Vu Lan và triết lý nhân quả

24/08/201520:26(Xem: 6464)
Vu Lan và triết lý nhân quả

 hieu hanh


VU LAN VÀ TRIẾT LÝ NHÂN QUẢ

                                                                                               

                                                                                             Thích Thông Huệ

Sau khi đắc quả A-La-Hán, Tôn giả Mục Kiền Liên vận thần thông đi khắp các cõi tìm người mẹ đã khuất. Thấy mẹ đang chịu đói khát khổ sở trong kiếp ngạ quỷ, Ngài đau lòng vô cùng, vội dâng lên mẹ bát cơm. Lòng bỏn xẻn tham lam chưa dứt, bà sợ chúng ma cướp giật nên đưa tay che bát cơm. Nhưng cơm đã hóa thành lửa đỏ!.

Vị đại đệ tử thần thông đệ nhất của Đức Phật không thể cứu mẹ thoát kiếp ngạ quỷ, cũng không giúp mẹ được một bữa no lòng. Ngài vừa khóc vừa quay về cầu cứu Bổn Sư. Pháp cứu tế nhân đây được Phật thuyết giảng, trở thành một phương pháp cầu siêu cho những người đã khuất; và ngày rằm tháng bảy trở thành ngày hội cho những người con hiếu thảo.

 

Nhưng ở đây, chúng ta có thể đặt nghi vấn: Nếu nhờ chư Tăng chú nguyện mà bà mẹ Ngài Mục Kiền Liên thoát khỏi cảnh đọa lạc, thì hóa ra lý Nhân quả cũng có trường hợp ngoại lệ? Và Phật tử chúng ta chỉ cần nương nhờ thần lực của chư Phật cùng Thánh chúng, dù có tạo nghiệp ác cũng không sợ sa vào khổ xứ? Quả thật như thế, thì tinh thần “ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng” còn có ý nghĩa gì? Thật ra, tuy lý Nhân quả có tính phổ thông, nhưng muốn quán triệt đạo lý này, chúng ta phải nghiền ngẫm tư duy thật sâu sắc; và sau đó, nhờ công phu chuyển hóa tự thân, tịnh tu ba nghiệp, ta mới có thể thẩm thấu ý nghĩa uyên áo của nó.

Nhân là nguyên nhân, nguồn gốc, mầm mống; Quả là kết quả, thành tựu, báo ứng. Tất cả mọi sự vật hiện tượng trên đời, không vật gì do ngẫu nhiên tạo ra, mà phải có nguyên nhân từ trước. Ngược lại, một nguyên nhân muốn có kết quả, cũng phải có sự hỗ trợ của nhiều yếu tố gọi là Duyên. Lý Nhân quả, hay nói đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả, chi phối toàn thể vũ trụ vạn loại, là nguyên lý tuyệt đối. Đức Phật không phải là người khai sinh ra đạo lý nầy, nhưng Ngài đã thấu hiểu nó đến tột cùng và trao truyền cho các môn đệ.

Đối với khoa học, Nhân quả là sự chuyển biến tự nhiên của nhân sinh và vũ trụ. Các nhà nghiên cứu đã áp dụng Nhân quả, phối hợp những Duyên thích ứng để có nhiều thành tựu đáng kể phục vụ đời sống con người. Ngay cả phát minh được xem như “đoạt quyền tạo hóa” là tạo ra một động vật hay một phôi người bằng phương pháp sinh sản vô tính, cũng phải theo tiến trình Nhân - Duyên - Quả. “Nhân” ở đây là nhiễm sắc thể của tế bào một sinh vật giống cái kết hợp với noãn bào của một sinh vật cái khác; “Duyên” là môi trường cấy, nhiệt độ thích hợp, trí tuệ của nhà bác học… Nhân và Duyên đầy đủ mới có kết quả là những con cừu, bê, heo và thai nhi, đã được báo cáo và cả tranh cãi gay gắt trong giới khoa học và đạo đức học trong những năm gần đây.

