai

Mây trắng bên trời lờ lững bay

Tôi lại thấy lòng nô nức lạ

Đã vào hội tiết báo ân dày

Nên được tấm thân ở cõi đời

Thấm nhuần ân phước khắp muôn nơi

Hồi soi báo đáp cho tròn đạo

Kẻo hổ mang danh một kiếp người !

Trước tiên sinh dưỡng của song thân

Cửu tự cù lao khó tỏ phân

Săn sóc cho ta quên tự thể

Hiếu tâm báo đáp chỉ đôi phần

Cha mẹ sinh ta lắm nhọc nhằn

Công người dạy dỗ đức vô ngần

Làm nên danh phận trong trời đất

Phải nhớ đền bù giáo dưỡng ân

Quê hương, xứ sở những gần xa

Bình tịnh an vui đẹp cửa nhà

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Ngàn năm văn hiến Việt Nam ta” !

Xóm thôn tình nghĩa cảnh thân quen

Lân lý hôm mai “lửa tắt đèn”

Tuy chẳng ruột rà chung máu mủ

Cùng giàn bầu bí thắm đòi phen

Lễ hội Vu Lan đã trở về

Từ trong tâm khảm mấy lời quê

Dâng lên Tam Bảo hồi ân báo

“Dương thái âm siêu” đẹp mọi bề./.

VỀ QUÊ NGÀY GIỔ MẸ
Kim Tâm Thích Hạnh Niệm

Mẹ già quá vãng đã lâu rồi

Hình dáng người luôn sáng ở tôi

Bóng đổ liêu xiêu trên luống cải

Lúc người nhặt cỏ mỗi chiều rơi.

Thuở đó quê tôi chưa chiến tranh

Nơi nơi vui đẹp cảnh thanh bình

Tuổi thơ tôi trải trên đồng nội

Bên luỹ tre làng xanh thật xanh !

Không còn nhớ nữa được bao lâu

Bom đạn bỗng nhiên đổ xuống đầu

Làn sóng mẹ theo người tị nạn

Trên vai từ đấy trĩu đau sầu !

Làm sao nói hết những tang thương

Chết chóc, điêu linh, những đoạn trường

Những sáng xương rơi, chiều máu đổ

Hoà đàm, hoá giải vẫn vô phương !

Cuộc chiến leo thang đến tận cùng

Muôn người đồng một ước mơ chung

Mong cho chiến cuộc mau hoàn kết

Khoai sắn cùng nhau cũng thoả lòng !

Thế rồi cuộc chiến cũng đi qua

Dân trở về quê dựng lại nhà

Khoai sắn dẫu còn không lấp dạ

Tình làng nghĩa xóm vẫn vang xa !

Mẹ tôi trở lại cảnh vườn xưa

Bươn chải nào đâu kể sáng trưa

Chẳng được bao lâu Người quá vãng

Xóm làng triều mến thảy cùng đưa

Từ đấy, mỗi năm giữa độ hè

Tôi về thăm lại cảnh làng quê

Thắp hương cầu nguyện Người siêu thoát

Cùng viếng gần xa đẹp mọi bề.

Kinh số 97
Thuộc bộ kinh Tạp A Hàm
HT. Thích Hạnh Niệm

Kinh văn:

Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Phật trú tại nước Xá Vệ, rừng cây Kỳ Đà, trong vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ sáng sớm, Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá Vệ khất thực. Khi ấy có Bà la môn kia, tuổi già sức yếu, chống gậy ôm bát đi khất thực từng nhà. Bà la môn từ xa trông thấy Thế Tôn liền nghĩ thầm: “Sa môn Cù Đàm cầm gậy, ôm bát đi khất thực từng nhà, ta cũng chống gậy, ôm bát đi khất thực từng nhà. Ta và Cù đàm đều là tỳ kheo”.

Lúc đó, Thế Tôn nói bài kệ đáp:

Gọi là bậc tỳ kheo

Chẳng phải do khất thực

Giữ gìn pháp tại gia

Đâu gọi là tỳ kheo

Nơi mọi điều lầm lỗi

Đều lìa, tu chánh hạnh,

Tâm kia không sợ hãi

Đây gọi là tỳ kheo.

