2. Thời thế ở nước Trung Hoa

20/03/201110:34(Xem: 13385)
2. Thời thế ở nước Trung Hoa

VĂN MiNH NHÀ PHẬT
Đoàn Trung Còn soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

Thời thế ở nước Trung Hoa

Từ xưa cho đến khi thành lập Dân quốc, nước Trung Hoa rộng lớn tuy có đủ văn minh, mỹ thuật, mà phần chính trị vẫn lộn xộn luôn. Trên hết là Hoàng đế với cả ngàn cung phi mỹ nữ, trong tay nắm đủ oai quyền, vận mạng của nhân dân. Rõ ràng là một bậc vinh hiển đặc biệt, lắm người trông thấy mà ham muốn vô cùng. Cho nên ngôi vua thường hay thay đổi, khi về một viên quan có đảng phái, lúc về một người có mưu trí hơn người. Vua thường mài miệt với cuộc vui chơi, rượu trà, mềm mại với điệu phú quý phong lưu, không mấy người biết lo vì dân chúng, tha hồ lả lơi nghiêng ngửa, và thế là bị đánh đổ đi. Rồi mỗi lần thay bậc đổi ngôi là mỗi lần có lộn xộn về nội trị. Lại thêm một nỗi về phía trên có một dân tộc hung hãn, là dân Mông Cổ, vẫn thường hay chờ thời mà kéo xuống cướp phá và cai trị.

Bởi những cuộc lộn xộn ấy, Phật giáo không được tiến bộ nhanh ở Trung Hoa. Khi con người mãi lo việc mang cung lên ngựa, vướng mắc vào việc chiến tranh, đảng này phe nọ, ai cũng lo giữ lấy phần mình và giật lấy phần người, ai cũng theo đuổi sự trung thành với đảng phái mình, theo đuổi nghĩa vụ của con nhà tướng trải gan giúp nước, người ta rất hững hờ với đạo lý từ bi. Trong cuộc đánh giết nhau, người ta ngỡ rằng kẻ giết người nhiều hơn hết là hạng anh hùng đáng kính. Dẫu có chết cũng được làm thánh thần. Thế là càng giết lại càng hay! Vậy nên Phật giáo truyền bá qua Trung Hoa trước thế kỷ đầu theo dương lịch, mà mãi đến khi ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh về mới được hưng thịnh.

Vào đời vua Lương Võ Đế, khoảng năm 520 đã có Đạt Ma Tổ sư qua mở đạo ở Trung Hoa, nhưng rất lấy làm khó nhọc nguy nan. Vì lúc đạo Phật qua Trung Hoa thì đạo Khổng đang mạnh, quan quyền và các nhà quý tộc đều là nhà Nho, họ bảo thủ đạo Khổng mà đánh đổ đạo Phật luôn. Họ bảo thủ một cách rất cố chấp và thiên lệch, cho rằng nếu dân theo Phật giáo thì không còn biết trung thành với vua, với nước, không còn biết cư xử theo nhân luân, làm tuyệt dòng giống và giảm số người! Họ được vua tin nghe. Song đạo Phật nhờ trọng sự từ, bi, hỷ, xả nên dần dần hưng thịnh. Và cũng có nhiều nhà có thế lực, phú gia, đại thần, tể tướng cổ động và truyền bá ra, đến các vị vua cũng nhận làm Chánh đạo cho dân thờ. Cho nên đạo Phật càng ngày càng mạnh và lan ra khắp nơi. Đến sau ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh sách về, bèn gia công dịch lại. Nhất là việc Ngài dịch và bổ cứu ba tạng kinh, tức là giáo lý đạo Phật.

Một đàng Đạt Ma Tổ sư đem Chánh pháp truyền qua, kế đó các sư Tây-vức tiếp tục truyền vào; một đàng khác ngài Huyền Trang thỉnh kinh rước Phật bên Ấn Độ về. Nước Trung Hoa nhờ thọ lấy cái tinh thần Phật giáo nơi mấy vị mà nền văn minh càng thêm sáng rỡ, tinh anh.

Con người nhiều khi bị nạn khổ như nạn đao binh mà hồi tâm hướng thiện, bèn nương theo giáo lý từ bi, biết trông lên mà vái lạy Phật trời.









Bức tranh Tổ Bồ-đề


Đạt-ma này được vẽ

từ thế kỷ 15, đề tựa là

Lão Hồ phương Tây.



Bồ-đề Đạt-ma (菩Đ提ß_磨), Bodhidharma


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/11/2010(Xem: 24342)
Hành giả Bồ Tát phải tích cực hành Bồ Tát hạnh, nghĩa là mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ý niệm đều hướng về chúng sinh, vì lợi ích chúng sinh.
26/10/2010(Xem: 3635)
Trong thế giới loài người có một vị Bồ tát ai cũng có thể biết như một vị cứu tinh. Ngài có trái tim yêu thương và hiểu biết, luôn mở rộng tấm lòng nhân ái chẳng nỡ bỏ một ai đau khổ. Ngài chính là Bồ tát Quán Thế Âm. Khi nghe ai trong khốn khổ, khó khăn, tuyệt vọng tâm niệm đến Ngài thì Ngài liền ra tay cứu giúp và nâng đỡ.
22/10/2010(Xem: 8643)
Một trong những phương pháp nghiên cứu mới nhất do Daniel Overmyer đề xướng (1998) trong lãnh vực khoa học nhân văn hiện đang được các nhà học giả áp dụng được gọi là « THF » (Text, History & Field Work), tức là phối hợp sử dụng các sử liệu và văn bản kèm theo với việc đi khảo sát thực tế. Áp dụng phương pháp này, và xem đó như là một phương cách hữu hiệu trong việc nghiên cứu lịch sử tôn giáo Trung Quốc, GS/TS. Chun Fang Yu (Vu Phương Quân), Khoa Trưởng Phân Khoa Tôn Giáo Đại Học The State University of New Jersey, HK, trong một tác phẩm mới nhất của bà, nhan đề « Quán Âm » đã cống hiến cho chúng ta một công trình nghiên cứu xuất sắc và đầy đủ nhất từ trước đến nay liên quan đến Bồ Tát Quán Thế Âm.
21/10/2010(Xem: 6550)
Sau khi thành đạo, Đức Phật đã phổ biến con đường giác ngộ cho nhiều người. Giác ngộ là vô cùng quí báu vì đó là con đường đưa đến sự giải thoát tối thượng của Niết bàn.
03/10/2010(Xem: 4102)
Mọi người Phật tử khi nhắc đến Đức Quán Thế Âm (Avalokites) nghĩa là lắng nghe tiếng kêu của cuộc đời , người Việt Nam dù là Phật tử hay chưa phải là Phật tử đều có một khái niệm chung là vị Bồ tát hay cứu khổ cứu nạn cho mọi người, điều này đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người và Quán Thế Âm trở thành một biểu trưng cho lòng từ bi của Phật giáo. Quán Thế Âm dân gian ta gọi tắt là Quán Am, nhìn chung Ngài là vị Bồ tát thể hiện lòng Bi, một trong hai đức của Phật tánh: Văn Thù biểu trưng cho trí tuệ thì Quán Thế Âm biểu trưng cho đức từ bi của Phật. Đã từ lâu, Đức Quán Thế Âm được nhiều người Việt Nam tôn kính và thờ phụng tin tưởng rất phổ biến , nhất là trong lúc gặp khó khăn hoạn nạn đều hướng về Ngài như là một vị cứu tinh vì danh hiệu Ngài là "Cứu khổ cứu nạn". Những năm gần đây, niềm tin này lại được bộc lộ qua việc thờ Quán Thế Âm ở tại tư gia nhất là" lộ thiên" (ngoài trời nơi sân thượng). Việc thờ Quán Thế Âm là một niềm tin mang tinh thầnTừ bi của Đạo Phật nó còn là biể
03/10/2010(Xem: 4531)
Hành Trì Pháp Quán Thế Âm
26/09/2010(Xem: 11383)
Sự tích 16 vị La-hán được chép trong sách Pháp Trụ Ký. Sách này do vị Đại A-la-hán Nan Đề Mật Đa La (Nandimitra) trước thuật và Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang (600-664) dịch ra chữ Hán. Ngài Nan Đề Mật Đa La (còn có tên là Khánh Hữu) người Tích Lan, ra đời khoảng năm 800 năm sau Phật Niết bàn. Theo Pháp Trụ Ký (Fachu-chi), thì Ngài chỉ lược thuật lại kinh Pháp Trụ Ký do Phật thuyết giảng mà thôi...
22/09/2010(Xem: 23524)
Nói đến Phật giáo, người ta nghĩ ngay đến đạo Từ bi cứu khổ.Mà hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất thiết tưởng không ai khác hơn làđức Bồ tát Quan Thế Âm, hay Mẹ hiền Quan Âm. Vì vị Bồ tát này có đầy đủ phẩmchất của một người mẹ trong tất cả những người mẹ. Hình như trong mọi trái timcủa những người con Phật thuần thành nhất là giới Phật tử bình dân không ai làkhông không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ tát giàu lòng bi mẫn này...
21/09/2010(Xem: 5022)
Chúng ta nhìn thấy trên đây bức hình của pho tượng Bồ Tát Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt bằng gỗ sơn son thiếp vàng, cao 3 mét 60 đang được tôn trí tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật, Hà Nội, Việt Nam. Pho tượng nầy đã được phục chế theo mẫu của pho tượng Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt đang được trân quý và giữ gìn tại Chùa Ninh Phúc còn gọi là Chùa Bút Tháp tại tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Những đường nét tinh tế, điêu luyện và sự bố cục cân đối trong tư thế ngồi rất hùng tráng của pho tượng đã đạt đến đỉnh cao mỹ thuật của Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ thứ 17. Đã nhiều lần, pho tượng đã được đem đi ra ngoại quốc để triển lãm. Hiện nay, pho tượng nầy đã được dùng làm tượng mẫu để điêu khắc hàng nghìn pho tượng lớn nhỏ khác nhau bởi nhiều điêu khắc gia tài ba lỗi lạc đã được thỉnh về tôn trí rất nhiều nơi trong nước cũng như rất nhiều chùa viện tại hải ngoại. (Hình trên là pho tượng Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt (cao 3.60 mét) đang được tôn trí tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật, Hà Nội)
17/09/2010(Xem: 7185)
Tôn giả A Nan (Ananda) là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, người được mệnh danh là rất uyên thâm trong nhiều lĩnh vực và có trí nhớ siêu phàm (đa văn đệ nhất).