Chủ trương của đạo Phật có khác, không chỉ chú trọng đến sự hòa hợp giữa con người và môi trưòng sống, giữa cá nhân và tập thể, giữa nhân sinh và vũ trụ, mà còn áp dụng lý Nhân quả để nâng cao đời sống tinh thần, để suy tiến đạo đức. Nhà Phật thường đề cập đến nguyên nhân hơn là kết quả, đến bản chất hơn là hiện tượng. Giáo dục của đạo Phật là giáo dục ngay từ nguồn cội, từ trước lúc tội lỗi xảy ra, nên có tính cách phòng ngừa hơn là chữa trị. Những người con Phật có chánh kiến Nhân quả không làm điều gì tổn hại đến mình và người; và mỗi ngôi chùa là trường học dạy đạo lý làm người, dạy cách đối nhân xử thế trước khi dạy cách tu làm Phật.

Tổ Bá Trượng một hôm thuyết pháp xong, đại chúng giải tán hết, chỉ còn một ông già ở lại. Tổ hỏi thì ông thưa:

- Thời Đức Phật Ca Diếp, con là Tăng sĩ ở núi nầy. Do học trò hỏi “Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không? Con đáp “Bất đọa nhân quả” (không rơi vào nhân quả). Vì câu đáp ấy, con bị đọa làm thân chồn đến nay đã năm trăm kiếp. Cúi xin Hòa thượng từ bi dạy cho con một câu để con được hóa kiếp.

Tổ bảo:

- Ông cứ hỏi đi.

Ông già hỏi:

- Người tu hành có rơi vào nhân quả không?

Tổ đáp:

- Bất muội nhân quả (không lầm nhân quả).

Ngay đây ông già đại ngộ, làm lễ và thưa:

- Con đã thoát thân chồn, hiện con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấy theo lễ Tăng tống táng giúp con.

Tổ cùng đại chúng ra hang núi phía sau, quả nhiên thấy xác một con chồn, bèn làm lễ thiêu như một vị Tăng.

Ông già chỉ sai một chữ mà bị đọa làm chồn 500 kiếp. Người đại tu hành mở sáng mắt trí tuệ, thấy tột cùng và không lầm lẫn nhân quả chứ không thể tránh nhân quả. Do nghiệp nhân từ trước, các Ngài dù đã đạt đạo nhưng vẫn thọ quả báo. Có điều, tuy thọ quả nhưng các Ngài vẫn an nhiên tự tại, vì biết tự tánh của nghiệp chướng vốn là không. Thiền sư Huyền Giác viết:

Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không

Vị liễu ưng tu hoàn túc trái.

Khi đã liễu ngộ, rõ ràng nghiệp chướng xưa nay vốn không; nhưng nếu chưa liễu, thì mọi oan trái đã gây đều phải đền trả. Chúng ta không thể dùng tài biện luận để cãi chối, không thể dùng phương tiện khéo léo nào để trốn tránh nhân quả, như vẫn thường làm ở thế gian. Ngoài đời có luật pháp, có tòa án, nhưng nhiều khi xử lầm hoặc kết oan người vô tội; còn tòa án lương tâm và luật Nhân  quả - Nghiệp báo thì không hề bỏ sót một ai.

Nhà Phật có bài kệ nổi tiếng về nhân quả ba đời:

Dục tri tiền thế nhân

Kim sanh thọ giả thị.

Dục tri lai thế quả

Kim sanh tác giả thị.

Muốn biết nhân đời trước, phải nhìn sự lãnh thọ ở đời này. Hoàn cảnh chánh báo và y báo đời này tốt đẹp là do đời trước tạo nghiệp nhân thiện lành; nếu đời này ta gặp nhiều chuyện không như ý, đó là vì đời trước đã gây nhân xấu ác. Lại nữa, muốn biết đời sau cuộc sống mình thế nào, cứ nhìn sự tạo tác đời này sẽ rõ. Khổng tử nói “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định”, một miếng nước uống hay một miếng cơm ăn đều đã được định trước. Sự định đọat nầy không phải do Thượng Đế hay một đấng quyền năng nào, mà do nghiệp tạo ra từ thân - miệng - ý của chính mỗi người.

