Khi Thầy Sai Chánh Pháp

12/03/202618:41(Xem: 786)
Khi Thầy Sai Chánh Pháp


Phat thuyet phap 1a


Khi Thầy Sai Chánh Pháp

Nguyên Giác

Thỉnh thoảng, các mạng xã hội của cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước lại nổi lên sóng gió về chuyện các nhà sư nói sai Chánh pháp, hay sống không phù hợp với Chánh pháp. Chuyện đó bây giờ xảy ra thường hơn, tới nổi rất nhiều người trong chúng ta lại cố ý bỏ qua, hy vọng chuyện này sẽ sớm được quên. Tuy nhiên, khi bên cạnh nhà sư xuất hiện thêm một phụ nữ, chuyện lại tăng thêm một bậc sôi nổi để trở thành các phim bộ kiểu mới. Tình, tiền... Biết làm sao bây giờ? Không lẽ chúng ta cứ mãi lặp lại lời dạy rằng hãy y Pháp, chứ đừng y nhơn. Rằng hãy nương dựa vào Pháp, chứ đừng nương dựa theo người...

Đức Phật ngày xưa trong Kinh SN 47.9 cũng đã nói như thế. Không chỉ nói như thế, Đức Phật còn nói mạnh hơn nữa, rằng chúng sinh cũng đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa, nguyên văn rằng “chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta...” mà mỗi người hãy trở thành một hòn đảo tự thân. Thậm chí, Đức Phật nói mạnh hơn nữa, rằng Ngài cũng kêu gọi đừng “ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo...” Nghĩa là, Đức Phật xua hết mọi người ra xa, rằng đừng theo sát bên ngài, rằng hãy về góc rừng mà tu đi, rằng người cầm đầu chính là tự thân quý vị khi sống theo Chánh pháp, chứ không phải một ông thầy nào tự khoe đã tu tới tầng thiền thứ chín hay thứ mười chín...

Nghĩa là, Phật tử khi đến với một vị thầy chỉ nên nhằm để được học, hiểu và tu theo Chánh pháp. Trường hợp thấy vị thầy không giữ giới hay giảng sai Chánh pháp, thì Phật tử nên tránh xa họ. Các học giả Phật giáo chân chánh đã liên tục nói rằng đừng có ai níu theo vạt áo của một vị thầy nào đó bởi vì có thể bị thầy dẫn dụ vào những mê lộ chi đó.

Vậy mà thời này có rất nhiều nhà sư và cư sĩ tự cho mình là bậc giác ngộ, là vô thượng sư, là giáo chủ, là đại thiền sư để rồi dựng lập các giáo phái mới lạ. Trrong khi đó, cũng có những người mưu mô khai thác tiền, tình, và đủ thứ chuyện gian ác. Điều nguy hiểm nhất của các trò cửa quỷ nhà ma đó là: Chánh pháp bị đẩy lui vào các trang sách cổ, và hiển lộ trên sân khấu là các kịch sĩ mang mặt nạ tà kiến. Bi thảm là: những người tin vào các vị thầy nói sai, sống sai, và đi sai Chánh pháp đó biết bao giờ mới tỉnh ngộ được.

Đức Phật sống rất từ ái, không hề quan liêu, quan cách. Ngài luôn luôn nghĩ tới lợi ích cho chúng sinh trước. Chúng ta trích Kinh SN 47.9 qua bản dịch của Thầy Minh Châu nơi đây, sẽ thấy Đức Phật không muốn ai theo Đức Phật, mà chỉ muốn mọi người hãy theo Chánh pháp và hãy theo sống như hòn đảo chính mình, trích:

 

“...Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống”. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống.....

....Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

—Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.

—Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ānanda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ānanda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo Sư còn nắm tay. Này Ānanda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo, hay: Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không có nghĩ rằng: “Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”, hay “Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta”, thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? [...] Vậy này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.... (1)

 

Có cách nào nhận ra một vị thầy dỏm, trong trường hợp thầy này học giỏi, thuộc nhiều kinh và thuyết pháp xuất sắc hay không? Có trường hợp như thế: trong Tích Truyện Pháp Cú số 19, kể rằng người học giả thuộc nhiều kinh, thuyết pháp xuất sắc mà không tu hành thì vẫn phải gọi là thầy dỏm. Kinh Pháp Cú 19, bản dịch Thầy Minh Châu là:

19- "Nếu người nói nhiều kinh,

Không hành trì, phóng dật;

Như kẻ chăn bò người,

Không phần Sa môn hạnh."

Truyện tích này kể rằng, ngày xưa, có hai vị sư xuất thân từ gia đình quý tộc, đều là bạn của nhau. Một người học thuộc lòng toàn bộ kinh điển Phật giáo và rất giỏi tụng đọc cũng như thuyết giảng kinh điển. Vị này chưa hề chứng quả gì vì không có thì giờ tu hành, nhưng đã làm thầy dạy cho năm trăm vị Tỳ kheo và trở thành người hướng dẫn cho mười tám nhóm Tỳ kheo. Ngược lại, vị Tỳ kheo kia sống ẩn dật, siêng năng và nhiệt thành tu tập Thiền quán, đã đạt được quả vị A La Hán.

Một lần nọ, khi vị Tỳ kheo thứ hai đến bày tỏ lòng tôn kính Đức Phật tại tu viện Jetavana, hai vị sư gặp nhau. Vị giảng sư nổi tiếng không biết rằng nhà sư bạn mình đã trở thành A La Hán, nên coi thường người kia, nghĩ rằng vị sư già ưa ẩn dật kia biết rất ít về kinh điển. Vì vậy, nhà sư học giả nghĩ đến việc đặt câu hỏi cho nhà sư kia, để làm cho người đó xấu hổ. Đức Phật biết về ý định bất thiện của vị học giả đó, và Ngài cũng biết rằng, do gây phiền hà cho một đệ tử cao quý như vậy, vị học giả ấy sẽ tái sinh vào cõi thấp hơn.

Vì vậy, vì lòng từ bi, Đức Phật đã đến thăm hai nhà sư để ngăn vị học giả kia chất vấn vị tỳ kheo còn lại. Chính Đức Phật đã chất vấn. Ngài đặt câu hỏi về thiền định và khổ hạnh cho vị sư học giả, và dù thuộc nhiều bộ kinh Nikaya nhưng vị sư học giả không thể trả lời được vì vị sư chưa thực hành những gì mình đã dạy. Trong khi đó, vị sư kém nổi tiếng kia, nhờ đã thực hành Chánh pháp và đạt được quả vị A La Hán nên đã trả lời tất cả các câu hỏi của Đức Phật.

Đức Phật khen ngợi người đã thực hành Chánh pháp, nhưng không một lời khen ngợi nào dành cho vị sư học giả. Các đệ tử không hiểu tại sao Đức Phật lại khen ngợi vị sư ngó vẻ quê mùa mà không khen ngợi vị thầy uyên bác của họ. Vì vậy, Đức Phật đã giải thích cho họ. Rằng học giả biết nhiều nhưng không thực hành theo Chánh pháp giống như người chăn bò, trông nom bò để kiếm tiền công, trong khi người thực hành theo Chánh pháp giống như người chủ được hưởng năm loại sản phẩm từ đàn bò.

Như thế, nhóm 500 người học trò của nhà sư học giả còn may mắn vì được tham dự Pháp hội mà trong đó Đức Phật đặt câu hỏi cho hai vị thầy --- một vị học mà không hành, và một vị tu hành thâm sâu cho dù không thuộc nhiều kinh điển. Chúng ta thời này không có may mắn dự các Pháp hội như thế. Cho nên, đành phải tự mình đặt các câu hỏi để tự đo lường các vị thầy của mình, xem các thầy có tu hành thực sự hay không, hay chỉ nói mà không tu, hay đã nói sai và tu cũng sai...

Chúng ta cũng nên nhớ rằng khi theo một vị thầy dạy sai, có thể cả thầy và trò chúng ta sẽ cùng rủ nhau vào địa ngục. Như trường hợp ngài Angulimala, khi còn là một thanh niên, đã chọn nhầm thầy, may sau được đích thân Đức Phật cứu. Khi ngài Angulimala còn tên là  Ahimsaka đã được vị thầy Bà La Môn dạy pháp thuật, dạy phải giết một ngàn người, chặt ngón tay của họ xâu chuỗi cho đủ một ngàn ngón tay rồi sẽ họp phép. Nếu không có cơ duyên Đức Phật cứu, thì con đường của cậu du sĩ Ahimsaka chắc chắn là theo bà La Môn ngoại đạo kia vào địa ngục vì sát nghiệp.

Hay như trường hợp Devadatta (Đề Bà Đạt Đa), tu tới tứ thiền, chứng đắc nhiều pháp thần thông, nhưng vì kiêu ngạo muốn làm giáo chủ nên đã phạm đủ thứ tội, kể cả tội phá hòa hợp tăng, và kết quả hiển lộ trước mắt nhiều người chứng kiến: đất sụp lở, mở ra hang tối, hút toàn thân Devadatta xuống địa ngục.

Bạn hãy suy nghĩ, khi một người thời nay gặp một vị sư tài giỏi như Devadatta, có nhiều pháp thần thông, hẳn là người đó sẽ tin nhầm lẫn rằng đó là một thánh tăng. Thời xưa cũng thế. Devadatta đã sử dụng sức mạnh siêu nhiên để thao túng Hoàng tử Ajatashatru, cuối cùng xúi giục hoàng tử giết cha là Vua Bimbisara.

Tội nặng cũng là phá hòa hợp tăng: Devadatta đã cố gắng tạo ra sự chia rẽ trong Tăng đoàn bằng cách dẫn dắt sai lạc những vị sư mới thọ giới chưa hoàn toàn hiểu rõ Phật pháp. Devadatta cũng từng cố gắng ám sát Đức Phật bằng cách lăn một tảng đá xuống núi, nhưng cuối cùng chỉ làm bị thương ngón chân của Đức Phật.

Kinh Phật cảnh báo rằng một người thầy bất thiện hoặc ngu dốt giống như một "thuyền trưởng tồi" hoặc một "con rắn độc". Nếu một người thầy không thể truyền đạt Phật pháp đúng đắn, họ sẽ "cắn" học trò của mình bằng những lời khuyên sai lầm, dẫn cả bản thân và những người theo họ đến đau khổ và "cái chết mà không hiểu được Phật pháp".

Nói ngắn gọn, người tu chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, luôn luôn nương dựa vào Chánh pháp, tự mình là hòn đảo tự thân. Chúng ta nên nhìn vị thầy như người dạy chúng ta bước vào Chánh pháp, nhưng hãy luôn luôn cảnh giác rằng vị thầy mình có thể đang phạm giới, có thể chưa chịu tinh tấn tu hành, có thể chưa hiểu rõ kinh điển, có thể đang dạy sai Chánh pháp, có thể đang muốn dẫn chúng ta vào một phim bộ tham sân si nào đó...

Hãy nhớ, Đức Phật dặn dò rất kỹ lưỡng, rằng chúng sinh đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa, mà “hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác...

Chúng ta yêu thương thầy như yêu thương cha mẹ... nhưng hãy luôn luôn nhớ lời Đức Phật dạy rằng “đừng mong mỏi gì nơi Đức Phật nữa” huống gì là mong mỏi nơi các vị thầy. Nếu vị thầy không giữ được chức năng ngón tay chỉ trăng, chúng ta hãy ngưng lại, chớ đi theo, và đừng có nắm theo vạt áo thầy nữa.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 47.9: https://suttacentral.net/sn47.9/vi/minh_chau

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/04/2022(Xem: 5486)
Chúng tôi là những nữ sinh vào lớp đệ thất khi trường Lê Quí Đôn Nha Trang mới mở. Thầy Võ Hồng dạy hai môn Vạn vật và Việt văn, Thầy cũng là người chỉ đạo coi sóc lớp tôi. Thầy thường chạy chiếc velo đen, cao người, thật hiền và rất tế nhị. Thầy biết hết lý lịch và tánh tình từng học sinh trong lớp.
26/04/2022(Xem: 11823)
Lão trượng qua cầu Hoài sao chẳng tới Chân vẫn bước mau Tâm như hư thái
12/04/2022(Xem: 6845)
Môn học về tiếng mẹ đẻ của một dân tộc là giá trị tiêu biểu về tính nhân văn của con người và đất nước đó. Thử mở chương trình học về ngôn ngữ bản xứ của các nước có gia tài đồ sộ về ngôn ngữ và văn chương sẽ thấy rõ ràng sự nhất quán về danh xưng của môn học tiếng mẹ đẻ từ cấp tiểu học đến đại học của xứ đó: Trung Văn (中文), Anh Văn (English), Pháp Văn (Française)... Việt Văn (Ngữ Văn)! Các danh xưng Trung Văn, Anh Văn, Pháp Văn… đều có lịch sử suốt nhiều trăm năm; chỉ riêng lịch sử Ngữ Văn thì phải tính bằng số chục.
11/04/2022(Xem: 6155)
Các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cho rằng Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ niên hiệu Vĩnh Bình đời Hán Minh Đế (58-75) căn cứ vào sự kiện vua nằm mộng thấy một người thân vàng ròng bay vào cung điện. Có vị cận thần tâu đó là đức Phật ở xứ Thiên Trúc - đấng Giác ngộ trên cả trời người. Vua liền sai người đến Tây Vực tìm cầu Phật pháp. Thật ra, Phật giáo vào Trung Quốc trước cả đời Hán Minh Đế. Lúc bấy giờ, Đạo giáo đang rất thịnh hành. Thời điểm này, Phật giáo chỉ thuần là một loại tôn giáo tế tự, học thuyết đặc thù của Phật giáo chỉ là quỉ thần báo ứng, gần với thuật cúng tế, bói toán của Trung Quốc. Vì thế, tăng sĩ Phật giáo cùng hoạt động song hành với các đạo sĩ của Đạo giáo. Tín đồ Phật giáo yêu chuộng cả đạo sĩ của Đạo giáo, nên cả hai đều hoạt động mạnh mẽ trong hoàng tộc, chứ không ảnh hưởng lớn đến dân chúng.
09/04/2022(Xem: 10317)
Mục đích của cuộc thi giải thưởng là khuyến khích việc sáng tác cá nhân, xuất phát từ nguồn cảm xúc đối với các việc xảy ra trong đời sống xã hội hàng ngày, được miêu tả, bằng nhận thức, lý giải và thái độ ứng dụng sống động qua những lời dạy của Đức Phật. Các thể tài có thể gợi ý như là chuyện công ăn việc làm, chuyện gia đình, học đường, chuyện về đại dịch hay chuyện trong nhà ngoài phố.v.v.. Bài tham dự có thể trình bày dưới nhiều hình thức như tác phẩm nghệ thuật, truyện ký, truyện ngắn, tạp bút, thơ… Người viết hoàn toàn tự do chọn đề tài, miễn có liên quan đến tư tưởng Đạo Phật và nội dung có thể chuyển tải được cách ứng dụng giáo lý vào đời sống hàng ngày.
01/04/2022(Xem: 17911)
Nếu có những khúc ngâm đoạn trường trong văn học thi ca làm cho người đọc qua nhiều thế hệ trải mấy nghìn năm vẫn còn cảm xúc đòi đoạn thì Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc là hai khúc ngâm tiêu biểu trong văn chương Việt Nam; cũng như Trường Hận Ca, Tam Lại Tam Biệt và Tần Phụ Ngâm được xem là “tam bi hùng ký” trong văn chương Trung Quốc thời Hậu Đường. Người Việt yêu thi ca thường ưa chuộng dư âm cùng ý vị lãng mạn và bi tráng giàu kịch tính hơn là vẻ bi phẫn và hùng tráng của hiện thực máu xương trong thi ca đượm mùi chinh chiến. Tâm lý nghệ sĩ nầy giúp lý giải một phần câu hỏi còn nằm trong góc khuất văn học là tại sao cho đến nay, hơn cả nghìn năm sau, tác phẩm Tần Phụ Ngâm vẫn chưa có người dịch ra tiếng Việt.
20/03/2022(Xem: 7250)
Với tập sách nhỏ nầy – tác giả không hề nghĩ đó là công trình nghiên cứu; mà chỉ xin được gọi là nén tâm hương, là tấc lòng cảm cựu dâng lên anh linh của người thiên cổ - biểu tỏ sự ngưỡng mộ văn tài và xin được chia sẻ nỗi đau đời, đau người của tiền nhân và hậu học. Sỡ dĩ không gọi là công trình nghiên cứu về Nguyễn Du vì tôi không làm theo hệ thống chương mục của tổng thể tác phẩm, mà chỉ viết theo ngẫu cảm của người đọc đối với mỗi nhân vật trong tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh”, lại nữa; tôi cũng là một cá thể quanh năm đau yếu – khi viết đề tài này là tôi đang nằm tại chỗ, vì xẹp cột sống lưng và bao chứng bệnh khác – phải chăng là đồng bệnh tương lân???
20/03/2022(Xem: 11221)
Những tưởng Ninh Giang Thu Cúc sẽ gác bút sau tập nhận định “Đọc Kiều Thương Khách Viễn Phương” nhưng nào có được - bởi nghiệp dĩ đeo mang nên mới có Kiều Kinh gởi đến quý vị. Với tuổi tác và bệnh trạng – tác giả muốn nghỉ viết để duy dưỡng tinh thần, trì chú niệm kinh và chung sống an yên cùng căn bệnh nghiệt ngã là xẹp cột sống lưng... Thế nhưng; với tiêu chí – còn thở là còn làm việc, tác giả không cam chịu là người vô tích sự vì thế NGTC vẫn viết (dù trong tư thế khó khăn) mong đóng góp chút công sức nhỏ nhoi cho nền Văn học nước nhà.
24/02/2022(Xem: 19768)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
13/02/2022(Xem: 6357)
Gần đây khi nhận được những tập kỷ yếu về các chuyến hành hương (từ các địa điểm tâm linh) gửi tặng từ TT Thích Nguyên Tạng, một lần nữa tôi mới chợt nhận ra tại sao một người tu hay bất cứ một người phàm phu nào cũng cần phải cầu nguyện cho mình có đủ Tam Phước ( Phước vật - Phước đức và Phước Trí ). Trộm nghĩ khi có đủ tam phước rồi thì làm việc gì cũng thành tựu vì đã sử dụng đúng thái độ và cách cư xử của ta trong cuộc sống . Và hạnh phúc là mục đích chính của con người, tiêu biểu cho sự phát triển đầy đủ các đức tính đạo đức của con người ...Nhất là trong Triết lý Phật giáo, hạnh phúc là chủ đề rất quan trọng nghĩa là muốn có hạnh phúc thì phải có bình an ( vật chất lẫn tinh thần ) và nhất định là hạnh phúc này phải phát xuất từ giá trị cuộc sống với sự hoàn thiện nhân cách và luôn giữ 3 nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh.