CÒN HƠN ĐẸP NGƯỜI
(phần 1)
Sau nhiều ngày nắng hạn dai dẳng, những cơn mưa đầu mùa đã đổ xuống. Sáng nay, ra vườn sớm, nhìn cảnh cây cối quanh vườn, bà Biện thấy lòng có cảm giác lạ lắm. Dưới mắt bà, cây cỏ đượm màu sắc xanh tươi, trông sáng hẳn lên. Dường như chúng đang hớn hở mừng vui vì từ nay sẽ luôn có những ngày mùa thu với những cơn mưa và khí trời mát dịu. Lòng bà cũng lâng lâng sung sướng khi nhìn những luống cà, những hàng ớt chớm trổ bông và giàn mướp, giàn bí đao đang nở nụ.
Bỗng bà nghe trước cửa nhà có tiếng người lao xao. Bà ngạc nhiên vì từ trước đến nay, có ai đến nhà bà sớm vậy đâu. Bà vội vàng chạy vào mở cửa. Thì ra, đó là vợ chồng chú Vàng và cháu bé gái ăn mặc tươm tất khác hơn mọi ngày, đang đứng nhìn bà với dáng vẻ rất kính cẩn. Không nói ra nhưng bà đoán, có lẽ, có việc gì quan trọng lắm đây.
Chú thím Vàng đợi bà mời ngồi vào bàn xong mới thưa chuyện. Chú trình bày vì lý do ở thành phố này làm ăn cật lực, vẫn không đủ sống nên quyết định vào Sài Gòn thuê xe hủ tiếu gõ đi bán, cũng dễ dàng kiếm sống qua ngày. Do chưa có nơi ăn, chốn ở ổn định nên cô chú muốn gửi bé Quyến nhờ bà giữ hộ trong một năm. Sau đó, chú sẽ về đón. Rồi chú tiếp, vợ chồng chú làm ăn trong bao nhiêu năm, không dành dụm được gì nên phải chọn trong nhà, đồ gì tốt đem bán, vét hết chỉ đủ gửi tiền ăn cho cháu Quyến và gửi một ít tiền mọn nhờ bà giữ cháu giùm. Bà Biện nghe qua, mừng lắm. Bà mừng vì từ nay trong nhà sẽ có thêm người để bà đỡ buồn. Chứ bao năm qua, bà sống trong quạnh quẽ, cô đơn.
Thấy bà Biện im lặng chẳng nói gì, vợ chồng chú Vàng có vẻ rất lo. Vừa lúc ấy, bà cầm cả gói tiền và nói:
-Cô chú chỉ cần đưa tiền ăn của cháu thôi. Tiền công tôi không lấy. Cô chú giữ mà chi tiêu trong những ngày đầu ở nơi xa lạ.
Chú thím Vàng rất buồn khổ vì xa con. Nhưng khi được bà Biện nhận lời, họ rất vui mừng. Họ vui vì tấm lòng rộng rãi, ưa giúp người của bà và cũng vui vì gửi con cho bà, còn an tâm hơn gửi cho bên nội, bên ngoại. Vì cả hai bên của cô chú đều sống ở một vùng quê xa lắm, nhà lại nghèo và đông người nữa.
Khi vợ chồng chú Vàng từ giã con đi rồi, bà bỗng dưng nhớ lại quãng đời ngày xưa của mình. Lúc ấy, bà cỡ chừng hơn năm tuổi. Cha mẹ mất sớm, người chú nuôi không nổi, phải đem bà về gửi cho bà ngoại. Cuộc sống tuổi thơ của bà chỉ được an ổn cho đến hết năm cuối bậc tiểu học. Từ sau đó, hằng ngày, bà phải ra đồng mót lúa, mót khoai phụ bà ngoại sinh sống. Đến lúc lớn hơn, bà phải đi làm thuê và làm nhiều nghề khác nữa. Cho đến năm ba mươi lăm tuổi bà có được tấm chồng cũng nhờ người bà con mai mối cho. Nếu không, bà phải chịu ở vậy suốt đời vì dáng người bà cao lêu nghêu, lưng hơi khòm, răng hô, bộ đi vụng về, có ai mà muốn vớ vào. Ăn ở với chồng được hơn sáu năm, có một đứa con trai thì chồng mất trong chiến tranh. Còn đứa con cũng theo cha mấy năm sau đó vì bệnh thương hàn. Bà đã buồn thương không nguôi trong nhiều năm về sự mất mát quá lớn của đời mình. Sau đó, những người hàng xóm thấy bà quá sầu khổ nên đã rủ bà đi chùa nghe lời kinh, tiếng kệ để khuây khỏa nỗi lòng. Dạo ấy, Thầy Trụ Trì còn khỏe nên Thầy thường giảng pháp một tháng hai lần. Từ những lần nghe pháp ấy, bà mới hiểu ra, sở dĩ ngày nay mình gặp bất hạnh cũng do nhân trong quá khứ mình đã đoản mệnh nhiều chúng sinh nên giờ phải nhận quả báo. Bà không thể quên thời gian trước khi lấy chồng, có lúc bà đã làm nghề giết gà vịt đem bỏ mối. Hình ảnh những con gà, con vịt bà cắt tiết xong nhưng chúng chưa chết, bà đã vội bỏ vào nồi nước sôi, chúng giãy chết trong quằn quại, đau đớn. Cảnh tượng ấy đã nhiều lần ám ảnh bà. Nhất là từ lúc con bà bị thương hàn, nó cũng lăn mình, vật vã trong nhiều ngày trước khi chết.
Rồi Thầy còn giảng: sát hại chúng sanh thì giảm thọ. Nghèo khổ là do không biết bố thí, giúp đỡ người. Già cả phải sống trong cảnh neo đơn vì đã từng giết những con vật còn nhỏ làm cho cha mẹ chúng mất con. Nay biết tội mình đã gây, bà và một vài bạn đạo hiểu hoàn cảnh của bà đã thường đọc Kinh Địa Tạng để hồi hướng công đức cho những oan gia trái chủ đó và cả chồng, con bà nữa, cầu cho họ sớm được siêu sinh về cảnh giới an lành. Ngoài ra, bà cũng còn nguyện cố gắng làm việc thiện trong khả năng eo hẹp của mình để may ra có thể đổi đời.
Thấm thoắt, thế mà một năm sắp đến. Bà Biện rất lo chú Vàng về đón con. Vì từ ngày có bé Quyến, nhà bà lúc nào cũng có tiếng cười trẻ thơ thật hồn nhiên. Bà lại thường chơi trò ú tim với cháu nên mỗi khi tìm được bà, cháu cười thật giòn giã. Hơn nữa, từ ngày bé đi học, bà còn có niềm vui chỉ cho cháu tập đánh vần. Âm giọng trong thanh ê a học bài làm bà rất thích. Tất cả những thứ ấy tạo cho bà sự quyến luyến khó quên. Vậy nên, thời gian này, bắt đầu ngày mới là một ngày lo lắng cho bà.
Thế rồi, một tháng, hai tháng sau ngày hẹn... lần lần tới cả năm và nhiều năm nữa liên tiếp đến vẫn không thấy chú Vàng về. Bà Biện mừng vui khôn xiết. Nhưng cháu Quyến ngày một lớn, học lên lớp trên, nhu cầu càng nhiều, còn sức khỏe của bà ngày một yếu đi, đã làm bà rất lo. Những năm Quyến học cấp một và nửa năm cấp hai, bà chỉ trông cậy vào lợi tức từ những rau quả trong vườn là xong. Nay bà muốn tìm việc làm thêm để có đủ chi tiêu nhưng không làm nổi. Bà thì thế, còn cháu Quyến, mỗi năm trôi qua, cháu học càng giỏi hơn, lại ngoan hiền, được các thầy cô giáo rất tin tưởng vào tương lai của cháu, nên thường tới khuyên bà cố gắng giúp cháu học đến nơi đến chốn. Điều này như thúc giục bà phải quyết định việc bà đã từng suy nghĩ.