Trong thực tế, có nhiều người xấu ác nhưng vẫn sống hạnh phúc giàu sang, lại có người chuyên làm việc thiện mà vẫn khó khăn bất hạnh mọi bề. Đó là quả của việc làm kiếp này chưa trổ ra, còn đời sống hiện tại là do nhân duyên kiếp trước. Đức Phật dạy, quả báo có ba loại: Hiện báo là khi nhân gây ra, quả đến ngay trong hiện kiếp; Sanh báo là nhân gây trong kiếp này, quả đến kiếp sau mới trổ; Hậu báo là quả đến rất muộn sau nhiều kiếp. Hiểu tường tận điều này, chúng ta không chút nghi ngờ về tính bình đẳng và tuyệt đối của lý Nhân Quả. Chính mình là Thượng Đế tự vẽ ra chánh báo và y báo cho mình, chính mình phải chịu trách nhiệm về mọi tạo tác do mình gây ra, dù vô tình hay cố ý .

Một điều cần nhấn mạnh, sự tương tác giữa nhân và quả không phải đơn giản theo tinh thần “Nhân nào quả nấy”. Một nhân muốn trổ thành quả phải có sự tác động của nhiều yếu tố trung gian gọi là Duyên. Một hạt xoài (nhân) cần có nhiều duyên như đất, nước, ánh sáng mặt trời, công người trồng…, sau một thời gian mới thành cây xoài, kết quả. Trường hợp của con người lại càng phức tạp, không những tiến trình Nhân - Duyên - Quả chịu sự ảnh hưởng của Duyên, mà còn có thể thay đổi Nghiệp nhân để cho một kết quả hoàn toàn khác. Nhà Phật gọi đó là Sự chuyển nghiệp, cũng chính là ý nghĩa của sự tu hành.

Chúng ta đã biết, Nghiệp phát sinh từ thân, miệng và ý, trong đó tâm ý dẫn đầu. Ý suy nghĩ mới phát ra lời nói và hành động, nên ý là chủ tạo nghiệp. Vì tâm ý là chủ tạo nghiệp nhân, nên muốn chuyển đổi nghiệp ác thành hiền thiện, con người phải tu ngay tâm, sám hối ngay tại tâm mình. Trường hợp của mẹ Ngài Mục Kiền Liên được lý giải theo tinh thần này. Do tâm bỏn xẻn trong tiền kiếp, bà phải chịu quả báo làm thân ngạ quỷ, khổ sở đói khát, đến nổi bát cơm của con dâng lên cũng không có cơ hội được ăn. Nhờ chư Hiền Thánh Tăng chú nguyện, kết hợp lòng thành của Ngài Mục Kiền Liên cũng là một vị A-La-Hán, nên chuyển đổi được tâm bà từ xấu ác thành thiện lành. Tâm chuyển nên nghiệp nhân chuyển, đưa đến quả tốt, bà vãng sanh lên cõi Trời. Như thế, lý Nhân quả luôn luôn đúng trong mọi trường hợp, nhưng nhờ tu hành chuyển hóa tâm ý trở nên tốt đẹp, có thể thay đổi được kết quả xấu vốn phải thọ lãnh trong tương lai.

Tuy nhiên, vì sao ở đây nói Nhân sanh diệt đưa đến quả sanh diệt? Bởi vì thông thường, làm bất cứ việc gì chúng ta đều có ngã tướng. Khi làm là thấy có ta làm, có việc làm và có đối tượng của việc làm ấy. Chúng ta tu năm giới hay thập thiện là mong hưởng phước báo nhân thiên, hoặc làm người đầy đủ phước đức, hoặc sanh lên cõi Trời với mọi điều sung sướng. Do ý thức chấp ngã nên còn lẩn quẩn trong luân hồi, vì thế gọi là nhân và quả sanh diệt. Ngày xưa, các vị tu tiên cầu thần thông và sống lâu, vẫn có tâm bám chặt vào ngã tướng. Nhiều khi thần thông càng cao, cái ngã càng lớn nên không dứt được phiền não. Kinh Kim Cang nói: Dù bố thí bảy báu nhiều vô lượng trong suốt bao nhiêu kiếp, cũng không bằng trì bốn câu kệ trong kinh Kim Cang. Bố thí càng nhiều thì càng phải qua nhiều lần sanh tử để hưởng phước, còn trì 4 câu kệ là sống với bản tâm chân thật, đoạn dứt sanh tử. Lại nữa, trong dòng luân hồi, nhiều khi có quyền thế lại dễ hại người, tạo thêm điều ác, cứ thế mà lên xuống mãi trong ba cõi sáu đường.

Trong kinh Viên Giác, Ngài Văn Thù thưa hỏi Đức Phật dùng nhân ban đầu là gì để tu mà ngày nay thành Phật. Đức Phật trả lời, phải y nơi Tánh Viên Giác thanh tịnh, nghĩa là thể tánh chân thật bất sanh bất diệt làm nhân tu hành, mới đắc quả Phật thường trụ.

Vì sao thể tánh chân thật là bất sanh bất diệt? - Mọi sự vật trên thế gian hễ có hình ắt có hoại, có sanh ắt có diệt. Thông thường khi ta nhìn phải có đối tượng cho cái nhìn của ta (sắc); lúc nghe phải có đối tượng của sự nghe (tiếng). Tương tự cho các căn khác, khi hoạt động đều cần đối tượng là các trần cảnh bên ngoài, từ đó khởi lên ý thức phân biệt hay dở đẹp xấu… Những niệm phân biệt ấy nương theo hình tướng của trần cảnh, lúc sinh lúc diệt, lúc đến lúc đi, vì thế Đức Phật bảo, đó là cái biết theo duyên, cái biết lệ thuộc vào đối tượng. Ngược lại, khi tiếp xúc với trần cảnh nhưng không dính mắc chạy đuổi theo chúng, cũng không khởi niệm phân tích chia chẻ - kể cả niệm “ta đang biết”, thì lúc ấy, ta vẫn thấy nghe hay biết rõ ràng, Cái biết ấy không lệ thuộc vào đối tượng, cái biết không duyên nên không có hình tướng, không có sanh diệt, chẳng đến chẳng đi, không bao giờ vắng thiếu. Đó là cái biết chân thật hay bản tánh bất sanh, nhà Thiền gọi tên “Bản lai diện mục” - bộ mặt thật xưa nay. Nhận ra bản tánh ấy làm chánh nhân tu hành, chắc chắn nên quả Phật thường trụ.

Nhưng làm thế nào tìm được bản tánh?

Nhiều người nghe nói, nhà Thiền chủ trương “Kiến tánh thành Phật”, hoặc “chưa nhận ra bản tâm chân thật thì chưa bước vào cửa nhà Thiền”, nên rất mong muốn tìm thấy tánh. Tuy nhiên, ngay từ ý niệm “tìm kiếm”, chúng ta đã xa tánh nghìn trùng. Lại nữa, có người đọc lịch sử Đức Phật và Chư Tổ tu hành và thành đạo trong rừng núi, nên tưởng phải ở ẩn một mình nơi thâm sơn cùng cốc mới có thể ngộ đạo. Thật ra, bản tánh thanh tịnh hằng tri ấy chính là mình. Không phải tìm cầu bên ngoài, cũng không cần xa lánh thế gian. Lục Tổ Huệ Năng dạy:

Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác.

Lý thế mích Bồ - đề

Kháp như tầm thố giác.

Phật pháp ở ngay tại thế gian, không phải xa lánh thế gian mà giác ngộ. Nếu lìa bỏ thế gian tìm cầu Bồ - đề, thì chẳng khác nào đi tìm sừng thỏ. Ngay sóng đã là nước, ngay thân sinh diệt đã có bản tánh bất sanh, ngay dòng sông vô thường động chuyển đã có cái chân thường bất biến. Khi tâm ta hoàn toàn thanh tịnh, rỗng rang, bặt mọi vọng tưởng điên đảo phân biệt mà vẫn rõ ràng thường biết, ta mới hay Đạo tại nhãn tiền, hoa sen nở trong lò lửa mà sắc vẫn thường tươi nhuận.

Nhận ra bản tâm thanh tịnh hằng hữu, ta đã có chánh nhân tu hành. Đây mới là bước đầu khởi tu, cần phải mất bao nhiêu công phu bào mòn tập khí, phải miên mật từng phút giây hằng sống với bản tâm và thể nhập trọn vẹn vào đó. Đường tu rất dài và rất gian nan chứ không dễ dàng như một số người lầm tưởng. Hiểu là một chuyện, thực hành và thể nhập tự tánh lại là chuyện khác, xa nhau như trời vực. Nhưng khi đã nhận ra tự tánh tức gieo nhân vô sanh, ắt có ngày ta sẽ viên thành Phật quả.

Đức Phật dạy, con người có bốn hạng:

1- Từ tối đến tối: Người sanh trong gia đình nghèo khổ, không có văn hóa đạo đức, kiếp này lại không biết tu hành, mãi tạo nghiệp bất thiện. Kiếp sau chắc chắn bị đọa lạc.

2- Từ tối đến sáng: Người có hoàn cảnh xấu về nhân thân và gia đình, nhưng kiếp này có duyên gặp chánh pháp, tinh tấn tu hành, tịnh tu ba nghiệp. Kiếp sau tái sanh vào các cõi lành, tiếp tục đi trên con đường đạo, chuyển được nghiệp xấu ác thành hiền thiện.

3- Từ sáng đến tối: Do nghiệp lành đời trước, kiếp này được sanh vào gia đình giàu sang, có văn hóa đạo đức. Nhưng người nầy không biết tu hành, vô tình tạo nhiều nghiệp bất thiện, kiếp sau sẽ bị đọa vào các đường dữ.

4- Từ sáng đến sáng: Đây là trường hợp tối ưu. Người có duyên nhiều đời với chánh pháp, kiếp trước gieo nhân lành nên trong kiếp này, hoàn cảnh chánh báo và y báo đều tốt đẹp. Người ấy lại tinh tấn tu hành, vun bồi phước đức. Đời sau chắc chắn sanh vào các cõi lành, tiếp tục đi theo chánh pháp, ngày càng thăng tiến đời sống tâm linh.

Như vậy, hoàn cảnh sống của ta là do ta tạo ra, không ai làm thay cho mình, và mình cũng không thể tu thay cho người khác. Vì tâm chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác, và nghiệp cũng theo tâm mà thay đổi nên chúng ta cần y cứ nơi tâm mà sám hối và tu hành. Nghèo không bi quan oán trời trách người, giàu không cống cao ngã mạn. Chúng ta luôn tránh nghĩ điều xằng bậy xấu ác mà suy tiến những ý tưỏng thiện lành. Từ suy nghĩ lành dẫn đến lời nói và việc làm tốt đẹp, chúng ta dần dần chuyển hóa nhân cách mình theo chiều hướng thượng. Cá nhân có đạo đức ảnh hưởng tốt đến gia đình và xã hội được êm ấm an vui. Đây là bước đầu tiên áp dụng lý Nhân quả vào đời sống.

Tiến thêm bước nữa, người hiểu kỹ lý Nhân quả để công phu đoạn trừ phiền não. Vì vô minh chấp thân tâm này là mình nên sinh lòng tham, muốn gom góp mọi thứ vật chất và tinh thần cho bản thân. Ta thương yêu người khác cũng vì mình, nên tình thương luôn có tính chiếm hữu, đây là một biến chất của lòng tham. Chiếm được, lòng tham càng tăng trưởng; chiếm không được, sanh tâm sân hận. Chính ba độc Tham-Sân-Si là ngục tù giam hãm con người, không có ngày thoát khỏi. Người hiểu lý Nhân quả biết tránh những điều bất lợi cho người, không khởi lòng tham cầu ngũ dục mà tranh đoạt của người khác, biết tỉnh giác nhận diện những ý niệm sân hận mới manh nha để hóa giải kịp thời. Khi gặp nghịch cảnh chướng duyên, chúng ta không buồn khổ vì biết là hậu quả của nhân bất thiện đời trước, vững bước vượt qua trở ngại và càng tinh tấn tu hành để chuyển nghiệp. Lúc được hoàn cảnh thuận lợi, mọi người quý kính, chúng ta biết mình đã tạo nhân tốt, càng cố gắng vun bồi phước đức, gây nhiều nghiệp lành. Nhờ vậy, cuộc đời ta ngày càng đẹp đẽ hạnh phúc, không mong cầu mà phước báo vẫn đến. Nhưng hiểu lý Nhân quả cho thấu đáo, chúng ta thấy nhân quả ngay trong một niệm. Vừa động niệm là đã tạo nghiệp, từ đó mầm mống của quả có cơ hội phát sinh. Dù nghiệp thiện hay ác, con người vẫn còn chịu trầm luân trong sanh tử.

Toàn thể vũ trụ luôn vận hành không dừng nghỉ theo tiến trình nhân quả. Bản thân mỗi người cũng biến đổi trong từng sát-na. Không một hoạt động vật lý, sinh lý hay tâm lý nào không chịu sự chi phối âm thầm mà chặt chẽ của lý Nhân quả. Bằng trí tuệ siêu xuất, Đức Phật đã triển khai lý Nhân quả thật tường tận từ cạn đến sâu để dạy chúng ta hướng về đời sống đạo đức, thăng tiến tâm linh, bỏ ác về thiện và cuối cùng siêu vượt cả thiện ác.

Nền văn minh thế giới ngày càng tiến triển, con người càng được thụ hưởng những thành tựu kỳ diệu của khoa học. Tuy vậy, giá trị tinh thần không nâng cao theo tỷ lệ thuận với sự sung mãn về vật chất. Con người đang phải đối mặt với những vấn nạn đạo đức, lối sống và cách cư xử với nhau; vì càng quay cuồng theo vật chất, phiền não tham sân si càng lẫy lừng. “Khoa học không có lương tâm chỉ là sự hũy hoại linh hồn”, nhân loại đang cần - và phải cần có nền văn minh tâm linh, từ đó mới có thể tạo dựng hạnh phúc đích thực trên trái đất này.

Lý Nhân quả thật sự không phải đơn giản và chỉ cần cho người sơ cơ, mà tất cả chúng ta đều phải hiểu tường tận để có chánh kiến và lòng tin sâu sắc về đạo lý nầy. Có Chánh kiến nhân quả, chúng ta luôn thận trọng trong từng ý nghĩ, lời nói và việc làm để không tổn hại cho mình và cho người; chúng ta có đời sống xả kỷ, hòa điệu với vũ trụ vạn loại. Có thể nói, điều kiện đầu tiên của người tu là phải tin sâu nhân quả; nếu không, buông lung phóng dật mà cho là sự tự tại phóng khoáng của người đạt đạo, thì không những công phu không kết quả mà khó tránh đọa tam đồ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9550)
Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.
10/04/2013(Xem: 7736)
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
10/04/2013(Xem: 7700)
Với cái nhìn tuệ giác, Đức Phật quán chiếu trong vòng nghiệp duyên của chúng sanh, Ngài đã thấy được không có một chúng sanh nào tồn tại độc lập, mà ngược lại lưu chuyển trong vòng tương duyên với nhau. Tất cả vì vô minh, mà chúng sanh không thấy được Ngài. Trong kinh Báo Phụ Mẫu Ân diễn tả, có lần Đức Phật đi trên đường và thấy bên lề đường một đống xương khô, Ngài đã lễ lạy đống xương ấy.
10/04/2013(Xem: 7431)
Là Phật tử, mỗi người chúng ta luôn mang tâm nguyện tiến tu trên con đường giải thoát và giác ngộ, việc trước nhất thể hiện ý nghĩa đó là cần phải học Phật. Có học Phật cặn kẽ, rõ ràng và căn bản, chúng ta mới có cơ hội để tiếp nhận ánh sáng của đức Phật tỏa chiếu muôn nơi mà không e sợ đi lạc đường, lầm lối, dẫn vào tà đạo, và mới có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho chính mình và cho tha nhân.
10/04/2013(Xem: 6681)
Truyền thống giáo dục của Phật giáo có ba hình thức căn bản, gồm: khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Tùy theo căn cơ của người đệ tử mà các bậc thầy có thể sử dụng nhiều phương thức hướng dẫn khác nhau, nhưng thân giáo vẫn là quan trọng hơn cả cho thầy lẫn trò. Trở về khoảng thời gian Đức Phật còn tại thế, sự thuyết giảng của Ngài chưa bao giờ có hình thức giảng dạy như hình thức viết lách như chúng ta hiện nay.
10/04/2013(Xem: 7824)
Ánh sáng giác ngộ được hiểu như là một sự dập tắt vô minh, vọng tưởng điên đảo trong tâm trí của con người, là sự biết rõ sự thật về nguyên nhân và kết quả, nhận thức và hành động, con người và môi trường xung quanh. Giác ngộ là sự hiểu biết chân chánh, thấy rõ bản chất như thật của sự vật, vạn pháp. Giác ngộ còn có nghĩa là đoạn tận khổ đau, dứt trừ những tập khí phiền não bao trùm đời sống của con người trong nhiều kiếp sống, là sự thoát ly những con đường dẫn chúng sanh lên xuống trong sáu nẻo luân hồi trong vô minh bừng cháy.
10/04/2013(Xem: 7658)
Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo. Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như.
10/04/2013(Xem: 6667)
Chúng ta thấy rất rõ, từ cái nhìn của một người dù không phải là Phật tử , khi họ thấy chiếc y màu vàng đắp trên người của các vị Tăng Phật giáo, họ vẫn dễ dàng nhận biết được đó là tu sỹ Phật giáo, một cái nhìn quán tính, đã ăn sâu trong ký ức của mọi người. Đó là hình ảnh hiện thân của Đức Phật, và ngày này vẫn được tiếp nối trong Phật giáo. Ít nhất, hình bóng này, người bình thường cũng dễ dàng nhận biết và phân biệt được. Như Phật tử chúng ta có dịp thấy chư Tăng Nam tông ở các nước theo truyền thống Nam tông như Thái lan, Tích Lan, Miến điện, Lào và Campuchia v.v... và một bộ phận nhỏ ở Việt nam.
10/04/2013(Xem: 7390)
Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẵn là kỳ tài ở phương Tây.
10/04/2013(Xem: 10216)
Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: "Tín là gốc của Đạo, là mẹ đẻ của mọi thứ công đức, nuôi lớn hết thảy gốc của Thiện". Đối với tôn giáo nói chung, đức tin phần lớn là bước đầu tiên để con người phát sinh lòng mến yêu đạo. Trong đạo Phật, tín là một trong những điều kiện căn bản để thành tựu các công đức lành (Tín- Hạnh- nguyện). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói: Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta.