42. Thiền Sư Bảo Triệt Ma Cốc

12/10/202119:18(Xem: 45489)
42. Thiền Sư Bảo Triệt Ma Cốc

191_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Bao Triet




Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học bài thứ 191 trong thời gian cách ly đại dịch Covid-19 về Thiền Sư Ma Cốc Bảo Triệt.
Ngài thuộc đời thứ ba sau Lục Tổ Huệ Năng, là đệ tử đắc pháp của Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất, và đặc biệt ngày sanh và ngày viên tịch không được biết.

Chúng con chỉ biết giai đoạn Ngài đến học pháp và hầu cạnh Mã Tổ. Một hôm đi ngang qua hồ nước, Ngài Bảo Triệt hỏi Sư phụ Mã Tổ :”thế nào là Đại Niết Bàn”

Mã Tổ nói :”gấp”
Ngài Bảo Triệt thưa hỏi :”gấp là gì”.
Mã Tổ chỉ xuống hồ nước, ngài Bảo Triệt thoát nhiên đại ngộ và sụp lạy đảnh lễ Mã Tổ.

Sư phụ giải thích nước luôn động vì có sóng, nhưng tánh thấy của ngài Bảo Triệt thì tĩnh lặng, ngài không chạy theo duyên pháp động của nước, tức là không bị ngoại cảnh chi phối, tâm ngài vẫn tịch nhiên dù cho Sư phụ bảo nhìn xuống hồ nước, ngay đó ngài đã liễu ngộ.

Sư Phụ giải thích thêm về ý nghĩa "Đại Niết Bàn". Quý sư Nam Tông phát âm là Níp-Bàn (Nibbana), gần giống âm của nguyên ngữ Pali, trong khi Phật giáo Bắc Tông đọc là Niết-Bàn, phiên âm nguyên ngữ Sanskrit (Nirvana).

Nghĩa đen của Niết bàn là:  Nir: ra khỏi, xa lìa, ly khai, vana: rừng rậm, dơ bẫn, con đường vòng vo... Niết bàn có nghĩa là hành giả đã ly khai , ra khỏi rừng rậm của phiền não, vô minh, tham ái; chấm dứt con đường vòng vo của luân hồi sanh tử khổ đau.

Sư phụ giải thích chi tiết về ý nghĩa Niết bàn, có 4:
 1/Hữu-dư Niết-bàn: là Niết-bàn của bậc Thánh Alahan đã diệt tận được tất cả mọi tham-ái, mọi phiền-não, nhưng thân ngũ-uẩn vẫn còn tồn tại cho đến khi hết tuổi thọ.


Kính mời xem tiếp




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 7956)
Thế giới thi ca tư tưởng Bùi Giáng (PDF)
29/03/2013(Xem: 17038)
Cuộc di tản bi thương ngày nào, đối với đại đa số chúng ta, nhữngngười trong cuộc, không thiếu những người vẫn coi như mới, đêmngủ vẫn kéo theo những hình ảnh hãi hùng, kinh khiếp, tiếp nối bằng những kỷ niệm của những ngày bỡ ngỡ trên đất tạm dung
29/03/2013(Xem: 13198)
Mưa nguồn là tập thơ đầu tay, cũng là tập thơ nổi tiếng nhất của Bùi Giáng (trung niên thi sĩ)[1]. Tập thơ này in lần đầu năm 1963 tại nhà in Sơ Khai (Sài Gòn). Cho đến nay đã tái bản lại vài lần, riêng trong lần tái bản năm 1994, tác giả có sửa chữa những lỗi ấn loát. Theo như tác giả ghi ở trang 3, thì "Mưa nguồn" là để "tặng ba người con gái chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu". Tập thơ không có bài tựa, tác giả dẫn dắt người đọc vào bằng những câu thơ lục bát: Xin chào nhau giữa con đường Mùa xuân phía trước miên trường phía sau Phần tác phẩm gồm có 139 bài, sáng tác từ thập niên 1950 tới năm 1963, bằng các thể loại: Thơ 8 chữ (nhiều nhất), thơ lục bát, thơ thất ngôn, thơ tự do:
29/03/2013(Xem: 8327)
Chuyện nàng Điểm Bích trong “Tổ gia thực lục” - một trứng tu hú trong tổ chim sâu
29/03/2013(Xem: 9903)
1000 năm Thăng Long nhìn lại bài thơ « Vịnh nga » - Một đường hướng ngoại giao trong thời kỳ đầu tự chủ của nước ta