Sau dăm ngày chuẩn bị, bà đã ra ngồi ở ngã tư đông người qua lại với cái bàn bán vé số. Sở dĩ, bà đã chần chờ vì cứ lo sức khỏe không cho phép bà ngồi suốt ngày ngoài trời. Nhưng, có lẽ, việc làm ấy cho bà một niềm tin sẽ đem lại một đời sống tốt đẹp cho cháu Quyến về sau, nên bà không thấy khổ cực, nhọc mệt là gì nữa. Trái lại, bà còn thấy vui hơn là do chừng bốn, năm tháng sau, sức khỏe bà trở nên dẻo dai, đi lại nhanh nhẹn, và nhất là không còn đau vặt như trước kia. Thêm vào, cuộc sống bà cháu rất khá, lại càng làm bà phấn khởi hơn.
Thế nhưng việc bà Biện làm thêm được mấy tháng đã đến tai những người anh chị em họ của bà ở các nơi xa. Họ phản đối rất mạnh, viện lẽ bà đã già. Hơn nữa, họ nói con bé không phải là con cháu cật ruột thì hà cớ gì phải xả thân như vậy. Có người còn về tới nơi khuyên bà chỉ giúp cháu Quyến học tới hết cấp hai rồi ngưng. Lại thêm, có cô em dâu trong họ, chồng vừa mất, còn gạ gẫm bà bán nhà về ở với thím cho có chị, có em trong những ngày tuổi già. Bao nhiêu tác động dồn dập đến, tuy có lúc đã làm bà phải suy nghĩ gần như nhụt chí. Nhưng những lời khen Quyến của các thầy cô giáo lại như nhắc bà không nên bỏ cuộc.
Từ đó, bà đã bỏ ngoài tai tất cả mọi sự chống đối, bất bình của thân nhân. Về phần cháu Quyến, có lần cháu đã tình cờ nghe những người hàng xóm bàn tán với nhau về chuyện bà Biện nuôi cháu chẳng khác nào như:
Tò vò mà nuôi con nhện,
Đến khi nó lớn, nó quện nhau.
Tò vò ngồi khóc tỉ ti,
Nhện ơi, nhện hỡi mày đi đằng nào.
Nghe được điều ấy, Quyến buồn lắm vì họ đánh giá cháu như một người vong ân bội nghĩa. Đó chỉ là nhận xét của những người không thường đi chùa với bà Biện và Quyến hai lần trong tháng. Ai gặp cháu ở chùa đều rất thương mến cháu. Tuy còn nhỏ nhưng cháu đã phát tâm ăn chay trường theo bà sau khi cháu chỉ đọc được hai câu thơ trong sách ở chùa:
“Thì ra thân thể của mình.
Là do muôn xác chúng sinh tạo thành.”
Thêm vào, cháu rất sáng dạ và mộ đạo nên kinh, chú cháu thuộc rất nhanh. Nhiều người lớn tuổi cứ trầm trồ khen con bé này chắc trong nhiều kiếp trước đã từng học Phật pháp nên nay mới được như vậy. Ngoài ra, cháu còn có một đức tính là ai cho hay giúp cháu việc gì, cháu ghi nhớ mãi không quên. Đó là bản tính tự nhiên của cháu nhưng về sau cháu học được câu “Ân Nghĩa Là Gốc Của Con Người” đã làm cháu rất mừng do trời đã ban cho tính tốt đó. Vì vậy, với bà Biện, cháu luôn nói với mọi người bà là ân nhân rất nặng ân nghĩa, nên cháu mong mau chóng học hết cấp ba rồi đi tìm việc làm để đền ơn bà. Vì cứ nghĩ thế nên cháu đã nỗ lực nhiều hơn trong học tập.
Còn nói về những năm tháng đi chùa, Quyến nghe Thầy Trụ Trì giảng Pháp rất nhiều. Những điều còn in đậm mãi trong tâm trí cháu là Thầy khuyên Phật tử, ngoài giờ đến chùa tụng Kinh, niệm Phật, còn thời giờ rảnh ở nhà nên đọc thêm chú Đại bi, ít nhất bảy biến mỗi ngày, và phải cố gắng tu Tâm, dưỡng Tính thì cuộc đời lần lần có thể thay đổi được. Thầy nhắc đi nhắc lại là phải quyết tâm tu cái miệng. Biết tu cái miệng thì phước tăng, còn không thì cái miệng là bộ phận làm tổn phước hằng ngày nhiều nhất. Để đạt được điều đó, Phật tử phải chịu khó tập tu tính khiêm tốn. Nên nhớ, lúc nào cũng thấy mình kém thua người thì cái tật suốt ngày ưa nói chuyện thị phi, chê bai, trách móc, xoi mói, châm biếm,... người đâu còn nữa. Còn ai thường biểu lộ tính xấu kia là người ngã mạn,...nên phước ngày càng mất đi. Phước sẽ quyết định sự thành công hay thất bại trong công việc làm của một người. Vậy hãy cố gắng tạo Phước cho nhiều. Biết vậy, thì phải cố bòn mót từng chút phước. Thấy một cây đinh ngoài đường, lượm và ném vào lề. Đó là bòn phước. Nói chung, dù thấy một việc nhỏ đến mấy, biết là khi làm sẽ có ích, không nên bỏ qua. Chẳng hạn, thấy một con ốc sên bò ra đường đi, ta tìm cách đưa nó vào trong xa để nó khỏi bị người đi qua dẫm chết.
Nghe những lời Thầy giảng tuy ngắn gọn nhưng đối với Quyến là một bài học rất thiết thực cho cuộc sống. Cháu nguyện sẽ khắc ghi mãi trong tâm để thực tập. Cháu ghi nhớ điều đó qua câu thơ đã đọc được: “Việc thiện nhỏ, chớ bỏ qua. Còn việc ác nhỏ, tránh xa đừng làm.” Mặc dù kỳ thi tốt nghiệp gần kề, cháu đã cố gắng thực hành hằng ngày, không bỏ sót một thứ gì Thầy dạy bảo.
Điều mong ước thiết tha của Quyến là mau chóng đến ngày thi. Và nay đã đến. Quả trời đã không phụ lòng, cháu đã tốt nghiệp phổ thông trung học với điểm số cao nhất. Tất cả các môn thi, cháu đều đạt điểm tuyệt đối. Tin Quyến đậu thủ khoa đến tai bà Biện làm bà bàng hoàng sung sướng. Từ đó, tên và lai lịch cháu vang xa khắp nơi trong cái thành phố nhỏ bé này. Và cũng nhờ vậy, việc làm của bà Biện có phần khá hơn. Bởi vì rất nhiều người đã kính nể bà qua việc nuôi cháu Quyến học hành đỗ đạt nên đã tới mua vé số giúp bà. Điều này khiến bà càng tin làm việc thiện sẽ gặp may mắn
Thời gian ấy, tại trường công lập cấp ba dành cho nam sinh có một cậu công tử, con một, nhà rất giàu cũng thi đậu, tên Lũy. Anh mến mộ sự học giỏi và cảm thương cuộc đời không may mắn của Quyến nên đã cố đi tìm gặp cô, tò mò xem cô như thế nào. Lúc này, cô đã ở tuổi mười bảy, là một cô gái chững chạc, ăn nói nhỏ nhẹ, dịu dàng. Về nhan sắc, cô không có gì đặc biệt, chỉ thấy nét mặt rất thuần hậu, tươi sáng và dễ có thiện cảm. Còn nước da hơi ngăm ngăm, vì ảnh hưởng của những ngày, một buổi cô ra ngồi bán vé số giúp bà, trước năm thi. Ngoài ra, cũng do ngoài giờ học, cô phải lo trồng trọt và tưới nước rau quả trong vườn, làm gấp rưỡi công việc của bà Biện trước đây để dành dụm tiền mua sách tiếng Anh về học thêm.
Còn về Lũy, sau khi tìm gặp được Quyến, anh có cảm tình ngay. Anh thích nhất ở cô tính khiêm nhường. Đặc biệt, lời ăn tiếng nói của cô toát lên sự chân thật hiếm thấy ở những cô gái anh đã từng gặp. Anh so sánh ngay Quyến với Hường, người con gái của bạn cha anh mà ông từng nói sẽ chọn làm dâu sau khi anh tốt nghiệp đại học. Cùng lứa tuổi với Quyến nhưng Hường là con nhà giàu nên mọi thứ trên người cô hoàn toàn khác một trời, một vực với Quyến. Vậy mà, thật lạ, Lũy đã không thích những cái hào nhoáng ở Hường mà chỉ thích những thứ thật giản dị nơi Quyến.
Việc Lũy theo đuổi Quyến chẳng bao lâu đã đến tai người cha, ông Lai. Đêm hôm đó, ông ở nhà chờ Lũy đi tới nhà bạn về để dạy cho con bài học sống ở đời. Ông giải thích cho Lũy thấy nếu anh lấy Hường, việc công danh, thăng quan tiến chức không phải lo vì bác Quốc, cha Hường quen lớn với những người có chức quyền. Nghe tới đó, Lũy hơi cau mày khó chịu vì dưới mắt anh mọi sự đề bạt phải đến từ tài năng và đạo đức. Những điều đó anh đã biết được qua báo chí và các phương tiện truyền thông, thường có ở những xã hội văn minh, tiên tiến. Anh nghĩ mọi sự thành công phải đến từ chính mình mới đáng quý.
Ông Lai thấy con ngồi trầm tư, biết con đang nghĩ gì. Ông không muốn dạy con bằng cách áp đặt vì nay nó đã lớn, mà phải từ từ dùng lời lẽ ngon ngọt để khuyên răn. Nhưng bỗng một ý nghĩ vừa thoáng qua đầu và ông nói ngay:
- Con là con trai mà chịu lấy vợ hơn mình hay sao? Con Hường dù gì nó cũng hợp với con ở nhiều mặt.
Lũy nghe, lòng không được vui. Anh không giận cha đã vội đánh giá anh thua Quyến vì theo anh, sự học không phải dừng lại ở đây. Nhưng anh khó chịu vì cha nghĩ anh có nhiều điểm tương đồng với Hường. Cha mẹ đâu có biết cô ta bằng anh. Ông bà chỉ gặp Hường tại nhà, và thấy cô ra chào hỏi rất lễ phép, đã vội kết luận cô ấy ngoan, hiền. Người con gái nào ở nhà mà chẳng thế. Theo anh, tính cách thật của họ được biểu lộ đúng đắn là trong lúc giao tiếp với bạn bè và người ngoài. Qua nhiều lần gặp gỡ, anh đánh giá Hường là tuýp người ăn chơi, thích đua đòi và rất tự cao. Nếu lấy làm vợ, anh sẽ không chọn người như vậy. Còn về Quyến, anh đã mến cô ngay từ giây phút đầu tiên. Có lẽ, dáng bề ngoài và tính nết của cô hao hao giống thím Ba, người anh rất kính nể. Thím không đẹp ở nét mặt, nhưng mọi người đều quý trọng thím từ cách ăn ở hiếu thảo với cha mẹ hai bên cho tới lối sống giản dị, chân thật và đặc biệt là tính thương người nghèo khổ của thím. Mọi việc thím làm đều sợ nhân quả báo ứng nên chẳng bao giờ làm mất lòng ai và nhất là rất sợ giết loài động vật còn sống để ăn.
Nhân cách thím Ba đã làm Lũy nể phục nên mỗi khi gặp Quyến, anh liên tưởng ngay đến thím. Chính điều đó đã làm anh lúc nào cũng mến mộ cô. Trái lại, Quyến rất sợ gặp anh. Cô có cái tinh khôn của một người đã sống như một trẻ mồ côi từ thuở bé. Đó là biết dè chừng trước những cạm bẫy của người khác phái. Vì vậy, với cô, những con trai con nhà giàu săn đón con gái nhà nghèo là có ý đồ không tốt. Họ chỉ lợi dụng sự nhẹ dạ, ham giàu của người con gái để làm việc bất chính. Được việc rồi, họ quất ngựa truy phong và để lại cho người bị hại mối hận khó phai suốt cả đời. Nghĩ vậy nên khi gặp Lũy, cô ôn tồn xác định cô luôn luôn xem Lũy như bạn.
Còn với Lũy, sau bao nhiêu lần bị cha mẹ can ngăn, anh vẫn không từ bỏ ý định. Ông bà ấy rất khổ tâm vì biết gốc gác của Quyến không ra gì. Riêng bà vợ rất cay cú, sợ mất mặt với bà Quốc nếu việc hôn nhân của hai con họ không thành. Rồi từ sự việc này sẽ dẫn đến kết quả những công trình đấu thầu của chồng bà sẽ gặp nhiều trở ngại vì không được sự hợp tác của ông Quốc. Bà nghĩ nếu những điều này xảy ra, tất cả đều do Quyến. Từ đó, bà tìm cách hạ nhục cô để cô xấu hổ mà không bao giờ mơ tưởng con trai bà sẽ đến với cô. Đó là cách tốt nhất làm cô xa lánh Lũy. Sau khi nghĩ vậy, bà đã bắn tiếng với nhóm bạn của Lũy là Quyến không xứng đáng với con bà vì cha mẹ cô là thứ lừa lọc, đem con bỏ chợ, buộc bà Biện trong thế phải nuôi. Hơn nữa, bà Biện làm nghề bán vé số, đâu có môn đăng hộ đối để làm sui gia với bà. Bà cho đây là điều vô cùng sỉ nhục với tổ tiên, dòng họ, bạn bè, làng xóm nên bà sẽ phản đối đến cùng.
Riêng với ông Lai, trước đây, ông dự định trong một vài tuần nữa, xong việc thầu, ông sẽ đưa Lũy đi Sài Gòn gửi nhà ông anh ruột cho Lũy ở, đi học luyện thi đại học. Nay, gặp sự việc này, ông thấy không xong nên phải lo đưa Lũy đi sớm. Quyến nghe tin rất mừng, coi như thoát khỏi cảnh đã gây cho cô nhiều phiền toái. Nhưng chuyện Lũy yêu cô, nào có phải chỉ liên quan đến anh ta thôi đâu mà còn dính dấp đến cả Hường nữa. Hường bị bạn bè chọc quê rất cay độc. Họ nghĩ, nếu bản tính cô không ta đây, kênh kiệu...chắc mọi việc sẽ êm đẹp hơn. Đằng này, do tính cô hay khoe khoang, học thì kém nhưng nhờ có tay trong, tay ngoài đưa nháp cho, mới thi đậu phổ thông trung học kỳ này. Đã vậy, cô lại còn huênh hoang, bảo đề thi quá dễ, cô làm ra trước giờ nên bạn học rất ghét. Từ chỗ không ưa đó, chúng bạn cứ gặp cô là trêu chọc, bảo cô đã bị một con bé quê mùa, cháu nuôi bà bán vé số cho đo ván. Mỗi lần nghe vậy, lòng hận thù Quyến lại trào lên. Trước tiên, cô xổ ra một hơi những lời nguyền rủa thậm tệ. Cô vẫn cảm thấy chưa đã cơn giận, và đã nghĩ trong trí tìm cách trả thù nhưng chưa biết phải làm gì. Cuối cùng, có một vài bạn thân tiếp tay, cô đã đồng ý dùng trò độc ác với Quyến để rửa hận. Cánh du đãng được thuê định ra tay hành hung khi gặp Quyến nhưng có một trở lực gì đó ngăn họ lại. Họ thấy cô gái này rất bình dân, nhìn là biết con nhà nghèo, làm sao có thể là đối thủ trong một cuộc tình để hạ gục Hường, một cô gái sang trọng. Họ chỉ thấy ở cô nét rất hiền từ, dịu dàng nên tự nhiên động lòng thương. Thế là, một trong hai tay đã tự ý tiết lộ thủ đoạn của Hường để cô đề phòng. Bất ngờ, nghe được tin đó, Quyến có vẻ lo. Cô vội chạy tới cô giáo Thùy, người cô rất quý mến và cũng rất tin tưởng để trình bày, xin ý kiến giúp đỡ. Vừa thấy Quyến đến, cô giáo mừng rối rít, kéo tay em vào nhà. Không đợi cô hỏi, Quyến vội nói hết sự việc làm cô Thùy có vẻ suy tư, lo lắng. Cô nghĩ, nếu Quyến cứ tiếp tục sống trong thành phố này, chắc chắn Lũy sẽ còn theo đuổi. Vậy việc trả thù của Hường khó thể bỏ qua.
(phần 2)
Thấy hoàn cảnh này, cô giáo Thùy rất thương Quyến. Cô càng thương hơn khi biết em sẽ chọn con đường ngắn nhất là học sư phạm hai năm tại ngay thành phố này, kiếm được tiền nhanh để phụng dưỡng bà Biện chứ bà đã già rồi. Càng nghĩ, cô càng thấy xót xa cho cuộc đời của một người có nhiều triển vọng ở tương lai nhưng đành phải chấp nhận chôn vùi tài năng của mình. Mà thật lạ, sao cô cứ thấy ray rứt không yên nếu cô không cố gắng giúp Quyến. Em là học sinh giỏi tiếng Anh nhất của lớp cô. Cô biết, hiện các doanh nhân nước ngoài đang ồ ạt vào đầu tư tại các thành phố lớn. Đây là cơ hội rất tốt cho Quyến. Nghĩ vậy nên cô nảy ra ý nghĩ phải tìm cách đưa em đi Sài Gòn để em có cơ hội tiến thân và cũng để em tránh tai họa có thể xảy ra.
Vậy là tối hôm ấy, cô Thùy đã đến bàn chuyện với bà Biện. Cô đã phân tích điều hơn lẽ thiệt rất cặn kẽ cho bà thấy. Cô an ủi bà, cô sẽ khuyên Quyến theo học một trường đại học hợp với khả năng của cháu. Như vậy, chắc chắn chẳng bao giờ Hường có thể biết được. Bởi cả Hường lẫn nhóm bạn không có khả năng theo học một trường như vậy. Bà Biện rất buồn, phải chấp nhận kế hoạch Quyến đi học xa trong nhiều năm. Có thể khi ra trường, Quyến sẽ xin việc ở một thành phố khác, rồi đón bà về ở.
Không chần chờ, chỉ khoảng sau bốn, năm ngày để thu xếp mọi thứ, bà cháu đã ra bến xe rất sớm, đi Sài Gòn. Do cô Thùy rất tận tình giúp nên đã gọi điện thoại trước cho ông chú, trình bày hoàn cảnh của Quyến để xin cho cô ở trọ học. Ông nghe nói Quyến đã từng dạy kèm cho bạn bè thi đậu nên ông thích lắm. Từ lâu, ông muốn tìm một gia sư, ăn ở luôn trong nhà để dạy cho các con. Nay nghe cháu nói vậy, lại còn biết thêm Quyến rất mộ đạo Phật nên ông rất vui. Ông và vợ muốn các con phải có người gia sư có đạo đức để giúp vợ chồng ông răn dạy chúng vì ông bà quá bận bịu trong công việc làm ăn. Sau khi bàn với vợ, ông trả lời đồng ý, nhưng không hề nói ra những dự định của vợ chồng ông. Vậy là nơi ăn ở của Quyến được tạm ổn định.
Lúc này, bà cháu ngồi nói chuyện với nhau, cứ ngỡ mình đang sống trong mơ. Chỉ chưa đầy một tuần, mọi thứ đổi mới hoàn toàn và hy vọng sẽ tốt đẹp nữa. Quyến mừng quá, nói:
-Mình ở hiền nên gặp lành bà ạ.
Rồi cô nhớ tới những năm theo bà đi chùa. Cô luôn luôn ghi nhớ những lời khuyên thiết thực của thầy Trụ trì và đem áp dụng rất nhiệt tình hằng ngày. Ngoài việc làm này, những lúc rỗi rảnh cô thường đọc những mẩu chuyện Phật giáo. Có lần cô đọc truyện: “Chú Sa Di cứu tổ kiến” trong kinh “Phước Báo” và nhớ mãi mãi không quên.
Chuyện kể rằng: “Một hôm, vị Thầy của chú sa di nhập định, thấy mạng sống của chú đệ tử chỉ còn bảy ngày là hết. Thầy liền cho đệ tử về thăm gia đình. Trên đường về quê, hôm ấy trời mưa lớn lắm. Chú sa di chợt thấy một tổ kiến bị ngập nước bên vệ đường. Đàn kiến hoảng hốt bám vào nhau vì sợ có thể bị nước cuốn trôi. Chú sa di liền đưa đàn kiến lên chỗ khô ráo. Xong việc, chú về thăm cha mẹ. Và đến kỳ hạn, chú trở về chùa với Thầy. Vị Thầy kinh ngạc, sao đệ tử vẫn còn sống trở về đây. Thầy lại nhập định, mới biết đệ tử đã cứu sống bầy kiến nên mới khỏi chết yểu và sẽ còn sống lâu hơn nữa. Chú sa di được Thầy cho biết như vậy nên từ đó chú càng tin hơn vào việc cứu mạng sống của muôn loài sẽ đem lại nhiều phước báo không lường.”
Đọc xong, cô liên tưởng ngay đến sự việc xảy ra đã lâu lắm: Có lần, Quyến đến nhà bạn chơi. Hôm ấy, trời oi bức khác thường. Có một đàn kiến nhiều vô kể, bò sát vách tường vào nhà. Bà mẹ sai người con trai đi mua thuốc diệt kiến để trừ sạch. Quyến biết gia đình bạn theo đạo Phật nên đã cản lại. Rồi cô kể ra kinh nghiệm bà Biện đã thấy là đàn kiến biết sắp có mưa lớn nên chỉ tìm chỗ lánh tạm. Một hai ngày sau hết mưa, chúng sẽ di chuyển lại về tổ. Bà mẹ nghe lời và mọi việc xảy ra đúng như cô nói. Vậy là cô đã cứu sống cho không biết bao nhiêu mạng kiến. Cô nghĩ một việc làm vô tình mà lại có nhiều phước báo như vậy.Từ đó, trong tâm trí cô lúc nào cũng nghĩ, đời cô sẽ có lúc thay đổi khi đủ duyên.
Giờ ngồi ngẫm lại, cô thấy việc cánh du đãng đã không đánh cô mà còn báo cho cô biết, có phải đó là kết quả mầu nhiệm của việc trì chú Đại bi hằng ngày không?!
Rồi còn việc hiện tại cô ở đây, phải chăng đời cô có sự thay đổi nhờ đã giúp ý kiến cho gia đình bạn không giết đàn kiến năm nào. Bao nhiêu thứ thuận duyên đến, đều xảy ra sau khi cô gặp chướng duyên. Điều này làm cô rất tin: người thường niệm Phật, trì chú Đại bi luôn có Long thần, Hộ pháp theo phù trợ. Nghĩ tới đây, lòng cô dạt dào vui sướng và cô ôm siết chặt vào người bà Biện. Còn bà thì nghĩ từ ngày giúp nuôi Quyến, mọi việc tốt lành thường đến với bà. Bà rưng rưng, nghẹn ngào nói:
-Ừ, cứ giúp người thì Trời sẽ giúp mình.
Chừng nửa tháng sau, việc tìm chỗ học luyện thi cho Quyến đã xong, nhờ có sự giúp đỡ của ông chú cô Thùy. Bà Biện chia tay cháu về lại quê. Quyến đã dặn đi, dặn lại bà, về quê, bỏ không bán vé số nữa. Bà không chịu, lấy cớ là bà cần tiền để làm việc từ thiện, phóng sinh và cúng chùa. Hơn nữa, bà bảo, ngồi bán vé số dễ niệm Phật hơn, chứ ở nhà, cứ quanh qua, quẩn lại chẳng niệm được bao nhiêu. Ngoài ra, bà còn lo xa, sợ việc ông chú cô Thùy hứa tìm chỗ cho Quyến dạy tiếng Anh lỡ không thành thì sao. Chi bằng cứ để bà tiếp tục cho đến khi việc dạy dỗ của Quyến ổn định, bà bỏ làm cũng chẳng muộn. Bà đi xong, Quyến thấy lòng trống vắng lạ thường. Bỗng dưng, ý nghĩ muốn tìm biết tin tức cha mẹ đã biệt vô âm tín từ ngày cô còn nhỏ, đã trỗi dậy thật mãnh liệt trong lòng cô. Cô nghĩ, cô sẽ phải đi tìm mặc dù cô nhớ lời bà khẳng định hồi cô còn nhỏ rằng cha mẹ cô không bao giờ bỏ rơi con. Rồi bà kể hôm gởi con cho bà để ra đi, cha mẹ cô khóc nhiều lắm. Theo bà đoán, cha mẹ cô đã gặp tai nạn và chết trên đường đi vào Sài Gòn ngay hôm ấy. Trong ký ức, bà còn nhớ mấy ngày sau khi giữ cô, có tin đồn một chiếc xe khách đi hướng bắc nam, gặp tai nạn và bốc cháy làm một số hành khách bị chết thiêu, giấy tờ tùy thân không còn nên không nhận biết ai là ai. Cuối cùng có một số xác không người nhận. Có lẽ đây là những người lên xe dọc đường nên không có tên trong danh sách hành khách. Bà nghĩ trong số này có cha mẹ Quyến vì cha mẹ cô rất nghèo, chỉ có đủ tiền trả để đứng suốt tuyến đường, chứ không mua vé. Bà nhắc lại với Quyến đó là điều bà đoán, chớ không lí gì, bao nhiêu năm rồi cha mẹ không về đón con. Nghe thế, nếu tin vào lời bà mà không đi, lòng cô sẽ không yên vì nỗi ao ước cứ canh cánh mãi bên lòng từ ngày còn nhỏ đến giờ là phải tìm gặp được cha mẹ. .
Thế là, sau khi xin phép chú thím cô Thùy, một buổi tối, vào khoảng chín giờ, Quyến đạp xe đi khắp các ngả đường, tìm những người bán hủ tiếu gõ để hỏi tin tức về cha mẹ mình. Nhưng rồi qua nhiều đêm, cô hỏi ai cũng không biết. Cuối cùng, có người chỉ cô đến tìm gặp những người chủ nấu hủ tiếu phân phối cho người đi bán để hỏi nhưng đều vô vọng...
Giờ, quay lại chuyện của Lũy. Từ ngày vào Sài Gòn, anh thường liên lạc với một vài bạn ở quê để biết tin tức của Quyến. Họ cho anh biết cô đã không còn ở nhà nữa sau mấy sự việc liên tiếp xảy ra. Đầu tiên, Hường thuê những tay anh chị đánh cô nhưng không thành. Tiếp bị mẹ anh tung tin lăng mạ cô rất thậm tệ. Và gần đây, bà đã cho người đem một số tiền tới đưa bà Biện, bảo bà đem Quyến đi gửi cho bà con ở một tỉnh khác nuôi giùm nhưng bà Biện đã một mực từ chối. Rồi có tin đồn, sau đó cánh du đãng đến đe dọa nên bà sợ, đã đưa Quyến đi đâu không rõ. Lũy nghe, cảm thấy vừa nhục, vừa xấu hổ trước những việc làm ấy. Anh không ngờ, những con người ra đường với khuôn mặt son phấn thật đẹp, thật quý phái, thật rạng rỡ lại có thể có tâm địa như vậy. Từ sau ngày ấy, anh không còn cái hứng thú để đi học luyện thi nữa. Anh nằm vùi ở nhà, nghĩ quanh quẩn, buồn nản cho sự đời.
Một tuần lễ sau, tin này tới gia đình. Bà mẹ vội đáp máy bay vào gặp anh. Đang lúc trong tâm tư chất chứa bao điều khó chịu về lối suy nghĩ quá lỗi thời của cha mẹ thì anh gặp mẹ vào. Anh trình bày cho mẹ thấy những điều bà muốn bêu xấu Quyến đều bị phản tác dụng. Các bạn anh chẳng những đã không khinh rẻ cô mà còn quý trọng cô nhiều hơn. Họ đã tìm hiểu, biết cô đã gặp nghịch cảnh vô cùng đau lòng: cha mẹ không hề đoái hoài đến. Vậy mà, cô đã làm được một việc, chắc chắn một người không có nghị lực không thể làm được. Đó là việc cô cố gắng thay đổi cuộc đời. Cô đã theo bà đi chùa từ hồi còn rất nhỏ. Những ý tưởng sống khiêm cung, thường xuyên làm việc bố thí, cúng dường và làm điều thiện.... để cải đổi cuộc sống đã thâm nhập vào đầu óc cô từ rất lâu. Cô rất thích điều đó và cố thực hiện cho bằng được. Anh đã đọc cho mẹ nghe những câu thơ cô rất tâm đắc:
Khiêm cung: học được tốt thay!
Xem ai cũng đáng bậc Thầy của ta.
Cố xua cái “NGÔ ra xa,
Vạ mồm sẽ bớt, Phước ta tăng dần.
Rồi anh đọc tiếp hai câu nữa và nhìn thẳng vào mắt mẹ xem có phản ứng gì không.
Long thần, Hộ Pháp ở quanh ta,
Lành dữ, ta làm khó giấu qua. (sưu tầm)
Bất chợt làm điều gì thật nhỏ,
Biết là việc ác, phải lìa xa.
Nghe xong, bà tức tối nói:
-Ối dào! Nghe anh nói toàn là chuyện vớ vẩn. Thôi dẹp chuyện ấy đi.
Lũy biết không có cơ hội nào nói hết những điều tốt của Quyến cho bà thấy để bà bỏ hẳn những định kiến về Quyến nên anh năn nỉ:
-Mẹ để cho con trình bày hết những điều con muốn nói. Còn mẹ không chịu thì mẹ phải biết con cái bây giờ nó không chấp nhận sự ép buộc hôn nhân của cha mẹ như hồi xưa đâu.
Nghe con nói, bà rất khó chịu nhưng đành chấp nhận ngồi nghe.
Rồi Lũy muốn đưa ra những mẩu chuyện trong đó có việc anh đã tham gia và thấy Quyến làm. Cốt ý anh muốn cho bà thấy tấm lòng của một con người mà bà thường gán là thuộc tầng lớp thấp kém, đối với loài động vật và đồng loại như thế nào.
Anh kể: Ở một chùa nọ, một tháng một lần, có tổ chức đi phóng sinh. Lần nào, Quyến cũng xin góp chút tiền cùng với Phật tử đi chợ mua cá, lươn, ếch, ba ba, rùa ... đem ra sông thả. Có hôm, cô cảm động đến nỗi mãi mãi không quên cảnh những con ếch,....khi được thả ra, chúng vội bơi một mạch. Bơi được một đoạn, chúng dừng lại, ngóc đầu ngoảnh nhìn lên những người trên bờ như muốn nói lời cảm ơn. Được một lát, chúng quậy nước lặn xuống và lại ngoi đầu lên nhìn lâu hơn, như thể muốn ghi nhận sâu đậm hình ảnh những ân nhân cứu mạng.
Mẹ Lũy ngồi nghe những mẩu chuyện bà cho là hoang đường nên tỏ vẻ khó chịu. Bà chấm dứt buổi nói chuyện, bảo Lũy sửa soạn đi ăn. Tới nhà hàng, vừa ngồi vào bàn, Lũy không muốn bỏ mất thời giờ, nên vội kể tiếp chuyện Quyến giúp người:
Lúc ấy, Quyến còn học lớp Chín. Chùa đi phát quà cho những em cô nhi, cô có góp tiền và xin đi theo. Khi đến nơi, cô để ý tới các em còn rất nhỏ, mặt mày lem luốc do không ai chăm sóc, mắt nhìn hau háu vào những gói bánh kẹo ra vẻ rất thèm thuồng. Cô cầm vội một gói, đưa cho một em. Nó nhanh tay chớp lấy và giữ chặt vào người làm như sợ bị đứa khác giật mất. Tự nhiên cô chạnh lòng nghĩ tới hoàn cảnh mình. Dù gì cô cũng may mắn hơn, nên đã xúc động, đứng khóc ngon lành.
Ngoài ra, ở trường, Quyến rất thích làm bất cứ việc gì để giúp bạn. Chẳng hạn, trong năm học này, thấy nhiều bạn học còn kém những môn chính, lại không thể đi học thêm vì các thầy cô giáo bị cấm mở dạy kèm do có nạn tiêu cực. Quyến đã lập ra một toán học nhóm để nâng đỡ nhau. Qua việc làm này, Quyến rất vui vì đã giúp cho nhiều bạn học tốt hơn. Vui hơn nữa, vừa rồi có vài bạn thi đậu. Cha mẹ họ đã đem quà đến biếu nhưng cô không nhận vì cô nhớ lời Phật dạy: “ Thi ân bất cầu báo”
Bà Lai vì chiều con nên phải ráng ngồi nghe. Sau khi Lũy kể xong, bà không nói gì, chỉ nhếch miệng cười ra vẻ coi thường vì những việc làm chẳng giống ai. Lúc này, hình ảnh bà Biện cao lỏng khỏng, hàm răng lúc nào cũng lộ ra ngoài, đang ngồi sau bàn bán vé số, cứ ám ảnh bà. Bà tưởng tượng cảnh ngày cưới, chụp hình chung hai họ, bà Biện đứng cạnh bà, ôi thật là muối mặt. Rồi bà tiếc đã không tổ chức được bữa tiệc cưới cho Lũy và Hường tại nhà hàng sang trọng nhất, với số thực khách dự định lên tới trên năm trăm để hơn hẳn những đám cưới khác từ trước đến nay. Bà lộ nét buồn, nói với Lũy những ao ước đó, và mong con nên đắn đo, suy nghĩ trước khi quyết định. Chứ bà e bỏ lỡ cơ hội này, khó tìm đâu ra được chỗ như Hường. Vì Hường vừa đẹp, lại con nhà danh giá. Còn Quyến thì quê mùa, xấu xí, gốc gác hạ tiện. Rồi bà nói:
- Coi chừng chê tôm ăn cá lù đù con ạ!
Lũy không nghe lời mẹ nói vì một ý nghĩ vụt thoáng qua đầu làm lòng anh tự nhiên thấy hưng phấn lạ thường. Trước khi gặp mẹ, anh có tâm trạng buồn nản, chán chường, muốn bỏ học vì mẹ đã cố tình phá vỡ sự lựa chọn của anh. Giờ anh thấy mình thật vô lý. Quyến là người con gái có hoàn cảnh rất kém may mắn. Vậy mà đã biết sống hết sức năng nổ qua những việc làm lợi mình, lợi người. Trong khi, mình vừa gặp một chướng ngại đã tỏ ra bi quan, rõ thật không xứng đáng với cô chút nào. Nghĩ vậy, nên anh không muốn áp dụng cách của kẻ si tình, đi van xin tình yêu. Theo anh, vì Quyến là người có bản lĩnh, anh phải cố gắng phát triển tài năng và đạo đức thì mới hy vọng đạt được mong muốn. Còn lúc này, nếu được gặp cô, anh sẽ cứ chấp nhận là bạn như cô yêu cầu.
Sau khi mẹ về rồi, Lũy thường đến những chùa lớn vào ngày rằm và mùng một cốt để tìm hiểu, học hỏi ở những người lớn tuổi hiểu đạo về những lời dạy của Đức Phật chỉ ra cách sống tốt trong cuộc đời.
Một hôm, anh đang cho xe chạy đến chùa thì thấy dáng một người con gái, phía sau sao giống Quyến quá. Anh cho xe chạy chậm và ngoái cổ nhìn. Đúng rồi, đó là Quyến. Lũy mừng đến nỗi không còn giữ được cử chỉ tự nhiên. Anh dồn dập hỏi Quyến với dáng điệu cuống quýt làm cô cảm động. Một lát sau, anh giữ bình tĩnh, mới nhận ra mắt cô có vẻ sưng và hoe hoe đỏ. Anh gặng hỏi hoài nguyên nhân nhưng cô không nói. Cuối cùng thấy bạn quá tha thiết, cô đã kể rõ hết sự việc cô đi tìm tung tích mẹ cha.
Thế rồi, họ chia tay sau cuộc nói chuyện ngắn ngủi, để lại trong lòng Lũy, lúc thì buồn thật khó tả, lúc lại sung sướng lâng lâng. Anh buồn vì nghe hoàn cảnh đau lòng của Quyến và càng buồn hơn do cô từ chối không cho anh biết chỗ ở. Còn anh sung sướng vì biết bạn vào đây để học đại học và học ngành rất tốt cho tương lai. Nhưng khi suy nghĩ lại, anh thấy lo vì sợ Hường biết được, sẽ nguy lớn. Do đó, anh đã gọi hỏi thăm bạn bè về Hường. Một vài bạn học cho anh biết không rõ lúc này cô làm ăn gì, chỉ thấy đi xe rất sang và tiêu xài rộng rãi lắm. Cô thường đi chơi chung với nhóm bạn nam nữ tóc vàng, tóc đỏ. Nhóm thanh niên ai cũng đeo bông tai hột xoàn lóng lánh nữa. Có lần, một người bạn của anh được Hường mời đi ăn sinh nhật ở nhà hàng năm sao về kể lại, Lũy nghe và giật mình khi biết cách sống của họ. Bữa tiệc hôm ấy, đồ ăn thức uống họ dùng toàn thứ cao cấp, sang trọng, bỏ thừa mứa la liệt trên bàn. Anh nghĩ cô ta đã bị nếp sống cuồng nhiệt này lôi cuốn rồi nên không còn lo cho Quyến nữa.
Vậy là, trong suốt những năm học đại học và cho tới ngày mãn khóa, dòng đời của Quyến trôi qua rất êm ả. Khi ra trường, Quyến nhờ đậu cao, có khả năng ngoại ngữ và cách giao tiếp tự tin, khiêm nhường nên đã được một công ty nước ngoài tuyển dụng. Còn về Lũy, anh được sự khích lệ vô hình của Quyến nên đã cố gắng học tập và trau dồi phẩm chất đạo đức của một con người biết sống cho mọi người. Vì thế, trong thời gian đi học, anh thường tham gia vào các chương trình xã hội như đi phát quà cho dân nghèo ở các vùng quê xa xôi, nấu cơm từ thiện phát cho những bệnh nhân ở các bệnh viện trong thành phố, giúp tiền những bệnh nhân ung bướu...Thỉnh thoảng, anh còn theo một vài chùa đi phóng sinh. Thấy vậy, một số bạn học đã chê anh không lo tập trung vào việc học mà đi làm chuyện tào lao. Họ đâu có rõ khi vào xin việc ở một công ty Mỹ, câu hỏi về công tác xã hội mới là phần quyết định cho việc thâu nhận nhân viên. Lũy đã tìm hiểu và biết người Mỹ rất trọng dụng những người tài năng có quan tâm nhiều đến lãnh vực cộng đồng. Vậy nên, họ mới có những nhà tỷ phú có tấm lòng rộng rãi, sẵn sàng dâng hiến một phần tài sản rất lớn cho các công trình nghiên cứu, giúp vào nền văn minh của loài người và làm nhiều việc từ thiện khác...
(phần cuối)
Nghĩ tới đây, Lũy có vẻ xúc động vì cho rằng sự thành công của anh có sự đóng góp âm thầm của Quyến. Nhờ cô, anh mới biết sống cho mọi người. Do đó, tình yêu của Lũy đối với cô đơn phương âm ỉ trong suốt những năm học đại học, nay trỗi dậy cuồng nhiệt hơn bao giờ. Riêng Quyến sau khi nghe chi tiết việc Lũy được nhận vào làm cho công ty Mỹ, cô thấy lòng vui hẳn lên và tim cô có vẻ xao xuyến, nao nao sao ấy. Mắt cô mơ màng nhìn ra khoảng trời xa, dường như cô đang nghĩ đến một chân trời hạnh phúc cao đẹp đang đón chờ. Cô mỉm cười mãn nguyện.
Còn về Hường, cô cũng ra trường nhưng do ham chưng diện, thích vui chơi hơn chăm học nên khả năng yếu kém và đã không xin được việc ở những công ty có mức lương cao. Cha cô biết vậy nên phải đích thân vào Sài Gòn để lo cho con.
Thế rồi chỉ hơn một năm rưỡi sau, kể từ ngày gia nhập vào nhóm bạn mới, cuộc đời của Hường hoàn toàn thay đổi. Cô đã có nhà riêng sang trọng. Cô nói là của cha mẹ mua cho và dự tính sẽ mua một chiếc Lexus đời mới nhất ngày gần đây. Tin này đã đến tai mẹ Lũy. Bà lại tức tốc đáp máy bay vào tận nơi gặp con. Bà kể lại những thứ Hường hiện có và sẽ có, đồng thời mong con không nên chần chờ gì nữa. Lũy ngồi có vẻ đăm chiêu thật lâu, không nói lời nào. Bà giận đến tái mặt, buông ra lời quyết liệt:
-Kể từ nay chuyện của anh, anh lo lấy. Anh đừng hỏi gì tới tôi nữa nghe chưa.
Nói xong bà nguây nguẩy bỏ đi. Bà Lai về quê chưa được hai tuần thì nhận được thư Lũy gửi về. Bà cầm lá thư, trong lòng mừng khấp khởi vì nghĩ có lẽ nó đã sợ lời đe dọa của bà nên chấp nhận việc đến với Hường. Bà vội vã bóc thư ra, đọc cho chồng cùng nghe:
Kính thưa Ba Mẹ,
Thời gian gần đây, con giữ trong lòng nhiều mối ưu tư nhưng con chưa có dịp thuận tiện để thưa cùng Ba Mẹ. Nay con nghĩ không thể giấu giếm mãi những điều ấy nên con viết thư này để thưa Ba Mẹ rõ.
Trước tiên, con xin nói về Hường. Ba Mẹ biết đấy, mức lương của con khá cao so với những bạn bè, trong đó có Hường, làm cho các cơ quan hay công ty do người Việt quản lý. Từ ngày con có việc, con cố gắng tằn tiện chi tiêu nhưng chẳng dành dụm được bao nhiêu. Trong khi Hường tiêu xài rất xa xỉ, lại còn có tiền dư định mua xe ô tô đời mới nữa thì thật quả là có phép lạ. Con nghĩ, chỉ có làm việc bất chính mới chóng giàu như vậy. Của đó khó nuốt trôi lắm. Không sớm thì muộn tài sản kia sẽ không cánh mà bay đi hết, có thể là do bệnh hoạn, tai nạn hoặc mắc phải vòng lao lý...Con dám nói quả quyết như vậy vì con học được câu “của phi nghĩa có giàu đâu”
Tới đây con xin thưa về chuyện hôn nhân của con. Đây là việc rất quan trọng đối với cuộc đời con sau này, nên con xin Ba Mẹ cho con quyết định. Con nghĩ, vợ chồng phải tâm đầu, ý hợp thì sống với nhau mới hòa thuận, hạnh phúc. Sự giàu, đẹp, môn đăng hộ đối không phải là tiêu chuẩn chọn vợ của con vì điều đó không tồn tại bền vững. Như Ba Mẹ đã biết, hãy nhìn vào bên Nội và bên Ngoại, chỉ vì cái “hào nhoáng” danh giá gia đình con ông Tú, ông Cử, Bác sĩ, Kỹ sư,... một số người đã vênh váo tự hào về gốc gác của mình rồi tìm người phối ngẫu phải là như mình. Cuối cùng, Ba Mẹ đã thấy đó: Một bà dâu bên nội, gia đình giàu có mà chỉ biết sống bo bo giữ của. Nói tới bỏ chút tiền bố thí hay giúp người bị thiên tai, bão lụt thì lảng tránh, coi như không nghe. Nói chung là chẳng muốn giúp ai đồng nào. Vì tâm địa bỏn xẻn nên nhìn vào nét mặt thím thời gian này sao thấy xấu quá, khác hẳn hình thím chụp ngày đám cưới. Phải chăng do tâm sinh tướng chăng!? Rồi còn một bà dâu nữa, bên ngoại, tiêu xài rất “rộng rãi”. Giỗ cha mẹ, mợ đãi khách đông vô số kể, với những món ăn toàn là thịt chúng sanh, loại đắt tiền. Cúng xong, còn đốt vàng mã nào là tàu bay, xe hơi, tiền đô Mỹ,...tốn cả triệu triệu đồng, gửi xuống âm phủ cho cha mẹ tiêu. Có lần còn đến am cầu hồn thỉnh vong ông bà về. Mợ khoe ông bà gặp mợ và mừng lắm. Rồi mợ kết luận: mợ đã trả hiếu cho cha mẹ xong. Thật là lạ! Những việc làm mê tín phung phí tiền của, lại còn khoe khoang, phát ra từ miệng của một người xuất thân từ một gia đình có học. Đó là những hình ảnh môn đăng hộ đối của những thân nhân nhà ta đó.
Bố mẹ ạ, với con, con chỉ cần người có đạo đức. Vì ông bà ta thường nói “sống có đức mặc sức mà ăn.” Con muốn kiếm đồng tiền từ khả năng, không chụp giựt, không hối lộ. Theo con, Quyến sẽ là người đủ tiêu chuẩn ấy để cùng con đi hết cuộc đời. Con rất buồn là Ba Mẹ đã nhìn cô ta với ý nghĩ không tốt. Nhưng những điều ấy có hợp với thực tế không? Ba Mẹ khinh cô ta có lai lịch không ra gì vì bị cha mẹ bỏ rơi. Sự thật con mới biết: cha mẹ cô ấy đã chết vì tai nạn ngay ngày đi vào nam tìm kế mưu sinh. Nhưng giờ con cứ giả dụ: cô ta bị cha mẹ ruồng bỏ đi. Điều đó có xấu không? Ba Mẹ nghĩ sao về một số trẻ sống trong các cô nhi viện được đưa đi nước ngoài sau năm 1975, nay họ đã đỗ đạt, thành tài? Có người còn giữ chức vụ quan trọng, phó thủ tướng, trong chính phủ một đất nước văn minh. Họ đã được biết bao người ngưỡng mộ vì họ thiếu tình thương của cha mẹ nhưng vẫn cố vươn lên để đóng góp với đời. Chứ những người còn cha, còn mẹ, việc thành công đâu có gì đáng nói.
Bây giờ, con xin Ba Mẹ hãy thử so sánh Quyến và Hường để xem ai là người đáng được nể trọng. Như con đã kể mẹ nghe Quyến là người có tâm từ bi đáng để mọi người học hỏi. Cô chẳng những đem lòng thương và giúp đỡ đồng loại mà còn xem việc cứu mạng sống của mọi loài như một việc làm cần phải có của mình. Cô làm vậy là nhờ tin sâu vào lý nhân quả. Một người ý thức được như thế, chắc chắn mọi việc làm sẽ nhắm vào các việc thiện, lành, mong có sự thăng hoa cho đời mình và người khác. Còn về Hường, con thấy cuộc sống cô ấy không có hướng đi tới chỗ thiện mỹ. Bạn bè thì kết giao với lớp thanh niên nam nữ ăn mặc quần áo lố lăng, tóc tai nhuộm màu sặc sỡ. Lại thêm, chỉ mới một năm rưỡi, cô ấy có tiền dư để tậu xe ô tô đời mới. Chỉ cần đánh giá hai người qua những điều con vừa nói thôi thì người bị cha mẹ ruồng bỏ và người có cha mẹ tâng tiu, chăm sóc như con cầu tự, ai đã tốt hơn ai?! Còn nói tới người đẹp và người xấu nữa để làm gì ?! Con nghe nói người đàn bà đẹp không có đạo đức như một bông hoa chỉ khoe sắc, chứ không có hương thơm thì làm sao còn giữ lại trong lòng người thưởng ngoạn sự ưa thích, luyến lưu.
Còn Ba Mẹ chê bà Biện dáng người xấu xí và làm nghề bán vé số nữa. Theo con, nhân cách con người không đánh giá qua dáng vẻ bề ngoài hay nghề nghiệp mà phải được xác định bằng phẩm chất đạo đức. Bà Biện nuôi Quyến từ hồi còn nhỏ, cho ăn học thành tài và dạy dỗ cô nên người có nhiều đức tính. Điều đáng khâm phục là trong thời gian đó, sự thu nhập hằng ngày của gia đình quá eo hẹp đến nỗi bà phải cố gắng hết mình ra ngồi ngoài trời bán vé số. Thử hỏi trong xã hội có mấy người dáng vẻ thanh lịch, giàu sang, phú quý, dám bỏ tiền ra nuôi một trẻ mồ côi ăn học đỗ đạt, làm được một việc như bà không?! Qua hai con người mà Ba Mẹ chê: Quyến và người được khen : Hường thì con thấy họ rất hợp với câu tục ngữ:
Cái nết đánh chết cái đẹp
Cái đẹp, chỉ tồn tại trong một thời gian, chẳng hạn, đến già sẽ mất. Còn cái nết đẹp, sẽ còn mãi mãi. Chính vì lẽ đó, con muốn sau khi thành hôn, hai chúng con sẽ cố làm đúng theo câu các cụ ta để lại:
Tổ Tiên Tích Đức Muôn Đời Thịnh.
Con Cháu Thảo Hiền Vạn Kiếp Vinh.(sưu tầm)
Cuối thư, con xin Ba Mẹ tha lỗi nếu con có nói điều gì không vừa lòng Ba Mẹ. Con hy vọng một ngày nào đó, Ba Mẹ sẽ hiểu và thương con nhiều hơn.
Kính thư,
Con: Lũy
Ông bà Lai đọc xong thư con rồi, trong lòng rất hậm hực vì nó chẳng giống ông bà chút nào. Dạy gì nó cũng chẳng nghe, chỉ biết theo cái Quyến mà nó cho là mẫu mực cần học theo. Ông bà rất thành kiến, rất ghét những người sống chẳng biết “ăn theo thuở, ở theo thời”. Xã hội bây giờ đang trong trào lưu đổi mới nên những thứ đã bị quên lãng, đã được cất giữ kỹ trong “viện bảo tàng” từ lâu như kiểu “tiên học lễ, hậu học văn”, “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, ...đâu còn hợp thời nữa mà nó cứ học đòi, lải nhải lặp đi, lặp lại hoài. Mỗi lần hè và Tết về, nó lại đem những điều nó cho là hay theo kiểu đó để nói với ông bà. Nó còn đem những chuyện đời của bà Biện và Quyến ra kể trong bữa ăn. Ông bà nghe đến chán ngấy mà cũng phải ráng ngồi ăn cho hết bữa cơm. Rồi Lũy còn đi xa hơn, nói xa xa, gần gần rằng một số nhà thầu làm các công trình cầu cống, đường sá chỉ được mấy năm đã hư, nứt. Họ mang tội nhiều lắm vì đã cắt xén của công đem làm “việc phải không” nên các dự án hoàn thành không đủ chất lượng. Ông tinh ý biết ngay con ông muốn nhắc ông tránh những việc như vậy để bớt mang tội. Nó còn nói bóng gió, nó không muốn thấy xảy ra cảnh cả nhà cùng hưởng mà chỉ một người lãnh nghiệp. Lúc ngồi rảnh, nhớ lại điều Lũy nói, ông cáu kỉnh nói với vợ:
-Con nhà tông mà nó chẳng giống lông, cũng chẳng giống cánh.
Sự buồn bực con của ông bà Lai cứ kéo dài từ ngày này qua tháng kia. Rồi một hôm, ông đọc báo, thấy một tin làm ông kinh hoàng. Ông cố bình tĩnh đọc lại và xác định rõ ràng tên, họ cùng quê quán của người phạm tội đúng là Hường, con gái bác Quốc. Cô đã dính líu trong một đường dây buôn lậu ma túy đi Úc. Ông liên tưởng ngay, thảo nào, thời gian gần đây, ông Quốc thường bỏ việc thầu đi Sài Gòn thường xuyên.
Vợ chồng ông lúc này mới vỡ lẽ, thấy bao nhiêu điều ông bà nghĩ về Hường đều sai hết. Trước đây, ông bà không tin những gì Lũy nói vì cứ nghĩ do Lũy không ưa Hường nên bịa chuyện nói xấu. Đã có lần, anh kể cho cha mẹ nghe chuyện Hường sống trác táng, bê tha trong các hộp đêm cùng những con cái nhà giàu khác. Ông bà đã mắng anh, bảo anh chỉ giỏi dựng chuyện phỉ báng người. Giờ họ đã nhận ra Lũy còn nhỏ tuổi nhưng thật sáng suốt trong sự đánh giá con người. Anh đã từng nói, tuổi trẻ thích ham chơi, tiêu xài hoang phí, rất dễ bị lôi kéo vào con đường tội lỗi.
Bỗng bà nhớ tới câu: “ Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính” Tới lúc này, bà thấy câu ấy rất hợp với ông bà. Rồi bà liên tưởng ngay tới những việc, mà bao lâu nay ông bà đã làm, là luôn dùng những mánh khóe, bợ đỡ, luồn lách để đạt mục đích làm giàu. Còn con trai bà, có bản tính thật thà, không tham của bất chính ngay từ nhỏ. Đặc biệt, nó rất thích đọc những sách dạy học làm người, nên có đồng nào, nó mua loại sách ấy về đọc. Vì vậy, nó thường nói với ông bà, sau này ra đời, nó sẽ sống theo phương châm “năng nhặt, chặt bị.” kiếm đồng tiền từ mồ hôi nước mắt, để lòng luôn nhẹ nhàng, thanh thản. Nó nói, cốt sao đêm nằm ngủ, dù có tiếng chó sủa hay tiếng động bên ngoài nhà, nó cũng chẳng sợ hãi, lo lắng gì. Bà hãnh diện có đứa con biết lấy đạo lý để sống với đời.
Tới lúc này, bà đã tin Lũy nhiều nên nghĩ tiếp. Câu tục ngữ “Cái nết đánh chết cái đẹp”, bà đã nghe từ thuở lên chín, lên mười, tưởng đã lỗi thời, thế mà nay áp dụng vào trường hợp đang trải qua sao hợp quá. Bà nghĩ, do việc đời lắm bon chen, đua đòi nên ông bà đã bị lôi cuốn chạy theo tiền tài, danh vọng. Từ đó, ông bà đã giả ngơ với những điều căn bản dạy làm con người lương thiện và đã lao mình vào những việc rất thiếu đạo đức...lại còn hợm mình khinh rẻ, nói nặng lời với những người luôn biết sống vì người khác... Ông bà cảm thấy tự hổ thẹn với lương tâm. Nhất là bà, câu tục ngữ ấy như xoáy vào tim vì những lời bôi nhọ để hạ nhục Quyến cứ lởn vởn mãi trong tâm, làm bà thấy hổ nhục với phong cách quý phái của mình. Rồi bà nhớ việc bà Biện nuôi Quyến và hình dáng chẳng đẹp mắt chút nào của bà ta. Thế mà, bà ấy đã được nhiều người quý mến, nể trọng nhờ làm một việc hiếm người làm được. Bà Lai nghĩ tới mình và càng cảm thấy xấu hổ nhiều hơn.
Trong rất nhiều ngày, câu: “Cái nết đánh chết cái đẹp” cứ vang vang mãi trong đầu, nhắc nhở bà nhớ đó là một chân lý muôn thuở, đừng bao giờ quên. Giờ bà mới nhận ra, bao nhiêu lời các cụ ta để lại cho đời, khuyên làm điều lành, thiện đều là những khuôn vàng thước ngọc đáng được trân quý và học hỏi, áp dụng. Bà nghĩ, bà có được những ý tưởng tốt đẹp này cũng nhờ Lũy. Bà mong muốn con bà sớm lập gia đình, để vợ chồng bà có được cơ hội, sống những ngày cuối đời bên những người luôn lấy sự liêm khiết làm lẽ sống và luôn muốn đem hạnh phúc lại cho người khác. Bà mong cả ông và bà sẽ cố gắng làm theo các con.
Bỗng bà Lai nhớ tới bữa giỗ mẹ bà tuần lễ trước. Bà mời bạn bè cùng quê tới dự rất đông. Họ nhắc lại những điều tốt của cụ. Họ nói, cụ một chữ cắn làm đôi không biết, vậy mà cụ nhớ ca dao, tục ngữ không ai hơn. Và có người thích thú đọc câu cụ thường nói:
“Bảy mươi chưa què, chớ khoe rằng lành” để răn dạy con cái. Một người khác còn giải thích thêm:
-Các cụ nói câu ấy là muốn con cái sống khiêm tốn. Đừng có chê bai, bôi xấu ai,... cho dù mình sống tới khi gần mãn cuộc đời.
Một người khác nhắc thêm một câu nữa của cụ:
“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
Xấu người, đẹp nết còn hơn đẹp người.”.
Bà Lai không chắc họ nói với ngụ ý gì, nhưng không hiểu sao khi nghe những câu ấy, bà thấy lòng xốn xang, ray rứt. Phần vì bà nghĩ bạn bè đã biết mọi việc bà đã làm với Quyến và bà Biện. Phần khác, bà nghĩ, họ muốn nói bóng gió cái đẹp của người đàn bà không gì quý bằng cái nết tốt.
Bà tự nhủ, tới cuối đời bà mới thấm thía một bài học rất đơn giản./.
