Sám Nhứt Tâm (Một lòng quy kính, Phật A Di Đà, Thế giới Cực Lạc, Nguyện lấy hào quang, Trong sạch soi cho, Lấy thệ Từ bi, Mà nhiếp thọ cho, Con nay chánh niệm)

14/04/202519:04(Xem: 8489)
Sám Nhứt Tâm (Một lòng quy kính, Phật A Di Đà, Thế giới Cực Lạc, Nguyện lấy hào quang, Trong sạch soi cho, Lấy thệ Từ bi, Mà nhiếp thọ cho, Con nay chánh niệm)


phat a di da

SÁM NHỨT TÂM



Nhứt tâm quy mạng, 
Cực Lạc thế giới, 
A Di Đà Phật, 
Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngã, 
Từ thệ nghiếp ngã. 
Ngã kim chánh niệm, 
Xưng Như lai danh, 
Vị Bồ-đề đạo, 
Cầu sanh Tịnh độ. 
Phật tích bổn thệ: 
Nhược hữu chúng sinh, 
Dục sanh ngã quốc, 
Chí tâm tín nhạo, 
Nãi chí thập niệm, 
Nhược bất sanh giả, 
Bất thủ chánh giác. 
Dĩ thử niệm Phật nhơn duyên, 
Đắc nhập Như lai 
Đại thệ hải trung, 
Thừa Phật từ lực, 
Chúng tội tiêu diệt, 
Thiện căn tăng trưởng, 
Nhược lâm dục mạng chung, 
Tự tri thời chí, 
Thân vô bịnh khổ, 
Tâm bất tham luyến, 
Ý bất điên đảo, 
Như nhập thiền định. 
Phật cập Thánh chúng, 
Thủ chấp kim đài, 
Lai nghinh tiếp ngã, 
Ư nhứt niệm khoảnh, 
Sanh Cực lạc quốc, 
Hoa khai kiến Phật, 
Tức văn Phật thừa, 
Đốn khai Phật huệ, 
Quảng độ chúng sinh, 
Mãn Bồ-đề nguyện, 
Quảng độ chúng sinh, 
Mãn Bồ-đề nguyện. 


Dịch nghĩa: 


Một lòng quy kính,
Phật A Di Đà,
Thế giới Cực Lạc,
Nguyện lấy hào quang,
Trong sạch soi cho,
Lấy thệ Từ bi,
Mà nhiếp thọ cho,
Con nay chánh niệm,
Niệm hiệu Như Lai,
Vì đạo Bồ đề,
Cầu sinh Tịnh độ.
Phật xưa có thệ :
“Nếu có chúng sinh
Muốn sinh nước ta,
Hết lòng tín nguyện,
Cho đến mười niệm,
Nếu chẳng đặng sinh
Chẳng thành Chánh Giác”.
Do vì nhân duyên,
Niệm hiệu Phật nầy,
Được vào trong bể,
Đại thệ Như Lai,
Nhờ sức Từ bi,
Các tội tiêu diệt,
Căn lành tăng trưởng.
Khi mạng gần chung,
Biết trước giờ chết,
Thân không bệnh khổ,
Tâm không tham luyến,
Ý không điên đảo,
Như vào thiền định.
Phật và Thánh chúng,
Tay nâng kim đài,
Cùng đến tiếp dẫn,
Trong khoảng một niệm,
Sinh về Cực Lạc,
Sen nở thấy Phật,
Liền nghe Phật thừa,
Chóng mở Phật tuệ,
Khắp độ chúng sinh,
Trọn Bồ đề nguyện.
Chúng sinh không số lượng,
Thệ nguyện đều độ khắp.
Phiền não không cùng tận,
Thệ nguyện đều dứt sạch.
Pháp môn không kể xiết,
Thệ nguyện đều tu học.
Phật đạo không gì hơn,
Thệ nguyện được viên thành.
Nguyện thường nhớ Phật niệm Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô A Di Đà Phật

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2016(Xem: 10133)
Nếp Sống Tỉnh Thức của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
02/05/2016(Xem: 10064)
Dòng sông đen ngòm chảy quanh thành phố; lặng lờ trôi bên những lầu đài và những căn nhà tồi tàn xiêu vẹo; luồn dưới những cây cầu nhỏ bắc qua hai bờ rác rến. Ai người thức/ngủ bên sông. Đêm ngày lao xao tiếng nói, giọng cười, và đôi khi là tiếng gầm thét của bão giông, sấm chớp. Lang thang đầu ghềnh, cuối bãi. Vời vợi mắt nhìn trời xanh. Ngồi một chỗ lắng nghe sông dài chuyển động. Quyện theo gió vẫn là hương thơm quen thuộc từ đồng nội kéo về. Ôi, nhớ nụ cười của Cha.
08/04/2016(Xem: 27061)
Nguyệt San Chánh Pháp, bộ mới, số 53, tháng 04 năm 2016, Những ngọn gió cuối mùa (hay đầu mùa?) đi ngang vườn cây vừa đơm lá mới. Những cánh hoa rơi còn vương vãi nơi này nơi kia, dưới những gốc cây lớn, nhỏ. Thỉnh thoảng, bụi và rác tung mù mịt theo gió. Gió qua rồi, rác nằm im, mà bụi hãy còn lơ lửng trong không. Bầu trời cuồn cuộn mây xám như thể chuẩn bị cho một cơn mưa lớn. Nhưng không. Chỉ có những hạt nước, nhỏ như bụi, lất phất rơi xuống thềm rêu xanh.
24/03/2016(Xem: 7487)
Đôi Lời Phật Dạy_Đỗ Đình Đồng tuyển dịch
01/02/2016(Xem: 31559)
Nguyệt San Chánh Pháp, bộ mới, số 51 , tháng 2 năm 2016, • THƯ TÒA SOẠN, trang 2 • NGÀY XUÂN - LỄ PHẬT ĐẦU NĂM (Nguyên Siêu), trang 3 • HUYỀN NGHI, ÂM HƯỞNG, HOÀI CẢM (thơ Phù Du), trang 4 • Ý NIỆM VỀ MÙA XUÂN DI LẶC (Tuệ Như), trang 5 • TRÀ KHUYA & TRĂNG (thơ Mặc Phương Tử), trang 6 • ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN HÁI LỘC (Pháp Hỷ), trang 7 • ĐẦU XUÂN KÍNH NGUYỆN (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 8 • MÙA XUÂN HOA NGHIÊM (Nguyễn Thế Đăng), trang 9 • BẢN HOÀI CỦA TU SĨ (Ns. Thích Nữ Trí Hải), trang 11 • BIỂN VÀ THƠ (thơ Minh Lương), trang 12 • SÁU PHÁP MÔN MẦU NHIỆM (Thích Thái Hòa), trang 13
06/01/2016(Xem: 27437)
Có thể nói Phật giáo Việt Nam trong tình hình phát triển hiện nay tuyệt đại bộ phận do sự tác động mạnh mẽ của bảy dòng thiền chính, trong đó bốn dòng trực tiếp kế thừa các dòng thiền từ Trung Quốc và bốn dòng được phát sinh tại đất nước ta. Bốn dòng từ Trung Quốc, nếu dựa vào thứ tự truyền nhập vào Việt Nam là các dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế và dòng Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại thì đều xuất phát tại Việt Nam hoặc do kết hợp một dòng từ Trung Quốc như Bút Tháp với một dòng tồn tại lâu đời tại Việt Nam như Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai
23/07/2015(Xem: 19902)
Kinh Pháp Hoa. Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập. Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Định
23/07/2015(Xem: 37535)
Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng (trọn bộ 8 quyển)
06/07/2015(Xem: 23244)
Nếu bản Việt ngữ của pho sách “Đạo Ca Milarepa” đến được tay bạn đọc thì phải nói đây chính là đến từ tình yêu thương và sự gia trì vĩ đại của đức Milarepa cùng chư Thầy Tổ.