Tịnh Tu Tiệp Yếu

26/01/202520:31(Xem: 2810)
Tịnh Tu Tiệp Yếu

Phật Lịch: 2569 - Tây Lịch: 2025
Việt Lịch: 4904; Nông Lịch: Ất Tỵ

Tinh-tu-tiep-yeu---2025-01

Hạ Liên Cư Cư sĩ trước
Cư sĩ Hạ Liên Cư trước tác
Việt dịch: Thích Thiện Trang

Tu Viện Quảng Đức
Ấn Tống 2025

LỜI NÓI ĐẦU


   Một pháp Tịnh tông dễ hành nhưng khó tin, [nếu] chẳng tìm tòi tra cứu biển giáo pháp, [thì] chẳng thấy được bến bờ. Tuy rằng Kinh Hoa Nghiêm dùng Mười đại Nguyện vương để quy về [Cực Lạc], ngài Thiên Thân dùng Ngũ Niệm pháp làm cửa [vãng sanh Cực Lạc] nhưng người học cạn trong thời Mạt pháp, chưa dễ nhanh chóng vào được. Chắc chắn phải kĩ càng đọc Đại Kinh (Kinh Vô Lượng Thọ) mới có thể đại khái sáng tỏ cương yếu. Song với người tu Tịnh nghiệp thời nay, thường đại khái chỉ trì Tiểu Bổn (Kinh A Mi Đà), đối với Tiểu Bổn, chỉ trì bản dịch thời Tần, còn người có thể trì bản dịch thời Đường mà lại tụng Đại Kinh (Kinh Vô Lượng Thọ) thì cực kỳ không dễ thấy. Điều này bởi vì người hô hào tự nhận tu tập Tịnh Độ thì đông, nhưng người đầy đủ tin sâu nguyện thiết thì ít. Tín nguyện chưa sâu, mà muốn được thọ dụng chân thật, thì không phải cũng là [rất] khó ư? Vào năm Canh Thìn (1940), [tôi] phát nguyện trong lúc bị bệnh, kính cẩn hội tập kinh văn, phù hợp với ý của chư tổ, làm thành một bản thời khoá đơn giản, giúp cho người sơ cơ, rút gọn cảm ứng tự tha (mình và chư Phật Bồ tát …) với trong khoảng ba nghiệp (thân-khẩu-ý), bao gồm tán thán quán tưởng – phát nguyện – hồi hướng với trong khoảng một lễ (một lạy), [nhờ thế mà] Vọng tưởng không dễ gì khởi chen vào được, nên Chánh niệm tự nhiên được hiện tiền, cần thời gian thì ít, nhưng thu được hiệu quả rất nhiều. Vì thế từ khi ấn hành đến nay, đã qua bốn lần xuất bản, [người] tiếp nhận hành trì đạt được lợi ích, trước sau [ai nấy] cùng mong mỏi, ít tốn thời gian đỡ hao sức lực, người thực hành [đều] khen là tiện lợi. Nếu như có thể theo văn mà vận dụng tâm, lâu quen [trở thành] thuần thục, thì đối với lý của Tánh tu bất nhị, cảnh trí nhất như, không cần đợi đến nghiên cứu tìm tòi, [cũng] tự sanh tín giải (lòng tin hiểu). Lại thêm đọc học Đại Kinh (Kinh Vô Lượng Thọ), thì đối với Pháp môn Tịnh Độ, [sẽ] giống như thuyền đi thuận theo dòng nước, căng

buồm thẳng đến bến bờ. Nhưng mỗi điều cũng liên quan đến Kinh văn Pháp ngữ, tuyệt đối chớ có tuỳ tiện nói ra, [để mà] trở thành khinh mạn.
Cốt phải thành kính tôn trọng, như ở bên cạnh quang minh từ bi của chư Phật, thì mới hợp với ý chỉ Tứ tu Ngũ niệm của Bồ-tát Thiên Thân, chính mình có thể đạt được lợi ích âm thầm ở trong sự tự thay đổi sâu kín. Nếu mà không thích sự giản lược [của bản này], thì [cũng] có bản Đại Kinh Ngũ Niệm Nghi, sắp ra bản thảo, để thỉnh [ý kiến] đóng góp các nơi. [Dự định sẽ] phổ biến đúng lúc trùng hợp với thời gian viên mãn của Pháp hội Cầu Nguyện. [Tôi] miễn cưỡng thuận theo sự thỉnh mời của [chư vị] thiện tín đồng tu, mà lược viết vài lời [này], dùng để ghi lại duyên khởi như thế.
     Tịnh tông Học nhân Vận Thành Hạ Liên Cư ghi ở căn phòng của Hoan Hỉ Niệm Phật Trai tại Yên Kinh.