Bà la môn, sau khi nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành, đảnh lễ rồi từ giã.

Bình:

Đây là kinh số 97 trong Bộ Tạp A Hàm.

Xuất xứ của bản kinh, nơi nói kinh đã nêu rõ. Trong bài kinh, ta thấy ông Bà la môn già, nhân hình thức đi khất thực giống nhau: chống gậy, ôm bình bát đi khất thực từng nhà giống nhau, ông kết luận: “Ta và Cù Đàm đều là tỳ kheo”.

Đây là lối kết luận lấy một phần làm toàn thể như nhân thấy con quạ đen liền kết luận “Tất cả những gì đen đều là con quạ”. Đâu biết rằng một vị tỳ kheo sở dĩ đi khất thực hằng ngày là để thể hiện hạnh xả li và chính hạnh xả li nơi tâm mới là chánh hạnh làm nên một vị tỳ kheo. Sự xả li tất cả những chấp thủ nơi gia đình, của cải, trong không thấy có thân tâm là cái ngã, ngoài không thấy có nhà cửa, của cải … là những cái thuộc về ngã, tức ngã sở. Trong không thấy có ngã nên đối với thân ngũ uẩn không sinh tâm tham đắm, ngoài đối với các pháp thế gian không sinh tâm chấp trước. Như những kinh trước Phật dạy: “vì không đắm trước nên tự giác, Niết Bàn…” Ở đây, nhân sự việc này đức Phật dạy hai bài kệ. Bài kệ đầu minh định ý nghĩa của tỳ kheo, bài kệ thứ hai nói lên nội dung của chữ tỳ kheo. Hai câu đầu bài kệ thứ nhất nói hình thức khất thực không tiêu biểu cho một vị tỳ kheo dù rằng vị tỳ kheo sống theo lối khất thực. Tỳ kheo là vị đã xả li đời sống gia đình, sống đời thanh tịnh không vợ chồng, con cái. Do vậy điều đầu tiên phân biệt là ông Bà la môn còn giữ gìn pháp tại gia thì không thể nào gọi là tỳ kheo được. Từ xuất gia bắt đầu từ nghĩa “xuất thế tục gia”, nghĩa là ra khỏi nhà thế tục là cái nhà của thế gian mà trong đó vợ chồng, con cái sống chung với nhau trong vòng dây ân ái. Thứ đến là xuất phiền não gia, là ra khỏi ngôi nhà phiền não, ngôi nhà đầy dẫy tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến điên đảo. Có dứt trừ hết các phiền não thì mới có thể ra khỏi ngôi nhà tam giới được. Phiền não do mê lầm mà gây ra. Người đã dứt trừ các phiền não, đối với mọi điều phiền não được xa lìa, nhờ vào tu chánh hạnh. Chánh hạnh thuần thục, tâm không còn sợ hãi, tự tại, giải thoát. Đó là ý nghĩa của chữ tỳ kheo được dịch là phá ác, mà cũng là ý nghĩa bài kệ thứ hai ở đây vậy./.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/04/2013(Xem: 6581)
"Khúc ngâm cùa người con đi xa" - Sợi chỉ trong tay của người Mẹ hiền. Nay đang ở trong chiếc áo người con đi xa mặc trên người. Lúc mới lên đường, Mẹ khâu từng mũi chỉ kỹ càng dày dặn hơn. Có ý sợ con đi lâu mới trở về. Ai dám bảo rằng tấm lòng của của tấc cỏ, Lại có thể báo đáp được ánh nắng cảu ba tháng trời xuân?
11/04/2013(Xem: 9754)
Trên thế gian nầy có nhiều kỳ quan, Có thật nhiều kỳ quan, Nhưng kỳ quan đẹp vẫn là Mẹ của ta, Mẹ của ta là kỳ quan đẹp nhất, ....
11/04/2013(Xem: 8996)
