Khi Thầy Sai Chánh Pháp

12/03/202618:41(Xem: 479)
Khi Thầy Sai Chánh Pháp


Phat thuyet phap 1a


Khi Thầy Sai Chánh Pháp

Nguyên Giác

Thỉnh thoảng, các mạng xã hội của cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước lại nổi lên sóng gió về chuyện các nhà sư nói sai Chánh pháp, hay sống không phù hợp với Chánh pháp. Chuyện đó bây giờ xảy ra thường hơn, tới nổi rất nhiều người trong chúng ta lại cố ý bỏ qua, hy vọng chuyện này sẽ sớm được quên. Tuy nhiên, khi bên cạnh nhà sư xuất hiện thêm một phụ nữ, chuyện lại tăng thêm một bậc sôi nổi để trở thành các phim bộ kiểu mới. Tình, tiền... Biết làm sao bây giờ? Không lẽ chúng ta cứ mãi lặp lại lời dạy rằng hãy y Pháp, chứ đừng y nhơn. Rằng hãy nương dựa vào Pháp, chứ đừng nương dựa theo người...

Đức Phật ngày xưa trong Kinh SN 47.9 cũng đã nói như thế. Không chỉ nói như thế, Đức Phật còn nói mạnh hơn nữa, rằng chúng sinh cũng đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa, nguyên văn rằng “chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta...” mà mỗi người hãy trở thành một hòn đảo tự thân. Thậm chí, Đức Phật nói mạnh hơn nữa, rằng Ngài cũng kêu gọi đừng “ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo...” Nghĩa là, Đức Phật xua hết mọi người ra xa, rằng đừng theo sát bên ngài, rằng hãy về góc rừng mà tu đi, rằng người cầm đầu chính là tự thân quý vị khi sống theo Chánh pháp, chứ không phải một ông thầy nào tự khoe đã tu tới tầng thiền thứ chín hay thứ mười chín...

Nghĩa là, Phật tử khi đến với một vị thầy chỉ nên nhằm để được học, hiểu và tu theo Chánh pháp. Trường hợp thấy vị thầy không giữ giới hay giảng sai Chánh pháp, thì Phật tử nên tránh xa họ. Các học giả Phật giáo chân chánh đã liên tục nói rằng đừng có ai níu theo vạt áo của một vị thầy nào đó bởi vì có thể bị thầy dẫn dụ vào những mê lộ chi đó.

Vậy mà thời này có rất nhiều nhà sư và cư sĩ tự cho mình là bậc giác ngộ, là vô thượng sư, là giáo chủ, là đại thiền sư để rồi dựng lập các giáo phái mới lạ. Trrong khi đó, cũng có những người mưu mô khai thác tiền, tình, và đủ thứ chuyện gian ác. Điều nguy hiểm nhất của các trò cửa quỷ nhà ma đó là: Chánh pháp bị đẩy lui vào các trang sách cổ, và hiển lộ trên sân khấu là các kịch sĩ mang mặt nạ tà kiến. Bi thảm là: những người tin vào các vị thầy nói sai, sống sai, và đi sai Chánh pháp đó biết bao giờ mới tỉnh ngộ được.

Đức Phật sống rất từ ái, không hề quan liêu, quan cách. Ngài luôn luôn nghĩ tới lợi ích cho chúng sinh trước. Chúng ta trích Kinh SN 47.9 qua bản dịch của Thầy Minh Châu nơi đây, sẽ thấy Đức Phật không muốn ai theo Đức Phật, mà chỉ muốn mọi người hãy theo Chánh pháp và hãy theo sống như hòn đảo chính mình, trích:

 

“...Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống”. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống.....

....Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

—Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.

—Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ānanda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ānanda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo Sư còn nắm tay. Này Ānanda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo, hay: Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không có nghĩ rằng: “Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”, hay “Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta”, thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? [...] Vậy này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.... (1)

 

Có cách nào nhận ra một vị thầy dỏm, trong trường hợp thầy này học giỏi, thuộc nhiều kinh và thuyết pháp xuất sắc hay không? Có trường hợp như thế: trong Tích Truyện Pháp Cú số 19, kể rằng người học giả thuộc nhiều kinh, thuyết pháp xuất sắc mà không tu hành thì vẫn phải gọi là thầy dỏm. Kinh Pháp Cú 19, bản dịch Thầy Minh Châu là:

19- "Nếu người nói nhiều kinh,

Không hành trì, phóng dật;

Như kẻ chăn bò người,

Không phần Sa môn hạnh."

Truyện tích này kể rằng, ngày xưa, có hai vị sư xuất thân từ gia đình quý tộc, đều là bạn của nhau. Một người học thuộc lòng toàn bộ kinh điển Phật giáo và rất giỏi tụng đọc cũng như thuyết giảng kinh điển. Vị này chưa hề chứng quả gì vì không có thì giờ tu hành, nhưng đã làm thầy dạy cho năm trăm vị Tỳ kheo và trở thành người hướng dẫn cho mười tám nhóm Tỳ kheo. Ngược lại, vị Tỳ kheo kia sống ẩn dật, siêng năng và nhiệt thành tu tập Thiền quán, đã đạt được quả vị A La Hán.

Một lần nọ, khi vị Tỳ kheo thứ hai đến bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật tại tu viện Jetavana, hai vị sư gặp nhau. Vị giảng sư nổi tiếng không biết rằng nhà sư bạn mình đã trở thành A La Hán, nên coi thường người kia, nghĩ rằng vị sư già ưa ẩn dật kia biết rất ít về kinh điển. Vì vậy, nhà sư học giả nghĩ đến việc đặt câu hỏi cho nhà sư kia, để làm cho người đó xấu hổ. Đức Phật biết về ý định bất thiện của vị học giả đó, và Ngài cũng biết rằng, do gây phiền hà cho một đệ tử cao quý như vậy, vị học giả ấy sẽ tái sinh vào cõi thấp hơn.

Vì vậy, vì lòng từ bi, Đức Phật đã đến thăm hai nhà sư để ngăn vị học giả kia chất vấn vị tỳ kheo còn lại. Chính Đức Phật đã chất vấn. Ngài đặt câu hỏi về thiền định và khổ hạnh cho vị sư học giả, và dù thuộc nhiều bộ kinh Nikaya nhưng vị sư học giả không thể trả lời được vì vị sư chưa thực hành những gì mình đã dạy. Trong khi đó, vị sư kém nổi tiếng kia, nhờ đã thực hành Chánh pháp và đạt được quả vị A La Hán nên đã trả lời tất cả các câu hỏi của Đức Phật.

Đức Phật khen ngợi người đã thực hành Chánh pháp, nhưng không một lời khen ngợi nào dành cho vị sư học giả. Các đệ tử không hiểu tại sao Đức Phật lại khen ngợi vị sư ngó vẻ quê mùa mà không khen ngợi vị thầy uyên bác của họ. Vì vậy, Đức Phật đã giải thích cho họ. Rằng học giả biết nhiều nhưng không thực hành theo Chánh pháp giống như người chăn bò, trông nom bò để kiếm tiền công, trong khi người thực hành theo Chánh pháp giống như người chủ được hưởng năm loại sản phẩm từ đàn bò.

Như thế, nhóm 500 người học trò của nhà sư học giả còn may mắn vì được tham dự Pháp hội mà trong đó Đức Phật đặt câu hỏi cho hai vị thầy --- một vị học mà không hành, và một vị tu hành thâm sâu cho dù không thuộc nhiều kinh điển. Chúng ta thời này không có may mắn dự các Pháp hội như thế. Cho nên, đành phải tự mình đặt các câu hỏi để tự đo lường các vị thầy của mình, xem các thầy có tu hành thực sự hay không, hay chỉ nói mà không tu, hay đã nói sai và tu cũng sai...

Chúng ta cũng nên nhớ rằng khi theo một vị thầy dạy sai, có thể cả thầy và trò chúng ta sẽ cùng rủ nhau vào địa ngục. Như trường hợp ngài Angulimala, khi còn là một thanh niên, đã chọn nhầm thầy, may sau được đích thân Đức Phật cứu. Khi ngài Angulimala còn tên là  Ahimsaka đã được vị thầy Bà La Môn dạy pháp thuật, dạy phải giết một ngàn người, chặt ngón tay của họ xâu chuỗi cho đủ một ngàn ngón tay rồi sẽ họp phép. Nếu không có cơ duyên Đức Phật cứu, thì con đường của cậu du sĩ Ahimsaka chắc chắn là theo bà La Môn ngoại đạo kia vào địa ngục vì sát nghiệp.

Hay như trường hợp Devadatta (Đề Bà Đạt Đa), tu tới tứ thiền, chứng đắc nhiều pháp thần thông, nhưng vì kiêu ngạo muốn làm giáo chủ nên đã phạm đủ thứ tội, kể cả tội phá hòa hợp tăng, và kết quả hiển lộ trước mắt nhiều người chứng kiến: đất sụp lở, mở ra hang tối, hút toàn thân Devadatta xuống địa ngục.

Bạn hãy suy nghĩ, khi một người thời nay gặp một vị sư tài giỏi như Devadatta, có nhiều pháp thần thông, hẳn là người đó sẽ tin nhầm lẫn rằng đó là một thánh tăng. Thời xưa cũng thế. Devadatta đã sử dụng sức mạnh siêu nhiên để thao túng Hoàng tử Ajatashatru, cuối cùng xúi giục hoàng tử giết cha là Vua Bimbisara.

Tội nặng cũng là phá hòa hợp tăng: Devadatta đã cố gắng tạo ra sự chia rẽ trong Tăng đoàn bằng cách dẫn dắt sai lạc những vị sư mới thọ giới chưa hoàn toàn hiểu rõ Phật pháp. Devadatta cũng từng cố gắng ám sát Đức Phật bằng cách lăn một tảng đá xuống núi, nhưng cuối cùng chỉ làm bị thương ngón chân của Đức Phật.

Kinh Phật cảnh báo rằng một người thầy bất thiện hoặc ngu dốt giống như một "thuyền trưởng tồi" hoặc một "con rắn độc". Nếu một người thầy không thể truyền đạt Phật pháp đúng đắn, họ sẽ "cắn" học trò của mình bằng những lời khuyên sai lầm, dẫn cả bản thân và những người theo họ đến đau khổ và "cái chết mà không hiểu được Phật pháp".

Nói ngắn gọn, người tu chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, luôn luôn nương dựa vào Chánh pháp, tự mình là hòn đảo tự thân. Chúng ta nên nhìn vị thầy như người dạy chúng ta bước vào Chánh pháp, nhưng hãy luôn luôn cảnh giác rằng vị thầy mình có thể đang phạm giới, có thể chưa chịu tinh tấn tu hành, có thể chưa hiểu rõ kinh điển, có thể đang dạy sai Chánh pháp, có thể đang muốn dẫn chúng ta vào một phim bộ tham sân si nào đó...

Hãy nhớ, Đức Phật dặn dò rất kỹ lưỡng, rằng chúng sinh đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa, mà “hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác...

Chúng ta yêu thương thầy như yêu thương cha mẹ... nhưng hãy luôn luôn nhớ lời Đức Phật dạy rằng “đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa” huống gì là mong mỏi nơi các vị thầy. Nếu vị thầy không giữ được chức năng ngón tay chỉ trăng, chúng ta hãy ngưng lại, chớ đi theo, và đừng có nắm theo vạt áo thầy nữa.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 47.9: https://suttacentral.net/sn47.9/vi/minh_chau

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/07/2015(Xem: 13202)
Cách đây mấy tuần mình được tặng cuốn sách “Khu vườn bí mật”. Đây là cuốn sách tô màu dành cho người lớn mà người ta hay gọi là tô màu cảm xúc hay coloring book. Mình thật bất ngờ về những nét vẽ tinh xảo của tác giả Iohanna Basford.Mình không thể tin nổi những bức vẽ với hàng trăm họa tiết rất tinh xảo lạ kỳ đến vậy. Và mình cầm bút chì màu bắt đầu tô. Mình cứ tô theo cảm xúc và không bị bất cứ cái gì trói buộc mình. Minh nhập tâm, nhập hồn vào việc tô màu. Cuối cùng, tác phẩm đầu tay của chính mình ra đời. Mình mang ngay bức tranh mà mình đã tô xong treo lên và ngắm. Mình thích vô cùng. Hóa ra rằng tô màu cảm xúc của cuốn sách “Khu vườn bí mật” giúp mình thư giãn rất tuyệt vời. Mình cứ nghĩ, nếu bạn nào bj stress bởi cuộc sống thì đây là người bạn tốt nhất. Cứ ngồi vào và tô là mọi căng thẳng, bực bội tan biến hết ngay.
12/07/2015(Xem: 12760)
Từ trong tâm khảm mình con cảm ơn mẹ đã cho con một lần sinh, một lần ra đời. Mẹ đã nâng niu nhẹ nhàng từng bước đi chậm chạp, lúc cất tiếng khóc chào đời.
01/07/2015(Xem: 33901)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 5736)
Mẹ tôi qua đời đã hơn 10 năm rồi, nhưng cái bếp thân yêu, như là chỗ ghi nhớ bóng dáng mẹ, thì vẫn được các em tôi dùng làm nơi đun nước hàng ngày...
23/06/2015(Xem: 17021)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa
21/06/2015(Xem: 4998)
Mật độ con người trên thế giới hiện nay mỗi lúc một tăng lên dần, nên tất cả những nhu cầu cho đời sống con người từ nhiều phía, nhằm để cung ứng phục vụ, như : sự ăn, mặc, ở, bệnh, các phuơng tiện đi lại, các phương tiện thông tin khoa học, các thông tin tri thức nhân sinh và vũ trụ.v.v… Trong đó, vấn đề nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, hiện hóa vào cuộc sống của con người qua mọi hình thức biểu tượng, cho niềm tin và ước nguyện cũng cần phải thực hiện đến.
18/06/2015(Xem: 8800)
Người có dừng chân trên bến sông Bên kia đồi cỏ núi mây trùng Bên này chim rủ nhau về hội Cùng hẹn hò thăm chuối trổ bông.
13/06/2015(Xem: 7127)
Tôi không quen biết nhà thơ Trần Hậu, chưa được gặp anh một lần nào. Trong một lần vô tình (qua nhạc sĩ Trần Đức Tâm), nhìn thấy và giở trang bìa tập thơ “Biển Đời Trăn Trở” của anh , ngay sáu câu thơ đầu dùng làm lời tựa trong bài thơ Trăn Trở đã cuốn hút tôi nhanh chóng. Làm như vậy có lẽ nhà thơ nghĩ rằng thơ là hơi thở, là cuộc sống và là cung cách của riêng mình, cho nên dùng chính lời thơ ấy để nói lên điều mình muốn nói, thay vì nhờ cậy một ai đó viết lời giối thiệu. Chính những dòng đó như chứng minh với mọi người rằng chân lý Phật đà luôn hiện hữu quanh ta, trong khổ đau cũng như trong hạnh phúc. Mà dường như điều tưởng nhỏ nhoi ấy ai cũng dễ dàng nhận ra, đôi khi chỉ bằng cảm quan chung quanh, những cảm quan mang tên rất “Như Thị”.(đính kèm ảnh tập thơ)
01/06/2015(Xem: 4486)
Kim Tiếng thương mến, Vẫn biết rằng "Đời là vô thường". Nhưng mình vẫn bàng hoàng xúc động khi hay tin Kim Tiếng đã ra đi. Chỉ trong vòng có hai ngày mà trường Sương Nguyệt Anh thân yêu của chúng ta đã mất đi hai Thầy Cô: - Cô Dương Kim Tiếng: 5-5-2015 - Thầy Giáp Bằng Phan: 6-5-2015
29/05/2015(Xem: 5485)
Năm học lớp sáu, lần đầu tiên tôi được đến chùa. Chiếc xích-lô bỏ mẹ con tôi phía trước con đường nhỏ, nhìn vào bên trong thấy sâu hun hút. Đi bộ một quãng, bước qua cổng tam quan đồ sộ là chiếc sân rộng với nhiều gốc cây cổ thụ. Sân vắng người. Một con chó to và mập từ bên trong chạy ra cong đuôi sủa. Một cô ni đon đả bước ra chào hỏi rồi dẫn mẹ con tôi đến dãy nhà lớn. Mẹ bảo tôi bỏ dép rồi bước lên những bậc cấp cao. Nơi căn phòng đầu tiên, vị sư tuổi ngoài ba mươi, người tầm thước, da láng lẩy, khuôn mặt hiền từ, vài lời xã giao với mẹ tôi rồi lại dẫn đến một căn phòng khác. Tôi thấy vị sư cũng như mẹ tôi quỳ xuống lạy một vị hòa thượng to lớn, đẫy đà có lẽ là đau ốm nên nằm trên chiếc võng xanh. Tôi nấp bên sau lấm lét nhìn.