pdf-download
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2015(Xem: 54146)
Ước vọng của con người luôn là những gì tốt đẹp, sung túc và dài lâu, cần phải đạt được trong một tương lai gần nhất. Nói cách thực tế theo quán tính của người bình phàm, thì đó là hạnh phúc (phước), thịnh vượng (lộc), sống lâu (thọ). Với các chính trị gia, và những nhà đấu tranh cho dân tộc, cho đất nước, thì đó là tự do, dân chủ, nhân quyền. Với đạo gia thì đó là giải thoát, giác ngộ, và niết-bàn.
07/01/2015(Xem: 20070)
Để trả lời nghi vấn của một số độc gỉa TVHS về một bức tranh đen trắng vẽ Đức Phật Thích Ca khi Ngài còn tại thế (khoảng năm 41 tuổi) do một đệ tử của Ngài là Phú Lâu Na (Purna) vẽ, chúng tôi đã liên lạc với tác giả quyển sách Mùi Hương Trầm , GSTS. Nguyễn Tường Bách, người đã đề cập đến bức tranh vẽ này trong quyển sách của ông. Tác gỉa đã gửi cho chúng tôi bài đề ngày 16-1-2003 trả lời ông Vương Như Dương Chuyết Lão, người cũng có thắc mắc tương tự.
02/12/2014(Xem: 28884)
Bản dịch tiếng Việt Ba Trụ Thiền do chúng tôi thực hiện lần đầu tiên vào năm 1985 tại Sài gòn, Việt nam, và được nhà xuất bản Thanh Văn ấn hành lần đầu tiên vào năm 1991 tại California, Hoa kỳ đã được nhiều độc giả tiếng Việt hâm mộ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả quí độc giả và hành giả tu tập thiền nhiệt tình, và nhà xuất bản Thanh Văn.
01/12/2014(Xem: 19259)
“Milarepa, Con Người Siêu Việt” là bản dịch tiếng Việt do chúng tôi thực hiện vào năm 1970 và được nhà xuất bản Nguồn Sáng ấn hành tại Sài gòn vào năm 1971
24/11/2014(Xem: 20892)
Tập sách nhỏ “Du-già Tây Tạng, Giáo Lý và Tu Tập” này được dịch từ bản văn tiếng Anh có nhan đề là “Teachings of Tibetan Yoga” do Giáo sư Garma C. C. Chang – giảng sư của Tu viện Kong Ka ở miền Đông Tây Tạng khoảng trước năm 1950 – biên dịch từ Hoa ngữ, do nhà xuất bản Carol Publishing Group ấn hành năm 1993 tại New York, Hoa Kỳ.
18/08/2014(Xem: 32603)
Tập Tổng quan kinh Đại Bát Niết-bàn này được chúng tôi biên soạn như một phần trong công trình dịch thuật và chú giải kinh Đại Bát Niết-bàn và đã được in chung với bảng thuật ngữ tra cứu thành một Phụ lục đính kèm theo toàn bộ kinh, xuất bản trong năm 2009.
18/08/2014(Xem: 31000)
Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ, đức Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn cây Am-la với chúng đại tỳ-kheo là tám ngàn người, Bồ Tát là ba mươi hai ngàn vị mà ai ai cũng đều biết đến, đều đã thành tựu về đại trí và bổn hạnh. Oai thần mà chư Phật đã gầy dựng được, chư Bồ Tát ấy nương vào đó mà hộ vệ thành trì đạo pháp. Các ngài thọ lãnh giữ gìn Chánh pháp, có thể thuyết pháp hùng hồn như tiếng sư tử rống, danh tiếng các ngài bay khắp mười phương. Chẳng đợi sự thỉnh cầu giúp đỡ mà các ngài tự mang sự an ổn đến cho mọi người. Các ngài tiếp nối làm hưng thạnh Tam bảo, khiến cho lưu truyền chẳng dứt.
18/08/2014(Xem: 32822)
Tôi nghe như thế này: Có một lúc đức Phật tại thành Vương Xá, núi Kỳ-xà-quật, cùng với sáu mươi hai ngàn vị đại tỳ-kheo. Các vị đều là những bậc A-la-hán đã dứt sạch lậu hoặc, không còn sinh khởi các phiền não, mọi việc đều được tự tại, tâm được giải thoát, trí huệ được giải thoát, như các bậc đại long tượng khéo điều phục. Các ngài đã làm xong mọi việc cần làm, buông bỏ được gánh nặng, tự thân đã được sự lợi ích, dứt hết mọi chấp hữu, đạt trí huệ chân chánh nên tâm được tự tại. Hết thảy các ngài đều đã được giải thoát, chỉ trừ ngài A-nan. Trong pháp hội có bốn trăm bốn mươi vạn Bồ Tát, đứng đầu là Bồ Tát Di-lặc. Các vị đều đã đạt được các pháp nhẫn nhục, thiền định, đà-la-ni. Các ngài hiểu sâu ý nghĩa các pháp đều là không và hoàn toàn không có tướng nhất định. Các vị đại sĩ như thế đều là những bậc không còn thối chuyển trên đường tu tập.
18/08/2014(Xem: 24594)
Sách Liên Tông Bảo Giám nói rằng: “Tâm thể chính là cõi Cực Lạc trải khắp mười phương. Tự tánh là đức Di-đà tròn đầy trí giác. Mầu nhiệm ứng theo thanh sắc nơi ngoại cảnh, tỏa sáng nơi tự tâm. Bởi vậy, bỏ mê vọng liền về chân thật, thẳng lìa trần ai tức là giác ngộ.” “Thuở trước ngài Pháp Tạng phát lời nguyện lớn, khai mở con đường nhiệm mầu sang Cực Lạc. Cho nên đức Thế Tôn mới chỉ về phương Tây mà dạy cho bà Vi-đề-hy biết rõ cõi diệu huyền. Khi ấy, mười phương chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài mà xưng tán. Nên báo trước rằng khi các kinh khác đều đã mất, sẽ chỉ riêng lưu lại bộ kinh A-di-đà.
18/08/2014(Xem: 26378)
Cuốn sách này được biên soạn chủ yếu dựa vào một cuốn sách bằng tiếng Tây Tạng có nhan đề là Bardo Thődol, trước đây được một vị Lạt-ma Tây Tạng là Kazi Dawa Samdup dịch sang tiếng Anh, nhan đề là The Tibetian Book of the Dead, với lời bình giải của Hòa thượng Chőgyam Trungpa. Sau đó đã có thêm bản tiếng Pháp của bà Marguerite La Fuente, dịch lại từ bản tiếng Anh. Chúng tôi đã sử dụng phần lớn bản dịch tiếng Việt của dịch giả Nguyên Châu, cũng được dịch từ bản tiếng Anh.