Như những vì sao, những con ruồi đang bay hay ánh lửa của một ngọn đèn dầu, Như một ảo giác ma thuật, một giọt sương mai hay một bọt bong bóng, Một giấc mơ, một tia chớp hay một áng mây bay, Đấy là cách phải nhìn vào mọi hiện tượng tạo tác từ những điều kiện trói buộc.
11/04/2013(Xem: 7174)
Mới cuối Hè, đầu Thu mà Bắc Kinh đã lụt bão. Chúng tôi vội vã rời Bắc Kinh về Tô Châu để đến viếng Hàn Sơn Tự chứ không phải để “mua lụa Tô Châu biếu em” như một nhạc sĩ nào đó lãng mạn dàng trời đã từng mơ mộng. Một nhà sư trong chùa Hàn Sơn nói: “Bài thơ mới giữ được ngôi chùa, chớ không phải ngôi chùa giữ được bài thơ”.
11/04/2013(Xem: 7649)
Hãy nhận thức rằng cuộc đời là một trường học và bạn ở đây là để học. Các bài toán chỉ là một phần của học trình, xuất hiện rồi phai mờ đi giống như lớp đại số, nhưng các bài học bạn học được thì sẽ kéo dài suốt đời...
11/04/2013(Xem: 5702)
Nói đến lễ Vu Lan là nói đến Hiếu hạnh; nói đến Hiếu hạnh, chúng ta nghĩ ngay đến ân nghĩa Cha Mẹ. Không người con nào trên đời mà không được sinh ra bởi cha mẹ. Bởi vậy, từ ngàn xưa đến nay, từ đông sang tây, bất luận ở nền văn hóa nào, quốc gia nào, dân tộc nào, con người đều thương yêu, tôn quí và báo ân cha mẹ. Thương yêu cha mẹ là tình cảm tự nhiên, còn sự tôn quí và báo ân thì cũng tùy theo hoàn cảnh và nền văn hóa mỗi nơi mà có sự ứng dụng đậm hay nhạt; có khi phải có sự kêu gọi, nhắc nhở. Nhưng tựu trung, con cái lúc nào cũng cần ý thức về nguồn cội của mình.
11/04/2013(Xem: 7324)
Trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam, đạo hiếu làm con là di sản văn hóa tinh thần vô giá, di sản này truyền thừa từ thời mới lập quốc, đến khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, thì đạo đức dân tộc hòa chung với đạo đức Phật giáo như nước và sữa. Bản chất của người Việt Nam là yêu chuộng hiếu đạo, mà giáo lý của Phật giáo là giải thoát, vì vậy hai luồng tư tưởng gặp nhau đã làm thăng hoa giá trị văn hóa tinh thần của người dân Việt. Làm người ai cũng có cha và mẹ, hai đấng sinh thành dưỡng dục ta nên người, cho ta thân thể hình hài này, cho ta đạo đức làm người, cho ta biết yêu thương và chia sẻ.
11/04/2013(Xem: 6965)
Truyền thống Vu Lan không còn xa lạ với quần chúng Phật giáo thuộc các quốc gia Á Châu, nhất là Trung Hoa và Việt Nam. Truyền tích về Vu Lan, mùa Báo hiếu, mùa xá tội vong nhân, mùa cúng cô hồn đã thấm sâu vào huyết quản dân tộc, cho dù không là Phật tử.
11/04/2013(Xem: 8153)
Đức Phật hỏi các vị Sa Môn (śramaṇa): “Cha mẹ sinh con thì người mẹ mang thai mười tháng, thân bị bệnh nặng. Đến ngày sinh thì người mẹ gặp nguy cấp, người cha sợ hãi, tình cảnh ấy thật khó nói. Sau khi sinh xong thì mẹ nằm chỗ ẩm ướt nhường lại chỗ khô ráo cho con, tinh thành cho đến máu huyết hoá làm sữa. Ngày ngày lau xoa tắm gội, chuẩn bị quần áo, dạy bảo con trẻ, tặng lễ vật cho thầy bạn, dâng cống quân vương với bậc trưởng thượng…
11/04/2013(Xem: 9371)
Pháp Thoại: Vô Thường, bài giảng của HT Thích Trí Hoằng